Bản án số 92/2018/DS-PT ngày 04/05/2018 của TAND tỉnh Kiên Giang

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 92/2018/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 92/2018/DS-PT ngày 04/05/2018 của TAND tỉnh Kiên Giang
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Kiên Giang
Số hiệu: 92/2018/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 04/05/2018
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa anh T1 và bà N
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH KIÊN GIANG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 92/2018/DS-PT
Ngày 04-5-2018
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhiên
Các Thẩm phán: Ông Lê Lâm Sơn
Bà Nguyễn Thị Kim Hường
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Quý - Thư ký a án nhân dân tỉnh Kiên
Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:
Mai Thùy Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét
xử phúc thẩm công khai ván thụ số 37/2018/TLPT-DS ngày 19 tháng 3 năm
2018 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Do Bản án dân sự thẩm số 09/2018/DS-ST ngày 05/02/2018 của Tòa án
nhân dân thành phố R bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 68/2018/QĐ-PT ngày
05/4/2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Thái Văn T1, sinh năm 1980
Địa chỉ: đường C, khu phố D, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Anh Tiêu Tường T2, sinh năm
1975.
Địa chỉ: đường K, phường Q, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (Theo văn bản
ủy quyền ngày 09/4/2018).
- Bị đơn:
1. Bà Nguyễn Thị Bé N, sinh năm 1968
2
2. Ông Mạc Văn H, sinh năm 1969
Cùng địa chỉ: đường T, phường S, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị Bé N.
(Các đương sự anh T1 và bà N có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn anh Thái Văn T1 trình bày: Vào ngày 25/7/2016 bà N vay
của anh số tiền 240.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận bằng miệng 2%/tháng,
N hẹn đến ngày 25/10/2016 sẽ trả hết gốc và lãi cho anh. Sau khi vay, bà N không
thực hiện đúng như thỏa thuận nên anh đã làm đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân
thành phố R để yêu cầu N trả toàn bộ số tiền nêu trên cho anh. Tuy nhiên trong
quá trình giải quyết, ông H chồng bà N đã đứng ra thỏa thuận trả nợ cho anh, cụ
thể: Hai bên thống nhất ông H, bà N còn nợ anh 240.000.000 đồng, không yêu cầu
tính lãi, ông H trả trước 30.000.000 đồng, số tiền còn lại trả mỗi tháng 3.000.000
đồng cho đến khi hết nợ; nên anh đã rút đơn khởi kiện. Sau khi thỏa thuận, ông H
trả được cho anh số tiền 42.000.000 đồng thì ngưng không trả cho đến nay. Nay
anh yêu cầu ông H N trả cho anh số tiền gốc còn lại là 198.000.000 đồng
tiền lãi tính theo quy định của pháp luật kể từ ngày 15/6/2017 đến ngày xét xử.
* Bị đơn bà Nguyễn ThN trình bày: Bà thống nhất lời trình bày của anh
T1 về thời điểm vay, số tiền vay, việc thỏa thuận trả nợ số tiền đã trả. thừa
nhận hiện nay vợ chồng còn nợ anh T1 số tiền 198.000.000 đồng. yêu cầu
được trả dần số tiền trên cho anh T1 mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi hết nợ
và xin được miễn phần lãi.
* Tại bản án thẩm số 09/2018/DS-ST ngày 05/02/2018 của Tòa án nhân
dân thành phố R đã quyết định:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vtranh chấp hợp
đồng vay tài sản đối với bị đơn. Buộc bị đơn ông Mạc Văn H và bà Nguyễn Thị Bé
N cùng chịu trách nhiệm trả nợ cho anh Thái Văn T1 số tiền 209.434.500 đồng.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về án phí, lãi suất chậm trả trong thi
hành án và báo quyền kháng cáo theo hạn luật định.
* Ngày 13/02/2018 bị đơn Nguyễn Thị N đơn kháng cáo yêu cầu
Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết cho chtrả cho ông T1 số tiền 198.000.000
đồng, xin trả dần mỗi tháng là 3.000.000 đồng và xin miễn tiền lãi.
3
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang phát biểu ý kiến: Về việc
tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử những người tham gia tố
tụng trong vụ án từ khi thụ vụ án đến thời điểm nghị án tại phiên tòa phúc thẩm
đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật ttụng dân sự. Về hướng giải quyết vụ
án, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị
Bé N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của
anh Thái Văn T1 là anh Tiêu Tường T2 vắng mặt, tuy nhiên anh T1 mặt đề
nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xvụ án vắng mặt anh T2. Bị đơn ông Mạc
Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không códo,
nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành
xét xử vụ án vắng mặt ông H.
[2] Xét thấy, tại Giấy mượn tiền ngày 25/7/2016 thể hiện N vay của
anh T1 số tiền 240.000.000 đồng, hẹn đến ngày 25/10/2016 trả hết số tiền này (bút
lục 13). Sau khi thỏa thuận, vợ chồng N và ông H trả cho anh T1 được
42.000.000 đồng làm 5 lần, lần cuối vào ngày 15/6/2017, còn nợ lại số tiền
198.000.000 đồng. Nay N cũng thừa nhận còn nợ anh T1 số tiền 198.000.000
đồng, nên theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự thì đây tình
tiết, sự kiện không phải chứng minh. Do đó, cấp sơ thẩm buộc bà N, ông H phải trả
lại cho anh T1 số tiền gốc còn thiếu 198.000.000 đồng tiền lãi 11.434.500
đồng là phù hợp quy định tại Điều 471, 474 Bộ luật dân sự năm 2005.
N kháng cáo yêu cầu xin miễn trả tiền lãi, tuy nhiên tại phiên tòa phúc
thẩm anh T1 không đồng ý với yêu cầu này của N nên Hội đồng xét xử không
có cơ sở để chấp nhận kháng cáo này của bà N.
[3] Xét kháng cáo của N xin trả dần mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến
khi hết nợ, tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm, anh T1 không đồng ý với yêu cầu
này yêu cầu bà N trả một lần cho hết số nợ. Xét thấy, theo quy định tại mục 1
phần III Thông liên tịch số: 01/TTLT ngày 19-6-1997 của Tòa án nhân dân tối
cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ pháp - Bộ Tài chính hướng dẫn việc
xét xử thi hành án về tài sản quy định: Tòa án không ấn định trong bản án,
4
quyết định thời điểm hoặc thời hạn bên nghĩa vụ thi hành án nên Hội đồng xét
xử phúc thẩm không có cơ sở để chấp nhận nội dung kháng cáo này của N. Tuy
nhiên, nếu N thật sự khó khăn về kinh tế tthể làm đơn yêu cầu quan
thi hành án dân sự thẩm quyền xem xét, giải quyết theo quy định của Luật thi
hành án dân sự.
Từ những cơ sở nhận định nêu trên, trong thảo luận và nghị án Hội đồng xét
xử thống nhất ý kiến của Kiểm sát viên, không chấp nhận kháng cáo của N, giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
Về án phí: N kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí
300.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 305, 471, 474 Bộ luật dân sự năm 2005; các Điều 19, 26,
29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí,
lệ phí Tòa án;
Không chấp nhận nội dung kháng cáo của bà Nguyễn Thị Bé N.
Giữ nguyên bản án dân sự thẩm s09/2018/DS-ST ngày 05/02/2018 của
Tòa án nhân dân thành phố R.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Thái Văn T1 về
việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với bị đơn Nguyễn Thị N ông
Mạc Văn H. Buộc Nguyễn Thị N ông Mạc Văn H nghĩa vụ liên đới
chịu trách nhiệm trả nợ cho anh Thái Văn T1 số tiền gốc là 198.000.000 đồng, tiền
lãi là 11.434.500 đồng; tổng cộng 209.434.500 đồng (hai trăm lẻ chín triệu bốn
trăm ba mươi bốn nghìn năm trăm đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của anh T1 cho đến khi thi hành xong
tất cả các khoản tiền, hàng tháng N ông H còn phải chịu khoản tiền lãi của số
tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ
luật dân sự năm 2015.
2. Về án phí:
- Án phí sơ thẩm:
5
Hoàn trả cho anh Thái Văn T1 số tiền tạm ứng án phí thẩm 4.950.000
đồng (Bốn triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu số
0009643 ngày 03/11/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố R, tỉnh Kiên
Giang.
Bà Nguyễn Thị Bé N và ông Mạc Văn H phải chịu án phí sơ thẩm giá ngạch
10.471.725 đồng (Mười triệu bốn trăm bảy mươi mốt nghìn bảy trăm hai mươi
lăm nghìn đồng).
- Án phí phúc thẩm: Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng, được
khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng đã nộp theo biên lai
thu số 0003898 ngày 09/3/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố R, tỉnh
Kiên Giang. Bà N không phải nộp thêm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Nơi nhận: THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
-VKSND tỉnh Kiên Giang;
-TAND thành phố R;
-THA dân sự thành phố R; (Đã ký và đóng dấu)
- Các đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
Nguyễn Thị Nhiên
Tải về
Bản án số 92/2018/DS-PT Bản án số 92/2018/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất