Bản án số 70/2022/HS-ST ngày 30/06/2022 của TAND huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai về tội đánh bạc

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 70/2022/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 70/2022/HS-ST ngày 30/06/2022 của TAND huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai về tội đánh bạc
Tội danh: 248.Tội đánh bạc (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Vĩnh Cửu (TAND tỉnh Đồng Nai)
Số hiệu: 70/2022/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/06/2022
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH CỬU
TỈNH ĐỒNG NAI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 70/2022/HS-ST
Ngày 30/6/2022
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Ngọc Cúc
- Bà Vũ Thị Hảo
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Quang Tuyến Thư ký Tòa án của Tòa án
nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham
gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2022 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện
Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xét x sơ thmng khai
v án hình sự sơ thẩm
th s:
49/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 5 m 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra t xử
số: 59/2022/XXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2022 Quyết định hoãn phiên
tòa số 260/2022/HSST-QĐ ngày 16 tháng 6 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Phan Văn N, sinh ngày 01/01/1952, tại tỉnh Bến Tre; Nơi trú: Ấp B,
xã P, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 05/12; dân
tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan
Văn L (đã chết) và bà Lâm Thị T (đã chết); có vợ tên Võ Thị N và 02 con;
Tiền án:
+ Ngày 18/12/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu xử phạt
15.000.000 đồng về tội Đánh bạc; nộp sung công 3.400.000 đồng 200.000 đồng
án phí hình sự thẩm. Bị cáo đã nộp án phí 200.000 đồng đóng phạt 5.000.000
đồng, phần còn lại 13.400.000 đồng chưa thi hành.
+ Ngày 21/9/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu xử phạt 08 tháng
tội “Đánh bạc”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 20/7/2021 đóng
án phí hình sự sơ thẩm ngày 26/11/2020.
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
2
+ Bản án số 30/2008/HSST ngày 27/5/2008, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh
cửu xử phạt 01 năm nhưng cho hưởng án treo vtội Đánh bạc, phạt bổ sung
4.500.000 đồng 50.000 đồng án phí hình sự thẩm. Bị cáo đã chấp hành xong
các quyết định của bản án.
+ Bản án số 30/2017/HSST ngày 28/6/2017, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh
Cửu xphạt 03 tháng tù về tội Đánh bạc và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo đã chấp hành xong các quyết định của bản án.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/12/2021 đến ngày 22/12/2021 chuyển tạm
giam đến nay (Có mặt).
2. Nguyễn Thị M, sinh năm 1970, tại tỉnh Quảng Nam; Nơi đăng thường
trú: Ấp 4, P, huyện V, tỉnh Đng Nai; Nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn:
8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông
Nguyễn Ph (đã chết) bà Nguyễn Thị L (còn sống); chồng Đặng Văn T và có
04 con; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm gitngày 16/12/2021 đến ngày 22/12/2021 thì được thay
đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
3. Bùi Thị Thanh T, sinh năm 1989, tại tỉnh Đồng Nai; Nơi đăng thường
trú: Ấp 4, P, huyện V, tỉnh Đng Nai; Nghề nghiệp: không; trình độ học vấn:
9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông
Bùi Đ B (còn sống) Thị S (còn sống); 02 con; tiền án: Không; tiền
sự: Không.
Nhân thân: Ngày 31/12/2021 bTòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh
Đồng Nai xử phạt 25.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”.
Bị cáo bị tạm gitngày 16/12/2021 đến ngày 17/12/2021 thì được thay
đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
4. Đặng Thành Đ, sinh năm 1975, tại tỉnh Đồng Nai; Nơi đăng ký thường
trú: Ấp 1, P, huyện V, tỉnh Đng Nai; Nghề nghiệp: không; trình độ học vấn:
00/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam;
con ông Đặng Văn D (còn sống) bà Võ Thị B (còn sống); có vNguyễn Thị N
và có 04 con; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 27/8/2020 bị ng an huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xử
phạt 1.500.000 đồng về tội “Đánh bạc”, đã nộp phạt ngày 21/9/2020.
Bị cáo bị tạm gitngày 16/12/2021 đến ngày 22/12/2021 thì được thay
đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
5. Thị L, sinh năm 1969, tại tỉnh Đồng Nai; Nơi đăng thường trú:
Ấp 2, xã P, huyn V, tỉnh Đng Nai; Nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 00/12;
dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Văn
S (đã chết) và bà Võ Thị B (đã chết); có chồng Trần Văn N 05 con; tiền án:
Không; tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại (Có mặt).
3
* Người làm chứng:
- Nguyễn Xuân G, sinh năm 1973
Địa chỉ: Ấp 4, xã P, huyện V, tỉnh Đng Nai (vng mặt).
- Võ Thị N, sinh năm 1953
Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện V, tỉnh Đồng Nai (có mt).
- Ông Trần Văn N, sinh năm 1989
Địa chỉ: Ấp 2, xã P, huyện V, tỉnh Đng Nai (có mặt).
- Bà Phan Thị H, sinh năm 1956
Địa chỉ: Ấp L 2, xã P, huyện V, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
- Ông Trần Song H, sinh năm 1965
Địa chỉ: Ấp 3, xã P, huyện V, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 16/12/2021, Phan Văn N Đặng Thành Đ gặp nhau
ngoài đường, Đ biết N hay đánh bạc nên hỏi chỗ nào đánh bạc thì N trả lời
chiều nay sẽ vào cao su ở ấp 3, xã PLý huyện Vĩnh Cửu đánh bạc, đồng thời
N chỉ đường cho Đ. Khoảng 14 giờ ng ngày, N Nguyễn Thị M vào uống
nước tại quán của Võ Thị L. Qua trao đổi trò chuyện giữa N M thì L biết được
N M sẽ vào khu vực lô cao su thuộc ấp 3, xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu cách
nhà L khoảng 01km để đánh bạc. L than phiền do dịch bệnh nên buôn bán ế ẩm,
đồng thời xin N cho vào sòng bạc để bán nước cho các con bạc, N đồng ý. Sau
đó, N và M đi vào sòng bạc trước, L chuẩn bị khoảng 15 chai nước giải khát gồm
sâm, hạt é 03 vỏ bao xác rắn bỏ vào giỏ xách đan bằng cói để đem vào sòng
bạc. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, Đặng Thành Đ ghé quán L uống nước
nói sẽ đi vào sòng bạc, L nhờ Đ chở L cùng vào sòng bạc.
N và M o lô cao su thuộc ấp 3, Phú Lý thấybãi đất trống nên dừng
lại chọn địa điểm chờ những người khác đến để đánh bạc. Mai gọi điện rủ Bùi Thị
Thanh T vào đánh bạc, T đồng ý. Đ chở L đến sòng bạc, L lấy bao xác rắn trải đ
ngồi bán nước thì Nguyễn Thị M hỏi mượn bao. L nhìn thấy M lấy trong người
dụng cụ đánh bạc (gồm 03 hột xúc xắc, chén, đĩa), đồng thời biết M hỏi mượn bao
là dùng vào việc đánh bạc, nhưng L vẫn đưa cho Mai 03 bao xác rắn. M dùng 01
cái lót ngồi, 02 bao còn lại trải ra trước làm chiếu bạc chờ các con bạc đến đánh
bạc. Lúc này M đưa cho L 100.000 đồng mua 01 chai nước ngọt và cho số tiền
còn lại để cảm ơn L cho mượn bao xác rắn. Sau đó Bùi Thị Thanh T một số
đối tượng khác đến. Nguyễn ThM làm cái đánh bạc hình thức Tài - Xỉu” ăn
thua bằng tiền với Phan Văn N, Bùi Thị Thanh T, Đặng Thành Đ một số đối
tượng (không rõ họ tên, địa chỉ).
4
Cách thức đánh bạc bằng hình thức “Tài - Xỉu” như sau: Người làm cái sử
dụng 03 hột ngầu 06 mặt, mỗi mặt tương ứng số nút từ 01 đến 06; người làm
cái đặt 03 hột ngầu lên đĩa dùng nắp nhựa đậy lại rồi lắc. Nếu tổng số nút
của 03 hột ngầu từ 03 đến 10 điểm gọi “Xỉu”, từ 11 đến 18 điểm gọi
“Tài”. Sau khi lắc kết quả ra “Tài”, người làm cái lấy tiền bên “Xỉu” chung cho
bên “Tài” tương ứng số tiền đặt cược, nếu thiếu thì cái bỏ tiền ra chung, tiền dư
cái được hưởng. Trường hợp kết quả ra Xỉu” thì người làm cái thực hiện tương
tự như “Tài”. Nếu 03 hột ngầu số nút giống nhau thì gọi “Bão”, trường
hợp “Bão” số nút 03 hột xí ngầu đều là “1” hoặc “2” hoặc “3” tngười làm cái
sẽ ăn bên Tài”; “Bão” số nút 03 hột ngầu đều là 4” hoặc “5” hoặc 6” thì
người làm cái ăn bên “Xỉu” không phải chi trcho bên còn lại. Đặt trúng sẽ
được thắng bạc bằng giá trị đã đặt, ngược lại sẽ thua tiền đã đặt cược. Mỗi ván
người chơi đặt cược số tiền từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng. Nguyễn Thị M sử
dụng bao xác rắn làm chiếu bạc và quy định bên phải Mai là Tài, bên trái là Xỉu.
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 16/12/2021 thì lực lượng Công an huyện Vĩnh
Cửu phát hiện lập biên bản phạm tội quả tang đối với Nguyễn Thị M, Phan Văn
N, Bùi Thị Thanh T, Đặng Thành Đ, còn một số đối tượng khác chạy thoát.
Tang vật thu giữ:
- Thu tại chiếu bạc: số tiền 12.850.000 đồng, 01 nắp nhựa đường nh 07cm,
01 đĩa sứ đường kính 09cm, 03 hột ngầu, 03 bao xác rắn.
- Thu giữ trên nời các đối ợng:
+ Thu trên người Đặng Thành Đ: số tiền 1.850.000 đồng, 01 điện thoại di
động hiệu Nokia màu đen.
+ Thu trên người Bùi Thị Thanh T: số tiền 10.030.000 đồng, 01 điện thoại di
động hiệu Vivo 1916
+ Thu trên người Phan Văn N: số tiền 3.080.000 đồng, 01 điện thoại di động
hiệu OPPO A31 màu đen.
+ Thu trên người Nguyễn Thị M: 01 điện thoại di động hiệu Nokia TA-1010
u đen 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S.
+ Võ Thị N 30.000 đồng;
+ Phan Thị H 4.650.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Nokia 230;
+ Võ Thị L 2.100.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Forme màu hồng;
+ Trần Văn N 2.130.000 đồng, 01 điện thoại di động Nokia màu trắng đen;
+ Nguyễn Xuân G 20.800.000 đồng, 01 điện thoại di động Samsung Galaxy
J5 màu trắng.
- Thu tại hiện trường vụ đánh bạc:
+ Xe biển số 60B9-102.57, kết quả xác minh xác định: chị Nguyễn
Thị Thanh T - sinh năm 1983 ngụ ấp 2, xã Phú chủ sở hữu. Chị T bán cho
Lê Văn N - sinh năm 1991 ngụ ấp 2, xã Phú Lý (hiện chưa làm việc được với N).
5
N cầm xe trên tại tiệm cầm đồ của anh Trần Bội B - sinh năm 1960 ngụ ấp lịch
1, Phú nhưng quá hạn không đến chuộc xe, nên anh B thanh bán cho
Phan Văn N. Ngày 16/12/2021, Phan Văn N đi xe mô tô trên đến sòng bạc.
+ Xe mô tô biển số 60B8-238.65 do Trần Đoàn Đức T - sinh năm 1976 địa
chỉ khu phố 4, thị trấn T, huyện T chủ sở hữu. Năm 2019, Nguyễn Thị M mua xe
trên của một người không nhớ tên tuổi (không làm giấy tờ mua bán, không sang
tên). Ngày 16/12/2021, Nguyễn Thị M đi xe mô tô trên đến sòng bạc.
+ Xe mô tô biển số 60B9-628.26 do Đặng Văn H - sinh năm 1993, ngụ ấp
Lịch 2, Phú chủ sở hữu. Ngày 16/12/2021, H không biết T mượn xe của
H sử dụng đi đánh bạc.
+ Xe mô tô biển số 60Z6-97.57, số khung LGXCHL03Y1080858, không
có số máy. Qua xác minh biển số xe và số khung, số máy không phù hợp, không
xác định được chủ sở hữu. Đ khai lúc mua lại của 01 người (không nhớ họ tên,
địa chỉ), xe không có giấy tờ, không làm thủ tục mua bán.
+ Xe mô tô biển số 53S3-1997 không có số khung, không có số máy. Trần
Văn N khai mua xe của một người không rõ lai lịch, khi mua không làm giấy tờ
mua bán, không có giấy chứng nhận đăng ký xe.
+ Xe biển số 60B4-374.72 do Đỗ Thị C - sinh năm 1947 địa chỉ
tổ 8, ấp 7, T, huyện Đ chủ sở hữu. Năm 2015, bà C bán xe cho Nguyễn Xuân
G nhưng không có giấy tờ mua bán và không làm thủ tục sang tên.
+ Xe biển số 72C1-428.36 số khung RLHJC5230Y473807, s
máy: JC52E-5155248. Qua tra cứu xe biển số số máy, số máy không phù
hợp, không xác định được chủ sở hữu. Thị N khai nhận mua của một người
không rõ lai lịch, không làm thủ tục mua bán, sang tên.
+ Xe mô kiểu JUPITER biển số 60N3-1443, số khung 012012, số máy
012012 do Nguyễn Thị Cẩm V địa chỉ ấp T, xã B, huyện Trảng Bom chủ sở hữu.
Qua xác minh không có người tên như trên nên không xác định được ai là người
quản lý, sử dụng.
+ Xe Dream II không biển số, số khung RLPDCHDUM 98001890,
số máy ZS 110FMH 712001864 không xác định được chủ sở hữu.
+ Xe mô tô Dream không biển số, số khung LF3XCG502-XA028170, số
máy VTTJL 1P52FMH-L001-1821, không xác định được chủ sở hữu.
quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu đã giao trả tiền tài
sản cho chủ shữu vì không liên quan đến hành vi phạm tội, cụ thể:
- Xe mô tô biển số 60B9-628.26 cho Đặng Văn H.
- Nguyễn Xuân G 20.800.000 đồng, điện thoại di động Samsung Galaxy J5
màu trắng, xe mô tô biển số 60B4-374.72.
- Thị N 30.000 đồng; Phan Thị H 4.650.000 đồng, 01 điện thoại di động
hiệu Nokia 230; Võ Thị L 01 điện thoại di động hiệu Forme màu hồng; Trần Văn
N 2.130.000 đồng, 01 điện thoại di động Nokia màu trắng đen.
6
+ Đối với các xe biển số 60B9-102.57 thu giữ của Phan Văn N; xe
biển số 60B8-238.65 thu gicủa Nguyễn Thị M; xe biển số 60Z6-
97.57 thu giữ của Đặng Thành Đ; xe biển số 53S3-1997 thu giữ của Trần
Văn N; xe biển số 72C1-428.36 thu giữ của Thị N; 03 xe mô kiểu
JUPITER biển số 60N3-1443, số khung 012012, số máy 012012; mô kiểu dáng
Dream II không biển số, skhung RLPDCHDUM 98001890, số máy ZS 110FMH
712001864; xe Dream không biển số, số khung LF3XCG502-XA028170,
số máy VTTJL 1P52FMH-L001-1821 (do các đối tượng đánh bạc bỏ lại không
xác định được chủ sở hữu), đề nghị quan Cảnh sát điều tra chuyển giao cho
Công an huyện Vĩnh Cửu tiếp tục làm rõ, xử lý theo quy định pháp luật.
Kết quả điều tra xác định số tiền của từng đối tượng sử dụng đánh bạc cụ
thể như sau:
- Nguyễn Thị M sử dụng 2.000.000 đồng làm cái đánh bạc với Phan Văn
N, Bùi Thị Thanh T, Đặng Thành Đ một số đối tượng khác, thua 850.000 đồng,
khi bị bắt giữ ném tại chiếu bạc.
- Phan Văn N sử dụng 3.080.000 đồng đánh bạc, không thắng, không thua.
- Đặng Thành Đ sử dụng 1.200.000 đồng đánh bạc, thắng 650.000 đồng.
- i Thị Thanh T sử dụng 700.000 đồng đánh bạc, thắng 200.000 đồng,
khi bị bắt giữ ném số tiền 900.000 đồng vào chiếu bạc.
Tổng số tiền các đối tượng sử dụng đánh bạc 17.780.000 đồng (chiếu bạc
12.850.000 đồng + N 3.080.000 đồng + Đ 1.850.000 đồng).
Quá trình điều tra xác định tại sòng bạc gồm có Võ Thị N (vợ N) chở theo
Phan Thị H đến gọi N về; Nguyễn Xuân G đến tìm Bùi ThThanh T đđòi tiền
nợ; Trần Văn N đến gọi L về nhà. Các đối tượng này không tham gia đánh bạc
nên không xử lý.
Lời khai Thị L xác định Nguyễn Xuân G tham gia đánh bạc; lời khai
Bùi Th Thanh T xác định Th N tham gia đánh bạc, ngoài các li khai này
không tài liu chng c khác chng minh, Giang Ninh không tha nhn nên
không đủ căn cứ xử lý đối với Giang và Ninh.
Cáo trạng số 59/CT-VKSVC ngày 18/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân
huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Phan Văn N về tội Đánh bạc” theo
quy định tại điểm d khoản 2 Điều 321 của Bộ luật hình snăm 2015 (Sửa đổi, bổ
sung năm 2017); Nguyễn Thị M, Đặng Thành Đ, Bùi Thị Thanh T, Thị L về
tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015
(sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phát biểu
luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết
tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
7
+ Bị cáo Nguyễn Thị M; Đặng Thành Đ, Thị L: Phạm tội lần đầu và thuộc
trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải các tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật
hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017)
+ Bị cáo Phan Văn N: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người phạm tội
là người đủ 70 tuổi trở lên tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại
điểm s, o khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm
2017).
+ Bị cáo Bùi Thị Thanh T: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội
thuộc trường hợp ít nghiêm trọng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy
định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi,
bổ sung năm 2017).
Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 321; điểm s, o khoản 1 Điều 51, Điều 38, 58
của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo Phan
Văn N phạm tội Đánh bạc, đề nghị xử phạt bị cáo N từ 03 (ba) năm đến 03 (ba)
năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2021.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38,
Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên b bị
cáo Bùi Thị Thanh T phạm tội Đánh bạc, đề nghị xphạt từ 06 (sáu) tháng đến
08 (tám) tháng tù.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35, Điều 58
của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố các bị cáo
Nguyễn Thị M; Đặng Thành Đ, Võ Thị L phạm tội Đánh bạc, đề nghị xử phạt:
+ Bị cáo Nguyễn Thị M số tiền 40.000.000 đồng đến 45.000.000 đồng.
+ Bị cáo Đặng Thành Đ số tiền 35.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35, Điều 58,
Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị
cáo Võ Thị L phạm tội Đánh bạc, đnghị xử phạt stiền 10.000.000 đồng đến
15.000.000 đồng.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi,
bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 nắp nhựa, đường kính 07cm; 01 đĩa sứ đường kính
09cm; 03 hột xí ngầu, 03 bao xác rắn là dụng cụ sử dụng để đánh bạc.
+ Tch thu sung vào ngân sách nhà nước 17.780.000 đồng; 01 điện thoại di
động hiệu Vivo 1916 của Bùi Thị Thanh T, 01 điện thoại Nokia TA-1010 màu
đen của Nguyễn Thị M (sử dụng để đánh bạc).
+ Trả lại Đặng Thành Đ 01 điện thoại di động Nokia TA-1010 màu đen;
Bùi Thị Thanh Thuý 10.030.000 đồng, Phan Văn N 01 điện thoại di động hiệu
8
OPPO A31 màu đen, Nguyễn ThM 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S,
Thị L 2.100.000 đồng vì không liên quan đến việc đánh bạc.
+ Đối với các xe biển số 60B9-102.57 thu giữ của Phan Văn N; xe
biển số 60B8-238.65 thu gicủa Nguyễn Thị M; xe biển số 60Z6-
97.57 thu giữ của Đặng Thành Đ; xe biển số 53S3-1997 thu giữ của Trần
Văn N; xe biển số 72C1-428.36 thu giữ của Thị N; 03 xe mô kiểu
JUPITER biển số 60N3-1443, số khung 012012, số máy 012012; mô kiểu dáng
Dream II không biển số, skhung RLPDCHDUM 98001890, số máy ZS 110FMH
712001864; xe Dream không biển số, số khung LF3XCG502-XA028170,
số máy VTTJL 1P52FMH-L001-1821 (do các đối tượng đánh bạc bỏ lại không
xác định được chủ sở hữu), đề nghị quan Cảnh sát điều tra chuyển giao cho
Công an huyện Vĩnh Cửu tiếp tục làm rõ, xử lý theo quy định pháp luật.
Các bị cáo nói lời sau cùng:
+ Bị cáo Phan Văn N: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
+ Bị cáo Nguyễn Thị M: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ nh phạt cho bị
cáo.
+ Bị cáo Bùi Thị Thanh T: Bị cáo người duy nhất nuôi con, xin giảm nhẹ
hình phạt để sớm về nuôi con.
+ Bị cáo Đặng Thành Đ: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, do nhà bị cáo không
có tiền, bị cáo sau này sẽ không chơi đánh bạc nữa.
+ Bị cáo Võ Thị L: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, do nhà bị cáo không có
tiền để đóng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, n cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện
Vĩnh Cửu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, Kiểm sát viên
trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục
theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, các bị cáo không
người nào có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2]. Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận hành
vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, đã có đủ cơ
sở kết luận:
Khoảng từ 14 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 16/12/2021 tại vườn cao
su thuộc ấp 3, PLý, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Thị M làm
cái đánh bạc hình thức Tài-Xỉu” ăn thua bằng tiền với Phan Văn N, Đặng Thành
Đ, Bùi Thị Thanh Thuý. Tổng stiền sử dụng đánh bạc 17.780.000 đồng.
9
Thị L cung cấp nước uống, bao xác rắn để các đối tượng sử dụng làm chiếu bạc
và phục vụ đánh bạc.
Như vậy, các bị cáo Đặng Thành Đ, i Thị Thanh Thuý, Nguyễn Thị M
nh vi đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền với tổng số tiền trên 5.000.000
đồng đến dưới 50.000.000 đồng nên cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại
khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm
2017). Bị cáo Phan Văn N đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện
hành vi phạm tội do cố ý nên đã cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm
d khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị
cáo Thị L, dù không trực tiếp tham gia đánh bạc, nhưng bị cáo cung cấp công
cụ cho các đối tượng đánh bạc sử dụng làm chiếu bạc nên đã cấu thành tội “Đánh
bạc” tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm
2017) với vai trò đồng phạm trong vụ án.
[3]. Hành vi của các bị cáo xâm phạm đến trật tự quản công cộng của
nhà nước nên cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị
cáo để răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.
Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội mang tính đồng phạm giản đơn, không
sự bàn bạc, tổ chức phân công nhiệm vụ nên các bị các phải chịu trách nhiệm
tương ứng với hành vi của mình gây ra.
[4]. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết
tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
+ Bị cáo Nguyễn Thị M; Đặng Thành Đ, Thị L: Phạm tội lần đầu và thuộc
trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải các tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật
hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017)
+ Bị cáo Phan Văn N: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người phạm tội
là người đủ 70 tuổi trở lên tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại
điểm s, o khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm
2017).
+ Bị cáo Bùi Thị Thanh T: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải tình tiết
giảm nhtrách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật
hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Phan Văn N đã có tiền án, chưa được xóa
án tích do chưa chấp hành xong các hình phạt bổ sung của các bản án trước đây,
lại tiếp tục phạm tội, bị cáo Bùi Thị Thanh T đang trong thời gian chờ xét xử về
tội ‘Đánh bạc” nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội thể hiện ý thức chấp
hành pháp luật của các bị cáo là rất kém, cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi
xã hội một thời gian để cải tạo, răn đe đối với các bị cáo cũng như phòng ngừa tội
phạm nói chung. Các bị cáo Nguyễn Thị M, Võ Thị L, Đặng Thành Đ phạm tội ít
nghiêm trọng, phạm tội với mục đích ăn thua bằng tiền nên Hội đồng xét xử áp
dụng Điều 35 của Bộ luật hình snăm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt
các bị cáo bằng hình phạt tiền là cũng đủ răn đe, phòng ngừa tội phạm. Bị cáo Đ
trước đây đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, tuy được coi
chưa bị xử vi phạm hành chính nhưng cũng thể hiện ý thức chấp hành phát luật
kém. Bị cáo Mai làm cái đánh bạc nên mức hình phạt của bị cáo Đ và bị cáo Mai
cao hơn của bị cáo L.
[5]. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu đã giao trả tiền và tài
sản cho chủ shữu vì kng liên quan đếnnh vi phạm tội là đúng quy định của
pháp luật.
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm
2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 nắp nhựa; 01 đĩa sứ; 03 hột xí ngầu, 03 bao xác rắn
là dụng cụ sử dụng để đánh bạc.
+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 17.780.000 đồng; 01 điện thoại di
động hiệu Vivo 1916 màu xanh của Bùi Thị Thanh T, 01 điện thoại Nokia màu
đen bị bung nắp model TA-1010 của Nguyễn Thị M.
+ Trả lại Đặng Thành Đ 01 điện thoại di động Nokia màu đen model TA-
1010; Bùi Thị Thanh Thuý 10.030.000 đồng, Phan Văn N 01 điện thoại di động
hiệu OPPO A31 màu đen, Nguyễn Thị M 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S
màu vàng gol, Võ Thị L 2.100.000 đồng vì không liên quan đến việc đánh bạc.
- Hội đồng xét xử kiến nghị quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm
để xử theo quy định của pháp luật đối với: các xe biển số 60B9-102.57
thu giữ của Phan Văn N; xe tô biển số 60B8-238.65 thu giữ của Nguyễn Thị
M; xe biển số 60Z6-97.57 thu giữ của Đặng Văn Đ; xe mô biển số 53S3-
1997 thu giữ của Trần Văn N; xe mô tô biển số 72C1-428.36 thu giữ của Võ Thị
N; 03 xe kiểu JUPITER biển số 60N3-1443, số khung 012012, số máy
012012; kiểu dáng Dream II không biển số, số khung RLPDCHDUM
98001890, số máy ZS 110FMH 712001864; xe Dream không biển số, số
khung LF3XCG502-XA028170, số máy VTTJL 1P52FMH-L001-1821.
[6]. Quá trình điều tra xác định tại sòng bạc gồm có Võ Thị N (vợ N) chở
theo Phan Thị H đến gọi N về; Nguyễn Xuân G đến tìm Bùi Thị Thanh T để đòi
tiền nợ; Trần Văn N đến gọi L về nhà. c đối tượng này không tham gia đánh
bạc nên không xử lý.
Đối với các đối tượng Nguyễn Xuân G, Thị N: Ngoài lời khai của
Thị L, Bùi Thị Thanh T thì không còn chứng cứ nào khác chứng minh các đối
tượng tham gia đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc nên không có căn cứ để xét xử
các đối tượng về hành vi trên.
Kiến nghị quan điu tra tiếp tc xác minh làm x theo quy đnh
đối với các đối tượng đã bỏ chy khi Công an bt qu tang.
[7]. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, mỗi
bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[8]. Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu
cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố các bị cáo Phan Văn N, Nguyễn Thị M, Bùi Thị Thanh T, Đặng
Thành Đ, Võ Thị L phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 321; điểm s, o khoản 1 Điều 51, Điều 17,
Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:
Bị cáo Phan Văn N 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tính từ ngày
16/12/2021.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38,
Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt b
cáo Bùi Thị Thanh T 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở
giam giữ để chấp hành án, được trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày
16/12/2021 đến ngày 17/12/2021.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 35,
Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt:
+ Bị cáo Nguyễn Thị M số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng.
+ Bị cáo Đặng Thành Đ số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng.
+ Bị cáo Võ Thị L số tiền 20.000.000 (hai ơi triệu) đồng.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa
đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 nắp nhựa; 01 đĩa sứ; 03 hột xí ngầu, 03 bao xác rắn
là dụng cụ sử dụng để đánh bạc.
+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 17.780.000 đồng; 01 điện thoại di
động hiệu Vivo 1916 màu xanh của Bùi Thị Thanh T, 01 điện thoại Nokia màu
đen bị bung nắp model TA-1010 của Nguyễn Thị M.
+ Trả lại Đặng Thành Đ 01 điện thoại di động Nokia màu đen model TA-
1010; Bùi Thị Thanh Thuý 10.030.000 đồng, Phan Văn N 01 điện thoại di động
hiệu OPPO A31 màu đen, Nguyễn Thị M 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S
màu vàng gol, Võ Thị L 2.100.000 đồng vì không liên quan đến việc đánh bạc.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18/5/2022 và Biên lai thu
tin s 0007046 ny 18/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cu,
tỉnh Đồng Nai).
3. Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án
phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể
từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Bị cáo;
- Viện kiểm sát nhân dân huyện
Vĩnh Cửu;
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Đồng Nai;
- quan điều tra Công an
huyện Vĩnh Cửu;
- quan thi hành án hình sự
huyện Vĩnh Cửu;
- Chi cục thi hành án dân sự
huyện Vĩnh Cửu;
- Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
- Lưu hồ sơ, văn phòng.
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Thị Hồng Nhung
- Về vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án thuộc trường hợp đồng phạm giản
đơn, các bcáo phạm tội không tổ chức nên vai trò của c bị cáo ngang
nhau. Tuy nhiên, đối với bị cáo Trần Hữu Trọng, Lê Công Tuấn làm cái đánh bạc
với các bcáo khác nên phải chịu trách nhiệm cao nhất. Khi tham gia đánh bạc
các bị cáo dùng số tiền tham gia đánh bạc khác nhau nên dựa trên số tiền các bị
cáo dùng để đánh bạc Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt cho mỗi bị cáo.
Từ đó Hội đồng xét xử căn cứ quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 (được
sửa đổi, bổ sung năm 2017), cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho hội của
hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt nhằm răn đe, giáo dục phòng ngừa
chung.
Tải về
Bản án số 70/2022/HS-ST Bản án số 70/2022/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất