Bản án số 78/2023/DS-PT ngày 09/03/2023 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 78/2023/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 78/2023/DS-PT ngày 09/03/2023 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 78/2023/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/03/2023
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Trần Hồ Thanh T và Nguyễn Trần N tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN N DÂN
TỈNH TÂY NINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 78/2023/DS-PT
Ngày: 09/3/2023
V/v: “Tranh chấp dân sự
về hợp đồng vay tài sản”
N DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN N DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Tuyền.
Các Thẩm phán:
1. Bà Phạm Thị Hồng Vân;
2. Ông Nguyễn Văn Bình.
Thư ký phiên tòa: ông Đặng Minh Huy Thư ký Tòa án N dân tỉnh Tây
Ninh.
Đại diện Viện Kiểm sát N dân
tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: bà
Huỳnh Thị Mộng Thúy- Kiểm sát viên.
Trong các ngày 05/01, 07/3 09/3/2023 tại Tòa án N dân tỉnh Tây Ninh
xét xng khai phúc thẩm ván dân sự thụ số 419/TLPT-DS ngày 07 tháng
11 năm 2022 về việc “Tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự thẩm số 126/2022/DS-ST, ngày 26 tháng 9 năm 2022
của Toà án N dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 437/2022/QĐXXPT-
DS, ngày 08 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Trn H Thanh T, sinh năm 1966; Nơi cư trú: số X, hm
X, đường L, khu ph x, Phường x, thành ph Tây Ninh, tnh Tây Ninh; vng mt.
Người đại din hp pháp của nguyên đơn: anh Trn Quc K, sinh năm
1987; Tti: s x, đường N, khu ph H, phường H, thành ph Tây Ninh, tnh
Tây Ninh (hợp đồng y quyn ngày 20/5/2022); có mt.
- B đơn: anh Nguyn Trn N, sinh năm 1981; Nơi trú: s nhà y, hm y,
đưng V, khu ph y, Phường y, thành ph Tây Ninh, tnh Tây Ninh; vng mt.
2
Người đại din hp pháp ca b đơn: ông Nguyn Hng Q, sinh năm 1950;
Trú ti: khu ph 6, phường 4, thành ph y Ninh, tnh Tây Ninh (hợp đồng y
quyn ngày 27/12/2022); có mt.
Người kháng cáo: anh Nguyn Trn N là b đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 20 tháng 5 năm 2022, quá trình giải quyết vụ án
tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Anh N cháu ruột của Trần Hồ Thanh T, vào khoảng tháng 6-2021,
T đưa cho anh N vay số tiền 175.000.000 đồng, cụ thể lần đầu đưa số tiền
75.000.000 đồng, lần sau đưa số tiền 100.000.000 đồng, không người chứng
kiến, không lập giấy tờ cho vay, hai bên không thỏa thuận lãi suất, khi nào T
cần tiền thì sẽ lấy lại.
Do anh N nợ T stiền 175.000.000 đồng nhưng không giấy nợ, anh
N hẹn nhưng không trả tiền. Bà T có gặp anh N yêu cầu trả nợ anh N kêu bà kiếm
chân hụi để tham gia anh N sẽ trả dần tiền hụi nhưng thực tế anh N không
tham gia góp hụi, T yêu cầu anh N vào giấy nhận tiền hụi ngày 08-3-
2022 là để sau này có chứng cứ khởi kiện anh N số tiền 175.000.000 đồng. Trong
giấy xác nhận hụi số tiền 187.500.000 đồng tính theo con số hụi viên chơi cho
phù hợp với y hụi. Anh N ghi họ tên vào giấy hụi. Sau đó T nhắn
tin yêu cầu anh N trả nợ thì anh N nhắn tin cho T qua Zalo xác nhận: “Còn
thiếu 170tr. Để còn xem, rồi gút lại coi trả dì sau. Chứ còn hụi đó còn k chơi
đâu. Còn k khả năng đống” Thiếu dì 175tr .. bây giờ hàng tháng xem coi
còn bao nhiều thì gửi bấy nhiệu, còn tiền lời thì cứ tính để đó. Khi nào con
trả hêta vốn thì còn sẽ trả tiếp tiê f lời cho dì”. Anh N không trả tiền lãi cho bà T,
số tiền anh N chuyển qua tài khoản của bà T trả khoản tiền nợ khác do cháu
làm ăn với nhau. Bà T xác định, số tiền 175.000.000 đồng là tiền vay, không phải
tiền hụi, yêu cầu anh N trả cho bà T số tiền 175.000.000 đồng, không yêu cầu
tính lãi suất.
B đơn anh Nguyễn Trần N trình bày: Anh không vay tiền của T,
khoảng m 2019-2020 bà T đưa cho anh 03 lần tiền tổng cộng số tiền
175.000.000 đồng nhờ anh đưa tiền cho người khác vay lại, hàng tháng anh giao
tiền lãi cho bà T, không giấy tờ biên nhận giao tiền. Do người ta giật nợ nên
anh nhắn tin qua Zalo cho T hàng tháng anh sẽ trả dần cho T stiền
175.000.000 đồng, lấy tiền được bao nhiêu tôi sẽ trả cho T bấy nhiêu. Nội
dung tin nhắn bà T trình y là đúng và do anh nhắn tin cho T vào ngày
09/5/2022.
Anh không nhận tiền hụi 187.500.000 đồng của bà T, nhưng anh có ký xác
nhận giấy hụi ngày 08-3-2022 cho T là do T nhờ anh giùm cho T. Số
tiền 175.000.000 đng T đưa cho anh để đưa cho người khác mượn, khi nào người
ta tr tin cho anh, anh sẽ gửi tr lại cho T. Anh có giao tini mi tháng khoảng
3
9.000.000 đng đến 10.000.000 đồng, T đã nhn qua tài khon Ngânng t cuối
năm 2019 cho đến tháng 3-2022.
Nay T khởi kiện yêu cầu anh có nga vụ tr số tiền 175.000.000 đồng anh
không đồng ý, chngười ta trli số tin 175.000.000 đng thì anh mi có tiền tr
cho bà T.
Bản án sơ thẩm số 126/2022/DS-ST, ngày 26 tháng 9 năm 2022 của Toà
án N n thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, quyết định:
Căn cứ vào Điều 463, Điều 466 Điều 469 của Bộ luật Dân s2015;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm án phí, lệ phí Tòa án:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Hồ Thanh T đối với anh Nguyễn
Trần N về việc “Tranh chấp dân sự về Hợp đồng vay tài sản”. Buộc anh Nguyễn
Trần N nghĩa vụ hoàn trả cho Trần Hồ Thanh T số tiền 175.000.000 đồng
(Một trăm bảy mươi lăm triệu đồng), ghi nhận bà T không yêu cầu tính lãi suất.
Kể từ ngày bên được thi hành án đơn yêu cầu thi hành án nếu bên phải
thi hành án chưa thi hành xong số tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm số
tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định
tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo cho
các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 06/10/2022 bị đơn anh Nguyễn Trần N đơn kháng cáo đối với
Bản án dân sthẩm số 126/2022/DS-ST ngày 26 tháng 9 m 2022 của Toà
án N dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem
xét lại chứng cứ anh trả tiền cho bà T qua Ngân hàng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện theo ủy quyền của anh N ông Nguyễn Hồng Q trình
bày: anh N giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, không đồng ý trả cho bà T số tiền
175.000.000 đồng, đã chuyển tiền vào tài khoản của T 5700205116302 tại
Ngân hàng từ ngày 13/10/2020 đến 01/3/2022 số tiền 187.700.000 đồng trả
gốc 175.000.000 đồng, lãi 12.700.000 đồng, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa
án theo hướng không chấp nhận yêu cầu của bà T.
Người đại diện theo ủy quyền của T là anh Trn Quc K trình y: T
yêu cầu anh N trả cho T số tiền 175.000.000 đồng, không yêu cầu tính tiền
lãi; sao tiền anh N chuyển khoản qua Ngân hàng vào tài khoản của T từ
ngày 13/10/2020 đến 01/3/2022 số tiền 187.700.000 đồng trả cho khoản vay
khác, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát N dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
- Về tố tụng: vic tuân theo pháp lut ca Thm phán, Hội đồng xét xử, Thư
phiên tòa thc hiện đúng trình tự, th tục theo quy định ca B lut T tng
4
dân sự. Các đương sự thc hiện đúng quyền nghĩa v của mình theo quy định
ca B lut T tng dân s.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo
của anh Nguyễn Trần N, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án N dân thành phố
Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án đã được xem xét tại
phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng
xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng: đơn kháng cáo của anh Nguyễn Trần N làm trong thời hạn
luật định, phù hợp với quy định tại các Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự
nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của anh N cho rằng chuyển vào tài khoản của T trả
xong tiền gốc 175.000.000 đồng tiền lãi nên không đồng ý trả 175.000.000
đồng cho bà T, thấy rằng:
Về thời điểm vay tiền: T cho rằng cho anh N vay tiền vào tháng 6-2021,
số tiền vay 175.000.000 đồng, không m giấy vay tiền. Anh N không thừa
nhận cho rằng khoảng năm 2019-2020 bà T đưa cho anh 03 lần tiền tổng cộng
số tiền 175.000.000 đồng nhờ anh đưa tiền cho người khác vay lại, hàng tháng
anh chuyển khoản trả tiền lãi cho bà T, không giấy tờ giao nhận tiền, anh N
cung cấp chứng cứ trả tiền qua Ngân hàng chuyển tiền vào tài khoản của T
57002051163302 từ ngày 13/10/2020 đến ngày 01/3/2022 số tiền tổng cộng
187.700.000 đồng.
Xét thấy, hai bên khai không thống nhất về thời điểm cho vay tiền, nhưng
hai bên cũng không chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình. Qua
xem xét chứng cứ do Ngân hàng anh N cung cấp trong hbản tài
khoản đối ứng (BL số 53) thể hiện từ ngày 13/10/2020 anh N chuyển khoản tiền
cho T hàng tháng đến ngày 01/3/2022 t ngưng chuyển tin tháng
chuyển tiền nhiều lần. Như vậy, căn cứ xác định đây vay trả lãi theo tháng
và có căn cứ xác định ngày vay sau thời điểm chuyển tiền mt tháng tức ngày
13/9/2020.
Về số tiền trả: người đại diện theo y quyền của anh N cho rằng từ ngày
13/10/2020 đến ngày 01/3/2022 chuyển 15 lần, số tiền tổng cộng là 187.700.000
đồng là trả cho khoản vay gốc 175.000.000 đồng trả lãi, ngoài khoản vay y
không vay, mượn khoản tiền nào khác của T. T, người đại diện theo y
quyền không thừa nhận và cho rằng số tiền chuyển từ ngày 13/10/2020 đến ngày
01/3/2022 tổng cộng là 187.700.000 đồng trả cho khoản vay khác nhưng
5
không chứng cứ chứng minh việc trả cho khoản vay khác nên không căn
cứ chấp nhận.
Về tiền lãi, thời hạn trả: T khai khi cho vay hai bên không thỏa thuận lãi
suất, không thỏa thuận thời hạn trả; anh N khai có chuyển tiền lãi cho bà T hàng
tháng vào tài khoản của T nhưng không xác định được trả mức lãi suất bao
nhiêu. Như vậy, đây trường hợp vay lãi không thời hạn. Các bên không
xác định lãi suất và tranh chấp về tiền lãi nên căn cứ khoản 2 Điều 468
BLDS thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn tại khoản 1
Điều này, như vậy mức lãi là 10%/năm, mỗi tháng là 0,83/%.
Số tiền chuyển vào tài khoản của T tổng cộng 187.700.000 đồng;
người đại diện theo y quyền của anh N cho rằng bao nhiêu tiền thì chuyển
bấy nhiêu không xác định được số tiền nào là trả gốc, số tiền nào trả lãi. T
không chứng cứ chứng minh số tiền anh N chuyển khoản trả cho khoản
vay khác, không chứng cứ chứng minh cho anh N vay tiền vào tháng 6/2021.
Vì vậy, căn cứ vào chứng cứ do Ngân hàng cung cấp là bản tài khoản đối ng
(bút lục số 53) cấp phúc thẩm cần xem xét lại các khoản tiền đã chuyển vào tài
khoản của bà T từ ngày 13/10/2020 đến ngày 01/3/2022, tiền lãi phải trả theo
quy định của pháp luật.
Tiền lãi phải trả theo quy định của pháp luật được tính như sau:
Số tiền 175.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 20 tháng 06 ngày (từ ngày
13/9/2020 đến ngày 20/5/2022) = 29.340.400 đồng.
Tại điểm a khoản 3 Điều 6 của Nghị quyết s 01/2019/NQ-HĐTP ngày
11/01/2019 quy định: đối với hợp đồng vay không kỳ hạn thì thời gian chậm trả
nợ gốc bắt đầu kể từ ngày tiếp theo liền kề của ngày “hết thời hạn hợp lý” đến
ngày xét xử sơ thẩm. Do đó, tiền lãi quá hạn được xem xét tính từ sau ngày bà T
khởi kiện 21/5/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm 26/9/2022 là 04 tháng 05 ngày.
Số tiền 175.000.000 đồng x (0,83%/tháng x150%) x 04 tháng 05 ngày =
9.078.000 đồng.
Tổng cộng tiền lãi 29.340.400 đồng + 9.078.000 đồng = 38.418.400
đồng.
Tiền gốc 175.000.000 đồng + lãi theo quy định của pháp luật là 38.418.400
đồng = 213.418.400 đồng.
Anh N chuyển vào tài khoản của T số tiền 187.700.000 đồng. Bà T
không chứng cứ chứng minh stiền 187.700.000 đồng trả cho khoản vay
khác, nên cần xem xét khấu trừ số tiền đã chuyển khoản vào tiền gốc lãi phải
trả theo quy định của pháp luật, số tiền còn lại buộc anh N nghĩa vụ trả cho bà
T như sau:
Số tiền 213.418.400 đồng - 187.700.000 đồng = 25.718.400 đồng.
6
Buộc anh N có nghĩa vụ trả cho bà T số tiền là 25.718.400 đồng.
Từ những phân tích trên căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo
của anh N, sửa bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án N dân thành phố Tây Ninh, tỉnh
Tây Ninh buộc anh N có nghĩa vụ trả cho bà T số tiền là 25.718.400 đồng. Tòa án
cấp thẩm buộc anh N trả cho T số tiền 175.000.000 đồng chưa phù hợp,
ảnh hưởng đến quyền lợi của anh N.
[3] Đại diện Viện kiểm sát N N tỉnh Tây Ninh đề nghị không chấp nhận
kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm là chưa phù hợp nên không chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: do sửa bản án sơ thẩm nên cần xác định lại án
phí anh N phải chịu là 25.718.400 đồng x 5% = 1.286.000 đồng.
Bà T phải chịu án phí đối với yêu cầu không được chấp nhận là 149.281.600
đồng x 5% = 7.464.000 đồng.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: anh N kháng cáo được chấp nhận, căn cứ
vào khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội anh N không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 463,
466, 468, 469 của Bộ luật Dân sự 2015; Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày
11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm án
phí, lệ phí Tòa án
1. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của anh Nguyễn Trần N.
2. Sửa Bản án dân sự thẩm số 126/2022/DS-ST, ngày 26 tháng 9 m
2022 của Toà án N dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Trần Hồ Thanh T đối với anh
Nguyễn Trần N về việc Tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản”. Buộc anh
Nguyễn Trần N nghĩa vụ trả cho Trần Hồ Thanh T số tiền 25.718.400
(hai mươi lăm triệu bảy trăm mười tám nghìn bốn trăm) đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành xong, bên
phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo
mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS.
3. Về án phí:
3.1 Án phí dân sự sơ thẩm:
Anh Nguyễn Trần N phải chịu số tiền 1.286.000 (một triệu hai trăm m
mươi sáu nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Trần Hồ Thanh T phải chịu số tiền 7.464.000 (bảy triệu bốn trăm sáu
mươi bốn nghìn) đồng tiền án phí dân sự thẩm, khấu trừ o số tiền 4.675.000
(bốn triệu sáu trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí dân sự
thẩm do anh Trần Quốc K đã nộp thay tại Biên lai thu số 0001020 ngày 01-6-
7
2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. T
còn phải nộp thêm số tiền là 2.789.000 đồng.
3.2 Án phí dân sphúc thẩm: Anh Nguyễn Trần N không phải chịu, hoàn
trả cho anh N số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí do ông
Nguyễn Hồng Q nộp thay theo Biên lai thu số 0001413 ngày 17/10/2022 của Chi
cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Ðiều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 9 Luật Thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Ðiều 30 Luật Thi hành
án dân sự.
4. Bản án phúc thẩmhiệu luật pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND tp Tây Ninh;
- CCTHADS tp Tây Ninh;
- Phòng KTNV & THA TAT;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án, lưu trữ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trương Thị Tuyền
Tải về
Bản án 78/2023/DS-PT Tây Ninh Bản án 78/2023/DS-PT Tây Ninh

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án 78/2023/DS-PT Tây Ninh Bản án 78/2023/DS-PT Tây Ninh

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất