Bản án số 76/2020/HSST ngày 25/12/2020 của TAND huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng về tội mua bán trái phép chất ma túy

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 76/2020/HSST

Tên Bản án: Bản án số 76/2020/HSST ngày 25/12/2020 của TAND huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng về tội mua bán trái phép chất ma túy
Tội danh: 251.Tội mua bán trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Quảng Uyên (TAND tỉnh Cao Bằng)
Số hiệu: 76/2020/HSST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/12/2020
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH CAO BẰNG
Bản án số:76/2020/HSST
Ngày 25 tháng 12 năm 2020

- - 
NHÂN DANH

HÒA - 
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- : Bà Phùng Thị Mến.
 Ông Giáp Văn Cương và bà Mã Thị Lưu.
 phiên toà: Bà Mã Thị Diệu - Thư ký Toà án nhân
dân huyện Quảng Hòa.
 tham gia phiên toà:
H1 Thị Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 12 năm 2020, Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao
Bằng xét xử công khai V án hình sự thẩm thụ số 66/2020/HSST ngày
09/11/2020 theo Quyết định đưa V án ra xét xử số 95/2020/HSST-QĐTA ngày
11/12/2020 đối với:
 Nguyễn Văn T, sinh ngày 06/7/1994 tại Bế, Quảng Hòa, Cao Bằng;
nơi ĐKHKTT nơi trú: Xóm N, xã B, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng;
nghề nghiệp: Không nghề; trình độ học vấn 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc:
Tày; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn T1 Nguyễn Thị B; vợ là
Thị T2 và có 01 con sinh năm 2017; tiền án: Không.
Tiền sự: Năm 2017 bị Tòa án nhân dân huyện Phục Hòa ra Quyết định áp
dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.
B cáo T đang bị tm giam ti nhà tm gi công an huyn Qung Hòa t ngày
19/7/2020 Đn nay. Có mt ti phiên tòa.
V liên quan:
1. Nguyễn Thị B, sinh năm 1971;
Địa chỉ: Xóm N, xã B, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng.
2. Bế Đàm Đ, sinh năm 1996;
Địa chỉ: Xóm K, xã C, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng.
Bà B có mặt, anh Đ vắng mặt.
N
1. Hà Doãn H, sinh năm 1978;
2
2. Bế Đàm H1, sinh năm 1994;
Đều trú tại: Xóm Kim Bảng, xã Cai Bộ, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng.
3. Bế Văn V, sinh năm 1978;
Trú tại: Xóm B, xã B1, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng.
4. Bế Ích H, sinh năm 1976;
Trú tại: Xóm B, xã B1, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng.
Những người làm chng đều vng mt.
V ÁN
Theo các tài liệu trong hồ V án diễn biến tại phiên tòa, nội dung V
án được tóm tắt như sau:
Hi 18 gi 20 phút ngày 19/7/2020, t công tác Công an huyn Qung Hòa
phi hp vi Công an B t biên phòng Khui Rung thuộc Đồn Biên phòng
ca khu quc tế Lùng tiến hành kim tra, kim soát ti khu vc ngã ba Cc
Lùng thuc xóm N, B, Qung Hòa phát hiện đối tượng Nguyễn Văn T, trú ti N,
B, Qung Hòa có nhiu biu hin nghi vn nên đã tiến hành kim tra. Qua kim tra
phát hin trong lưỡi trai màu đen của T đang đội trên đầu 01 gói nilon màu
trng bên trong 09 (Chín) gói giy bc đều cha cht bt màu trng, Nguyn
Văn T khai nhn cht bt màu trng trong các gói giy bạc đều là heroine. T công
tác đã tiến hành lp biên bn bắt người phm ti qu tang, thu gi vt chng liên
quan đưa Nguyễn Văn T v tr s Công an huyn Qung Hòa để điu tra làm
rõ.
Hi 21 gi 35 phút cùng ngày, Công an huyn Qung Hòa tiến hành m niêm
phong, cân xác đnh s cht bt màu trng thu gi đưc ca Nguyễn Văn T
tng khối lượng 0,195g (Không phy mt trăm chín mươi năm gam). quan
điều tra đã tiến hành niêm phong toàn b tang vật thu được để gi giám định.
Hi 09 gi 15 phút ngày 20/7/2020, cơ quan điều tra tiến hành khám xét khn
cp ch ca Nguyễn Văn T ti N, B, Qung Hòa, Cao Bng phát hin và thu gi:
Trong hp sắt trên giường ng ca Nguyễn Văn T 01 dao lam; 07 mnh giy bc
đã được ct nh vi nhiu kích thước khác nhau; 01 cân tay t chế cán nha
màu cam, Đ kim loi và mt cc chì.
Tại bản kết luận giám định số 228/GĐMT ngày 30/7/2020 của Phòng Kỹ
thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng bên
trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine.
Tại cơ quan điều tra Nguyễn Văn T khai: Từ ngày 15/7/2020 T được Nguyễn
Văn C người cùng xóm gọi đi làm thuê cho công trình đang xây dựng là nhà ở của
C, việc T đi làm thcho C không lập hợp đồng lao động, C trả công cho T bằng
heroine. Trưa ngày 18/7/2020 sau khi làm việc xong, C trả công cho T 01 gói ma
3
túy (heroine), T nhìn thấy C đi ra từ đống gạch trong nhà đang xây của C nên nghi
ngờ C cất giấu ma túy ở đó. Khoảng 14 giờ cùng ngày, T chuyển vật liệu xây dựng
từ đầu xóm Cốc Lùng Đn nhà đang xây của C, khi Đn nơi chưa thấy ai đấy n
T đã lật các viên gạch trong đống gạch giữa nhà ra để tìm ma túy, khi lật Đn
viên gạch thứ 2 thì thấy 01 lọ nhựa trắng trong suốt, bên trong có các gói giấy bạc
màu vàng, T cầm lọ nhựa cho vào túi quần đi xuống ruộng phía dưới trước nhà
C đổ lọ nhựa ra Đm được 17 (Mười bảy) gói ma túy. Sau đó, T cho toàn bộ số ma
túy vào túi quần đang mặc vứt lọ nhựa ngay tại đó rồi tiếp tục lên nC làm
việc. Chiều về nhà, T xuống dưới sàn nhà của mình lấy số ma túy ra chia thêm 05
gói được gói bằng giấy bạc màu trắng, tổng cộng được 22 (Hai mươi hai) gói.
Trong đó T đã sử dụng hết 06 gói, 09 gói đã bị Công an thu giữ khi bắt quả tang
ngày 19/7/2020, còn lại 07 gói ma túy T đã bán cho những người sau:
- Bán cho Doãn H tti xóm Kim Bng, Cai B, Qung Hòa, Cao Bng
02 (hai) gói ma túy, với giá 200.000đ (hai trăm nghìn đng), c th: Vào khong
21 gi ngày 18/7/2020 khi T đang ngồi b ruộng để trông nước rung cho gia
đình thì thấy H cùng vi Quc Ton cùng trú ti xóm Kim Bng, Cai B,
Quảng Hòa đi xe máy đến H xuống xe và bưc Đến hỏi “Còn hàng không?”, T tr
lời có”, còn T4 cũng đứng ngay cạnh đó. H đưa cho T 200.000đ (Hai trăm nghìn
đồng), T nhn tin ri ly trong túi qun bên phải đang mặc ra 02 (hai) gói ma túy
(heroine) được gói bng giy bạc màu vàng đưa cho H, H nhn ma túy ri cùng
Ton đem ra bờ rung gần đó để s dng.
- Bán cho Bế Đàm H1, trú ti xóm Kim Bng, Cai B, Qung Hòa, 02 gói ma
túy với giá 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đng), c th: Khong 11 gi
ngày 19/7/2020 khi T đang xúc đất ngoài đường tại đầu làng xóm N thì H1 cùng
H đi xe máy Đn, sau đó H1 xuống xe, bước Đn hi T có ma túy không?”, T tr
lời “có” rồi H1 đưa cho T 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng), T nhn tin
rồi đi lấy 02 gói ma túy ct giấu dưới hòn đá l đưng ra đưa cho H1 (trong đó
01 (một) gói đưc gói bng giy bc màu vàng 01 (một) gói được gói bng
giy bc màu trng). Sau khi mua được ma y, H1 H đi về còn T tiếp tc làm
vic.
- Vào khong 13 gi ngày 19/7/2020, T vừa đi từ nhà Hg ti xóm N, B ra
đưng thì gp Bế Văn V, trú ti Bn Bung, B, Qung Hòa. V hỏi đây
không? Ly cho với!”, T tr lời ly tin v đây”. Sau đó T ly t trong túi áo
ngực đang mặc ra 01 gói ma túy được gói bng giy bc màu vàng đưa cho V, V
cm ma túy ri đưa cho T 100.000đ (Một trăm nghìn đng). Sau đó, V đi về còn T
tiếp tc đi vào nhà Hg.
- Khong 15 gi ngày 19/7/2020 khi T đang s dng ma túy trên ghế trong
nhà Hg ti xóm N thì Bế Ích H, trú ti xóm Bn Co, B, Qung Hòa đi vào hi
còn chia cho một ít”, T đáp tiền không?” rồi H đưa cho T 150.000đ (Một
trăm năm mươi nghìn đng). T nhn tin ri ly t trong túi áo ngực bên trái đang
4
mc ra 02 (hai) gói ma túy đưa cho H, trong đó có 01 gói giy bc màu vàng và 01
gói giy bc màu trng. H nhn ma túy ri đi về còn T vn tiếp tc ngi trong nhà
Hg.
Căn cứ vào li khai ca Nguyễn Văn T, hi 08 gi 00 ngày 20/7/2020
quan điều tra tiến hành khám xét khn cp ch , công trình ca Nguyễn Văn C ti
xóm N, B, Qung Hòa, Cao Bng triu tp Nguyễn Văn C để tiến hành xác
minh, điu tra làm rõ. Quá trình khám xét không phát hin và thu gi đồ vt, tài
liu liên quan Đn V án. Tại quan điều tra C tha nhn thuê Nguyn
Văn T vn chuyn vt liu xây dựng để xây nhà t cui tháng 6/2020 và tr công
cho T 200.000đ/ngày công, nếu làm na ngày s tr 100.000đ, C không tha nhn
việc được tr ng cho T bng ma túy, không biết vic T ly ma y đống gch
trong nhà đang xây dng của mình và cũng không biết s ma túy đócủa ai. Quá
trình tiến hành đối cht, T và C vn gi nguyên li khai ca mình.
Những đồ vt thu gi đưc ca Nguyn Văn T qua điều tra làm rõ: 01
ỡi trai màu đen của T để ct giấu ma túy ngày 19/7/2020; 01 điện thoại di động
nhãn hiệu VIVO, màu xanh lam đen T n ca Bế Đàm Đ, trú ti xóm Kim
Bng, Cai B, Qung Hòa; còn s tiền 1.270.000đ (Mt triệu hai trăm bảy mươi
nghìn đồng), trong đó 800.000đ (Tám trăm nghìn đồng) ca Nguyn Th
B m ca T đưa cho để đi mua cám lợn, s tin còn li do T bán ma túy có;
01 lưỡi dao lam và 07 mnh giy bc ca T dùng để chia gói ma túy; còn 01
chiếc cân tay t chế do T nhặt được dọc đường nên mang v nhà, chưa s
dng.
Tại quan điều tra, các đối tượng H, H4, H1, V đều thừa nhận được mua
ma túy với T, lời khai của những người này phù hợp với lời khai của Nguyễn Văn
T về thời gian, địa điểm, số tiền mua bán ma túy.
Tại bản o trạng số 67/CT-VKSQH ngày 06/11/2020, Viện kiểm sát nhân
dân huyện Quảng Hòa - Cao Bng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Mua
n ti phép chất ma yquy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình
sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai, trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo không bị ép
cung, nhục hình, tự nguyện khai o thừa nhận Cáo trạng phản ánh đúng diễn
biến hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đã bán ma túy cho những người có tên như
Cao trạng đã nêu.
Trong phần tranh luận tại phiên a, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân
huyện Quảng Hòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn T như Cáo
trạng, đnghị áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ
luật nh sự; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T t7 năm 6 tháng Đn 8 năm 6
tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Về vật chứng, áp dng khoản 1 Điu 47
B lut Hình s; khon 2 Điu 106 B lut t tng hình s đề nghị xử như sau:
5
Tịch thu tiêu huỷ 01 phong ký hiệu T2”; 01 lưỡi trai màu đen; 01 lưỡi dao
lam 07 mnh giy bc và 01 chiếc cân tay t chế cán nha màu cam. Tch
thu sung công qu Nhà nước s tiền 470.000đ do b cáo bán ma túy mà có. Trả lại
cho Nguyễn Thị B số tiền 800.000đ; trả lại cho Bế Đàm Đ 01 điện thoi di
động nhãn hiệu VIVO, màu xanh lam đen; truy thu s tiền 130.000đ do b cáo bán
ma túy mà có.
Bcáo không tranh luận; tại lời nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình
là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
N NH A A N:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của quan điều tra Công an huyện Quảng Hòa,
Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, Kiểm sát viên trong quá
trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định
của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý
kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện cơ bản đều hợp pháp.
[2] Về các yếu tố cấu thành tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi
phạm tội do bị cáo thực hiện nnội dung bản o trạng của Viện kiểm sát. Li
nhn ti ca b cáo phù hp vi li khai ca những người làm chứng gồm:
Doãn H, Bế Đàm H1, Bế Văn V Bế Ích H4 đã khai tại quan điều tra; phù
hp vi vt chng thu gi ng c tài liu chng c có trong h V án. Vì vy
đủ sở để kết lun: Ngày 18/7/2020 sau khi tìm thấy 17 (Mười bảy) gói ma túy
tại đống gạch trong nhà đang xây dựng của Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn T đã đem
ma túy về nhà chia ra vừa để sử dụng, vừa để bán; cụ thể, trong hai ngày 18
19/7/2020 bị cáo đã bán ma túy cho 04 người gồm: Doãn H, Bế Đàm H1, Bế
Văn V và Bế Ích H. Số ma túy còn lại ngày 19/7/2020 khi khám xét trên người của
T, Công an thu được 0,195gam Heroine.
Như vậy, hành vi ca b cáo Nguyễn Văn T là đã bán ma túy 02 ln tr lên và
bán cho 02 người tr lên phm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy” quy định
tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát
huyện Quảng Hòa, Cao Bằng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo Nguyễn Văn T
nhân thân xấu, nghiện ma túy; 01 tiền sự. Năm 2017 bị Tòa án nhân dân huyện
Phục Hòa ra Quyết định áp dụng biện pháp xử hành chính đưa vào sở giáo
dục bắt buộc. Bị cáo không tình tiết tăng nặng. Tại phiên tòa bcáo thành khẩn
6
khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm
s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình s.
[4] t tính cht V án là rt nghiêm trng,nh vi ca b cáo nguy him cho xã
hi, trc tiếp m phm quyn kim soát qun các cht ma túy của Nhà c.
Ma y là him ha ln ca toàn nhân loại, đã trc tiếp hy hoi cuc sng ca hàng
triu con người hin nay mối đe dọa đối với đời sng xã hội, đất nước. Chính
vậy, Nhà ớc đã có chế i nghiêm khắc đối vi loi ti phm này; b o T biết
tác hi hu qu ca ma túy nhưng đã bất chp pháp lut để mua bán, chứa chấp
sử dụng trái phép chất ma túy vi li c ý, làm ảnh hưởng Đn việc duy trì trật tự trị
an trên địa bàn. Đ giáo dc và n đe bị o, đồng thi góp phn đấu tranh phòng
chng loi ti phm y, thì cn mc án nghiêm khc ơng xứng vi tính cht,
mức độ hành vi phm ti ca b cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bcáo nghiện ma túy, không nghề nghiệp ổn
định do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với
bị cáo.
[6] Đề ngh của đại din Vin kim sát Qung Hòa ti phiên tòa v mc hình
phạt đối vi b cáo cũng như các vấn đề khác liên quan trong V án phù hp vi
quy định ca pháp lut nên Hội đồng xét x chp nhn.
7] Về xử vật chứng: Vật chứng chuyển theo hồ V án hiện nay Chi cục
Thi hành án dân sự huyện Quảng Hòa đang quản theo biên bản giao nhận vật
chứng ngày 09/11/2020. Áp dng khoản 1 Điều 47 B lut Hình s; khon 2 Điu
106 B lut t tng hình s Hội đồng xét xử xử lý như sau:
1.Tịch thu tiêu huỷ 01 phong hiệu “T2” bên trong chứa giấy gói vỏ
niêm phong ban đầu; 01 mũ lưỡi trai màu đen; 01 lưỡi dao lam 07 mnh giy
bc và 01 chiếc cân tay t chế có cán nha màu cam (trong phong bì ký hiu K1).
2. Tch thu sung công qu Nhà nước s tiền 470.000đ (Bốn trăm bảy mươi
ngàn đồng) do bo bán ma túy mà có.
3. Trả lại cho bà Nguyễn Thị B số tiền 800.000đ (Tám trăm nghìn đồng).
4. Trả lại cho Bế Đàm Đ 01 đin thoại di động nhãn hiu VIVO, màu xanh
lam đen.
5. Truy thu s tiền 130.000đ (Một trăm ba mươi nghìn đng) do b cáo bán
ma túy mà có.
[8] Đối với Nguyễn Văn C, ngoài lời khai của Nguyễn Văn T không tài
liệu, chứng cứ nào khác chứng minh việc C trả công cho T bằng ma túy nguồn
gốc số ma túy thu giữ của T số ma túy T bán cho các con nghiện là của C, nên
không có căn cứ để xử lý về hình sự đối với Nguyễn Văn C mrộng điều tra V
án.
[9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự thẩm theo
quy định của pháp luật.
7


 Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma
túy".
 Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều
51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 7 (Bảy) năm 6 (Sáu) tháng tù,
thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 19/7/2020.
Áp dng khoản 1 Điều 47 B lut nh s; khon 2
Điu 106 B lut t tng hình s;
1.Tịch thu tiêu huỷ 01 phong (ký hiệu T2) bên trong chứa giấy gói vỏ
niêm phong ban đầu; 01 mũ lưỡi trai màu đen; 01 lưỡi dao lam 07 mnh giy
bc và 01 chiếc cân tay t chế có cán nha màu cam (trong phong bì ký hiu K1).
2. Tch thu sung công qu Nhà nước s tiền 470.000đ (Bốn trăm bảy mươi
ngàn đồng) do bo bán ma túy mà có.
3. Trả lại cho Nguyễn Thị B, trú tại m N, B, huyện Quảng Hòa, tỉnh
Cao Bằng số tiền 800.000đ (Tám trăm nghìn đồng).
4. Trả lại cho anh Bế Đàm Đ, trú tại Xóm Kim Bảng, Cai Bộ, huyện
Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng 01 điện thoại di động nhãn hiu VIVO, màu xanh lam
đen.
5. Truy thu s tiền 130.000đ (Một trăm ba mươi nghìn đng) do b cáo bán
ma túy mà có.
Xác nhận, Chi cc Thi hành án dân sự huyện Quảng Hòa đang quản tất cả
các vật chứng trên.
4. V Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a
khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường V Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000
đồng (Hai trăm nghìn đồng) để sung công quỹ Nhà nước.
Án xử công khai thẩm, bị cáo B quyền kháng cáo bản án trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án./.
Nơi nhận: 
- Tòa án tỉnh; - 
- Sở tư pháp;
- VKS tỉnh, huyện;
- Công an huyện;
- Cơ quan THA hình sự;
- Trại giam;
- Chi cục THA dân sự huyện;
8
- Bị cáo;
- Lưu: Án văn, THA hình sự và HS.

Tải về
Bản án số 76/2020/HSST Bản án số 76/2020/HSST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất