Bản án số 73/2023/HS-ST ngày 30-11-2023 của TAND huyện Kim Sơn (TAND tỉnh Ninh Bình) về về tội đánh bạc

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 73/2023/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 73/2023/HS-ST ngày 30-11-2023 của TAND huyện Kim Sơn (TAND tỉnh Ninh Bình) về về tội đánh bạc
Tội danh: 321.Tội đánh bạc (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Kim Sơn (TAND tỉnh Ninh Bình)
Số hiệu: 73/2023/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/11/2023
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Nguyễn Văn T, Ninh Thị H, Bùi Văn C, Phạm Văn Đ, Phạm Văn T5, Hoàng Văn V, Đinh Văn C1 và Hoàng Văn D phạm tội đánh bạc
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN K
TỈNH NINH BÌNH
Bản án số: 73/2023/HS-ST
Ngày: 30 - 11 -2023.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHIA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Trần Thị Khanh.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Nghi và bà Trần Thị Lệ Dung.
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Thúy Lan Thư Tòa án nhân dân
huyện K, tỉnh Ninh Bình.
- Đ diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên
a: Ông Trần Quang Toại - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 m 2023, tại trsở Toà án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh
Bình t xử thẩm công khai ván hình sự thẩm thsố 63/2023/TLST- HS
ngày 07 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
67/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 m 2023 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn T, sinh năm 1980 tại huyện K, tỉnh Ninh Bình. Nơi cư trú:
m A, V, huyện K, tỉnh Ninh nh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn
hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam;
con ông Nguyễn Văn N1 (đã chết) Trần Thị H1 bcáo vợ Thị D1
có 04 con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2023.
Tiền án, tiền sự: Không.
Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
2. Ninh Thị H, sinh năm 1987 tại huyện K, tỉnh Ninh Bình. Nơi cư trú: m
7A y, xã C, huyện K, tỉnh Ninh nh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn
hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam;
con ông Ninh Văn H2 và bà Ngô Thị B bị cáo có chồng Phạm Văn T1 và có 02 con,
lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2009.
Tiền án, tiền sự: Không.
Lịch sử bản thân:
+Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03/QĐ-XPVPHC ngày
18/01/2017 của Công an C xử phạt 1.000.000 đồng vè hành vi “Đánh bạc”. Chấp
hành xong ngày 18/01/2017
Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
3. Bùi Văn C, sinh năm 1977 tại huyện K, tỉnh Ninh Bình. Nơi trú: m
Đ, xã V, huyện K, tỉnh Ninh nh; nghề nghiệp: Lao động tự do; tnh độ văn hóa:
9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con
ông Bùi Văn T2 Đinh Thị N2 bị cáo vợ Hoàng Thị Q 03 con, lớn
nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2015.
Tiền án, tiền sự: Không.
Lịch sử bản thân:
2
+ Bản án số 04/2014/HSST ngày 13/3/2014 của Tòa án nhân dân huyện K xử
phạt 6.000.000 đồng và 200.000 đồng án pvề tội Đánh bạc”. Ngày 13/03/2014
chấp hành xong án phí, ngày 09/4/2015 chấp hành xong hình phạt.
Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
4.Phạm Văn Đ, sinh năm 1993 tại huyện K, tỉnh Ninh Bình. Nơi cư trú:m
Đ, xã V, huyện K, tỉnh Ninh nh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa:
9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông
Phạm Xuân L Phạm Thị T3 bị cáo vợ Phạm Thị T4 02 con, lớn
nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2018.
Chức vụ, đảng phái: Đảng viên, Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam hiện
đang sinh hoạt tại Chi bộ xóm Đ, V, huyện K. Quyết định số 43 ngày 13/9/2023
của Ủy ban kiểm tra - Huyện uỷ K đình chỉ sinh hoạt Đảng từ ngày 12/9/2023.
Tiền án, tiền sự: Không.
Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
5. Phạm n T5, sinh năm 1985 tại huyện K, tỉnh Ninh Bình. Nơi trú:
Xóm 5, K1, huyện K, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ n
hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam;
con ông Phạm Văn T6 và Nguyễn Thị M bị cáo vợ Thị X 02 con,
lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2016.
Tiền án, tiền sự: Không.
Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
6. Hoàng n V, sinh m 1978 tại huyện K, tỉnh Ninh Bình. Nơi trú:
m T, xã V, huyện K, tỉnh Ninh nh; nghề nghiệp: Lao động tự do; tnh độ n
hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con
ông Hoàng Văn V1(đã chết) Phạm Thị A bị cáo vợ Phạm Thị H3 04
con, con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2017
Tiền án, tiền sự: Không.
Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
7. Đinh Văn C1, sinh năm 1977 tại huyện K, tỉnh Ninh Bình. Nơi trú:
m Đ, V, huyện K, tỉnh Ninh nh; nghề nghiệp: Lao động tự do; tnh độ n
hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt
Nam; con ông Đinh Văn C2 Nguyễn Thị L1 bị cáo vợ Nguyễn Thị K
03 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2017
Tiền án, tiền sự: Không.
Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
8. Hoàng Văn D, sinh năm 1980 tại huyện K, tỉnh Ninh Bình. Nơi trú:
m T, xã V, huyện K, tỉnh Ninh nh; nghề nghiệp: Lao động tự do; tnh độ n
hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam;
con ông Hoàng Văn V1 (đã chết) Phạm Thị A bị cáo có vợ Lê Thị T7 và có 03
con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2017
Tiền án, tiền sự: Không.
Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Người làm chứng: Anh Trương Văn T8; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
3
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Do mối quan hệ quen biết ttrước, khoảng 15 giờ ngày 28/8/2023, Phạm
Văn T5, Hoàng Văn V, Phạm Văn Đ Bùi Văn C đến nhà Nguyễn Văn T chơi.
Qúa trình ngồi uống nước nói chuyện, T rủ mọi người “Đánh bạc” ăn tiền, tất cả
đồng ý. Đ đi mua 01 bộ lơ khơ 52 quân, T nói với mọi người sang nhà anh
Nguyễn Văn C3, sinh năm 1968 anh trai T (bên cạnh nhà T) do anh C3 đi làm ăn
xa để nhà cho T trông coi, quản đđánh bạc, T sang chơi sau. Sau đó, T5, V, Đ
C sang nhà anh C3 ngồi trên thảm vải đã trải sẵn, đánh bạc được thua bằng tiền
dưới hình thức chơi “Liêng”, đặt cược mỗi ván t 10.000đồng, đánh cao nhất
100.000đồng. Khoảng 30 phút sau, Ninh Thị H đến, tiếp đó 15 phút lần lượt Đinh
Văn C1 Hoàng Văn D đến cùng tham gia đánh bạc. Khoảng 17 giờ, T cùng vào
tham gia đánh bạc với các đối tượng. Đến 17 giờ 30 phút cùng ngày, khi T5, V, Đ,
C, Hồng, C1, D T đang đánh bạc thì bị Công an huyện K phối hợp với Công an
V phát hiện bắt quả tang. Thu gitrên chiếu bạc số tiền 9.540.000đồng, 01 bộ
khơ 52 quân, 01 chiếc thảm vải; thu trong ví da, túi xách đtrên thảm vải số tiền
4.110.000đồng (T5 110.000đồng, H 4.000.000đồng); thu trên người các đối
tượng số tiền 11.000.000đồng, 01 da (V 8.000.000đồng, C 2.400.000đồng,
C1 600.000đồng), 08 điện thoại di động 07 xe các loại (T 01 điện thoại
Samsung Galaxy A6; V 01 điện thoại Oppo A15, 01 xe BKS 35H1-3740; T5
01điện thoại Samsung J7, 01 xe BKS 51S1-9104; C 01 điện thoại Vivo Y16,
01 xe BKS 35N6-1819; Đ 01 điện thoại Samsung Galaxy A12, 01 xe
35B2-18748; H 01 điện thoại Samsung Galaxy A32, 01 xe mô tô BKS 35K1-01416;
C1 01 điện thoại Iphone 6S, 01 xe BKS 35F5-6414; D 01 điện thoại Oppo
A12, 01 xe mô tô BKS 35K1-18335).
Qúa trình điều tra xác định số tiền thu giữ của H, T5 C1 đều sử dụng vào
việc đánh bạc. Như vậy tổng số tiền các b cáo sử dụng vào việc đánh bạc
14.250.000đồng.
Quá trình điều tra các b cáo đã thành khn khai nhn hành vi phm ti ca
bn thân.
Bản Cáo trạng số 72/CT-VKS -KS ngày 04/11/2023 Viện kiểm sát nhân dân
huyện K, tỉnh Ninh nh truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T, Ninh Th H, Bùi Văn C,
Phạm Văn T5, Hoàng Văn V, Hoàng n D, Phạm Văn Đ Đinh n C1 về tội
đánh bạc quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố
như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Ninh Th H, Bùi Văn C, Phạm Văn T5,
Hoàng Văn V, Hoàng Văn D, Phạm Văn Đ và Đinh Văn C1 phạm tội đánh bạc.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1Điều 51; Bộ luật Hình sự đối với
các bị cáo Bùi Văn C.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1Điều 51 Bộ luật Hình sự đối
với các bị cáo Nguyễn Văn T, Ninh Th H, Phạm Văn T5, Hoàng Văn V, Hoàng
Văn D, Phạm Văn Đ Đinh Văn C1. Bị cáo Ninh Thị H, Hoàng Văn V, Hoàng
Văn D, Phạm Văn Đ áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Nguyễn Văn T từ 30 triệu đồng đến 33 triệu đồng.
4
Xử phạt Ninh Thị H, Phạm Văn Đ, Bùi Văn C mỗi bị cáo từ 27 triệu đồng đến
30 triệu đồng.
Xử phạt Phạm Văn T5, Hoàng Văn V, Hoàng Văn D Đinh Văn C1 mi b
cáo t 25 triệu đồng đến 27 triệu đng.
2. Về xử vật chứng áp dụng các biện pháp pháp khác: Căn cứ Điều
106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự:
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 14.250.000đồng do các bị cáo s
dụng đánh bạc.
- Tịch thu tiêu hủy một 01 bộ bài khơ 52 quân, 01 thảm ngồi dạng thảm
vải màu đỏ vàng, hai ví da.
- Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn V số tiền 8.000.000đồng, trả lại cho bị cáo
Bùi Văn C số tiền 2.400.000đồng, trả lại cho Ninh Thị H 01 túi xách nhưng tiếp tục
quản lý để đảm bảo thi hành án.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự Nghị quyết s
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ pTòa án.
Buộc các bị cáo Nguyễn Văn T, Ninh Th H, Bùi Văn C, Phạm Văn T5, Hoàng Văn
V, Hoàng n D, Phạm Văn Đ Đinh Văn C1 phải nộp án phí hình sự thẩm
theo quy định ca pháp luật.
Các b cáo không ý kiến bào chữa, tranh luận xin Hội đồng xét xử
giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa như nội dung cáo trạng, lời khai
nhận của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội
qutang lập lập hồi 17 gi30 phút ngày 28 tháng 08 năm 2023, phù hợp với vật
chứng đã thu giữ đồng thời phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác trong hồ
vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 15 giờ đến 17 giờ 30
phút ngày 28/8/2023, tại xóm A, V, huyện K, tỉnh Ninh nh, Nguyễn Văn T,
Hoàng Văn V, Phạm Văn T5, Bùi Văn C, Phạm Văn Đ, Đinh Văn C1, Ninh Thị H
Hoàng Văn D đã hành vi Đánh bạc” bằng nh thức “Lng” với số tiền
14.250.000 đồng.
Đối chiếu với quy định của pháp luật thì hành vi phạm tội của các bcáo đã
đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc. Tội phạm hình phạt được quy định tại khoản
1,3 Điều 321 Bộ luật Hình sự
“Điều 321. Tội đánh bạc
1.Người nào đánh bạc trái phép ới bất kỳ hình thức nào được thua bằng
tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới
5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành
vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy
định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích còn vi phạm, thì bị
phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ
đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
5
3.Ni phm ti còn có th bị pht tiền t10.000.000đồng đến 50.000.000 đng.
[2] Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng được
pháp luật bảo vệ gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn hội ở địa phương. Các
bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và biết rõ việc đánh bạc sát phạt
nhau bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng các bcáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó cần
có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để giáo dục, cải tạo các
bị cáo đồng thời có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tất cả các bị cáo đều không
tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình s: Sau khi phạm tội tất cả các bị cáo
đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo
Nguyễn Văn T, Hoàng Văn V, Phạm Văn T5, Phạm Văn Đ, Đinh Văn C1, Ninh Thị
H Hoàng Văn D phạm tội thuộc trường hợp phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít
nghiêm trọng. Do vậy cả 7 bị cáo T, V, T5, Đ, C1, Hồng và D đều được áp dụng các
tình tiết giảm nhđược quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị
cáo Bùi Văn C được hưởng tình tiết giảm nhẹ người phạm tội thành khẩn khai báo
ăn năn hối cải được quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo
Phạm Văn Đ đã thời gian phục vụ trong quân ngũ. Bị Cáo Ninh Thị H bố
được thưởng huân chương C1 công hạng ba. Bị cáo Hoàng Văn V Hoàng Văn D
bố được tặng thưởng Huân chương kháng C1 chống Mỹ cứu nước. Nên các bị
cáo H, Đ, V, D được hưởng thêmnh tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại
khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Về nhân thân và vị trí, vai trò của các bị cáo:
Đây vụ án nhiều bị cáo tham gia nhưng không sự bàn bạc thống nhất
phân công vai trò trách nhiệm cho từng bị cáo mà là vụ án đồng phạm mang tính
giản đơn nên khi xem xét, quyết định hình phạt cũng cần phân tích đánh giá tính
chất vai trò, trách nhiệm của từng bị cáo để cả thể hóa mức hình phạt cho phù hợp:
Bị cáo Nguyễn Văn T là người khởi sướng việc đánh bạc, dùng nhà của anh trai
mình cho các đối tượng sử dụng để đánh bạc, bản thân bcáo cũng trực tiếp tham
gia nhiệt tình đánh bạc cùng với các đối tượng khác mặc tham gia sau nhưng
cũng tham gia chơi cho đến khi bị bắt quả tang, như vậy bị cáo đóng vai trò cao nhất
trong vụ án.
Giữ vai trò thứ hai trong vụ án án các bcáo Ninh Thị H, Phạm Văn Đ
Bùi Văn C. Mặc không tham gia sát phạt ngay từ đầu nhưng bị cáo H số tiền
sử dụng vào việc đánh bạc nhiều nhất trong các bị cáo. Bị cáo Đ số tiền đánh
bạc ít nhưng người trực tiếp đi mua bộ bài khơ tham gia sát phạt ngay từ
đầu cho đến khi bị bắt quả tang. Bị cáo C nhân thân xấu. Như vậy xét về vai trò
của ba bị cáo H, Đ C là ngang nhau trong vụ án và thấp hơn bị cáo T và cao hơn
các bị cáo còn lại.
Đối với bị cáo Hoàng Văn V, Phạm Văn T5, Hoàng n D Đinh Văn C1.
C bn b cáo đều s tiền đánh bạc tương đương nhau ít hơn các b cáo khác,
hai b cáo D C1 vào tham gia đánh bạc sau cùng. Như vy vai trò ca c b cáo
V, T5, D, C1 là ngang nhau và thấp hơn các bị cáo khác trong v án.
6
Xét tính chất vai trò, nhân thân của các bị cáo thì tất cả các bị cáo đều không
có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú ổn địnhràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự. Bản thân các bị cáo đều đang công ăn việc làm ổn định tạo ra của
cải vật chất cho gia đình hội, việc các bị cáo đánh bạc là do ham vui, nhất
thời phạm tội. Hội đồng xét xử nhận thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra
khỏi đời sống hội áp dụng mức hình phạt chính bằng tiền đối với các bị cáo
cũng đủ điều kiện răn đe, giáo dục các bị cáo tác dụng đấu tranh phòng ngừa
chung.
[6] Về xvật chứng áp dụng biện pháp pháp: 08 điện thoại di động
và 06 xe mô tô các loại là tài sản của các bị cáo không sử dụngo việc đánh bạc nên
Cơ quan - C3 sát điều tra Công an huyện K đã trả lại cho các bị cáo.Đối với xe mô tô
BKS 51S1-9104 thu giữ của Nguyễn Văn T5, qua điều tra chưa xác định được chủ
sở hữu nên quan CSĐT - Công an huyện K đã tách phần tài liệu liên quan đến
chiếc xe để tiếp tục điều tra, xác minh xửsau.
Việc xử vật chứng của quan C3 sát điều tra Công an huyện K đã đúng
về trình tự, thủ tục thẩm quyền do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Những vật chứng còn lại của vụ án căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và
Điều 47 Bộ luật Hình sự xử lý như sau:
- Đối với số tiền 14.250.000đ do các bị cáo sử dụng đánh bạc nay cần tịch thu
sung ngân sách nhà nước.
- Số tiền 8.000.000đ thu giữ của bị cáo Hoàng Văn V 2.400.000đ thu giữ
của bị cáo Bùi Văn C do không liên quan đến việc phạm tội nay cần trả lại cho các
bị cáo nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
- Đối với 01 bộ bài khơ 52 quân; 01 thảm ngồi, dạng thảm vải màu đỏ
vàng các bị cáo sử dụng để đánh bạc nay không còn gtrị sử dụng nay cần tịch thu
tiêu hủy.
- 01 da thu giữ của bị cáo T5; 01 da thu giữ của bị cáo C tại phiên tòa
các bị cáo xác định do không còn giá trị sử dụng không đề nghị nhận lại nên tịch
thu tiêu hủy .
01 túi ch của bị cáo H không liên quan đến việc phạm tội. Tại phiên a bị
cáo đề nghị nhận lại nên nay trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi
hành án.
[7] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Ttụng hình sự Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí
Tòa án. Các bị cáo T, V, D, T5, Đ, C, H, C1 là những người bị kết án nên mi bị cáo
phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách nhà nước.
[8] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định
tố tụng của quan Điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân
dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về
thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều
tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố
tụng của quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp
pháp.
7
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị
cáo Bùi Văn C.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối
với các bị cáo Nguyễn Văn T, Phạm Văn T5, Đinh Văn C1.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình
sự đối với các bị cáo Ninh Thị H, Phạm Văn Đ, Hoàng Văn V, Hoàng Văn D.
Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí
Tòa án.
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Ninh Thị H, Bùi Văn C, Phạm Văn Đ,
Phạm Văn T5, Hoàng Văn V, Đinh Văn C1, Hoàng Văn D phạm tội đánh bạc.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 32 (ba mươi hai) triệu đồng sung ngân sách nhà
nước.
Xử phạt bị cáo Ninh Thị H 30 (ba mươi) triệu đồng sung ngân sách nhà nước.
Xử phạt bị cáo Bùi Văn C 30 (ba mươi) triệu đồng sung ngân sách nhà nước.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ 30 (ba mươi) triệu đồng sung ngân sách nhà nước.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn T5 27 (hai mươi bảy) triệu đồng sung ngân sách nhà
nước.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn V 27 (hai mươi bảy) triệu đồng sung ngân sách nhà
nước.
Xử phạt bị cáo Đinh Văn C1 27 (hai mươi bảy) triệu đồng sung ngân sách nhà
nước.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn D 27 (hai mươi bảy) triệu đồng sung ngân sách
nhà nước.
2.Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 14.250.000đ do các bị cáo sử dụng
đánh bạc.
- Tịch thu tiêu hủy một 01 bộ bài khơ 52 quân; 01 thảm ngồi dạng thảm
vải màu đỏ vàng. 01 ví da thu giữ của bị cáo T5; 01 ví da thu giữ của bị cáo C.
- Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn V số tiền 8.000.000đ nhưng tiếp tục quản
để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại cho bị cáo Bùi Văn C số tiền 2.400.000đ nhưng tiếp tục quản để
đảm bảo thi hành án.
- Trả lại cho bị cáo Ninh Thị H mt túi ch nhưng tiếp tục quản để đảm
bảo thi hành án.
( Chi tiết vật chứng đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 07
tháng 11 năm 2023 giấy ủy nhiệm chi chuyển khoản, chuyển tiền điện tử ngày 14
tháng 11 năm 2023 giữa Công an huyện K với Chi cục Thi hành án dân sự huyện K,
tỉnh Ninh Bình).
8
3.Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn T, Ninh Thị H, i Văn C, Phạm
Văn Đ, Phạm Văn T5, Hoàng Văn V, Đinh Văn C1, Hoàng Văn D. mỗi bị cáo phải
nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách nhà nước.
Án xử thẩm công khai c bị cáo mặt quyền kháng cáo trong thời hạn
15 ngày ktừ ngày tuyên án (ngày 30 tháng 11 năm 2023).
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật
Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tnh Ninh Bình; 01 bn
- VKSND huyn K: 01 bn
- Công an huyn K: 01 bn
-Chi cc Thi hành án Dân s huyn
K: 01 bn
- Đảng bộ xã V, huyện K: 01 bn
- B cáo; 8 bn
- Lưu VP, Hồ sơ vụ án: 02 bn
T/M HỘI ĐỒNG XÉT X SƠ THẨM
Thm phán- Ch ta phiên tòa
ã ký)
Trn Th Khanh
Tải về
Bản án 73/2023/HS-ST Ninh Bình Bản án 73/2023/HS-ST Ninh Bình

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án 73/2023/HS-ST Ninh Bình Bản án 73/2023/HS-ST Ninh Bình

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất