Bản án số 70/2020/HS-ST ngày 03/12/2020 của TAND huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng về tội hiếp dâm và bắt, giữ người trái pháp luật

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 70/2020/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 70/2020/HS-ST ngày 03/12/2020 của TAND huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng về tội hiếp dâm và bắt, giữ người trái pháp luật
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Quảng Uyên (TAND tỉnh Cao Bằng)
Số hiệu: 70/2020/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 03/12/2020
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
 HÒA

Bản án số: 70/2020/HS-ST
Ngày 03 tháng 12 năm 2020

- - 
NHÂN DANH

 HÒA, 
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Phùng Thị Mến
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Đinh Sơn Quyết, Trưởng Phòng Giáo dục huyện Quảng Hòa
+ Ông Bế Ích Hòa, Chủ tịch Hội cựu chiến binh huyện Quảng Hòa
- Thư ký phiên tòa: Bà Mã Thư Viện- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng
Hòa, tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa tham gia phiên tòa:
Hoàng Thị Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 12 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa,
tỉnh Cao Bằng xét xử thẩm công khai vụ án Hình sự thụ số 54/2020/TLST-
HS ngày 09 tháng 10 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
84/2020/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2020 đối với cáo:
, sinh ngày 09 tháng 01 năm 1988, tại C, Q H, C B; nơi ĐKHKTT
nơi trú: Xóm H B, C B, huyện Q H, tỉnh C B; nghề nghiệp: Lao động tự
do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt
Nam; tôn giáo: Không; con ông Bế Văn B và Triệu Thị M; vợ, con: Chưa ;
tiền án, tiền sự: Không.
Đặc điểm nhân thân: Ngày 24/5/2006, bị cáo X bị Tòa án nhân dân huyện
Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng xử phạt 12 tháng nhưng cho hưởng án treo về tội
Trộm cắp tài sản.
Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Quảng Hòa, tỉnh
Cao Bằng từ ngày 30/6/2020 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào cha cho b cáo Bế Văn X: Luật Sư Nguyễn ĐìnhLuật sư
Th Bào -Thuộc Văn phòng Luật sư Nguyễn Đình (Hai Luật sư không tham gia t
tng tại phiên tòa theo Đơn từ chi bào cha ngày 01/12/2020).
* Các bị hại:
1. Triu Th H, sinh ngày 14/6/2002;
2
Trú ti: Xóm Bn H, xã Cao T, huyn T, tnh Cao Bng.
- Người bo v quyn li ích hp pháp ca b hi Triu Th H: Nông
Th Thu Trang - Tr giúp viên pháp thuc Trung tâm tr giáp pháp lý N
c tnh Cao Bng.
Ch H và bà Trang mt.
2. Nông Công V, sinh ngày 24/4/2004;
- Người đại din hp pháp ca b hi Nông Công V: Ngc Th H, sinh
năm 1977 (là m anh V).
Cùng trú ti: Xóm Phia M, xã C, huyn T K, tnh Cao Bng.
- Người bo v quyn li ích hp pháp ca b hi Nông Công V:
Th Hnh - Tr giúp viên pháp lý thuc Trung tâm tr giúp pháp lý Nhà nước tnh
Cao Bng.
Anh V, bà H và Hnh đu có mt.
* Người có quyn li, nghĩa v ln quan: Triu Th M, sinh m 1957;
T ti: Xóm H xã Cai, huyn Q H, tnh Cao Bng.
Có mt.
* Nhng ni làm chng:
1. Hoàng Th T, sinh năm 2002;
Trú ti L N, xã Đ H, huyn T K, tnh Cao Bng;
2. Trương Văn Đ, sinh năm 1999;
Trú ti Cc R - Nm D, xã Đ D, huyn T K, tnh Cao Bng.
Anh Đ có mặt, chị T có đơn xin xét xử vắng mặt.
NI DUNG V ÁN
Theo các tài liu có trong h vụ án và din biến ti phiên tòa, ni dung v
án được tóm tắt như sau:
Ngày 30/6/2020 quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh tiếp
nhận tin báo của Hoàng Thị T, trú tại Lũng N, Đ H, T K, Cao Bằng và tin báo của
Nông Công V, trú tại P M, C T, T K, Cao Bằng về việc: Khoảng 13 giờ ngày
30/6/2020 V T đang ngồi chơi tại đèo K thuộc xóm Đ 2, Q H, Quảng
Hòa, Cao Bằng thì có một người đàn ông đi xe mô tô biển kiểm soát 11U1-129.85
màu đen - xám tiến tới bất ngờ dùng khóa số tám khóa 2 tay của V lại, rồi lôi V
đến đuôi xe máy của V T đkhóa V vào đó yêu cầu T đi theo mình, khi
người đàn ông vừa tháo khóa số tám ở một bên tay V ra để khóa vào xe thì V và T
kháng cự lại rồi bỏ chạy xuống đường, bắt xe buýt đến Công an huyện T K trình
báo. Sau khi tiếp nhận tin báo, nhận thấy vụ việc không thuộc thẩm quyền nên
cùng ngày Công an huyện T K đã chuyển ngay tin báo trên đến Công an huyện Q
H để giải quyết theo luật định.
3
Sau khi tiếp nhận tin báo, Công an huyện Q H đã xác minh làm được
chiếc xe biển kiểm soát 11U1-129.85 do Bế Văn X, trú tại xóm H B, C,
huyện Q, tỉnh Cao Bằng đứng tên giấy tờ. Khi phát hiện Bế Văn X đang di
chuyển trên đường quốc lộ theo hướng Q - H, Công an huyện Q H đã yêu cầu Bế
Văn X về trụ sở Công an huyện Q H để làm rõ sự việc.
Tại quan điều tra Bế Văn X khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 30/6/2020 X
một mình điều khiển xe biển kiểm soát 11U1-129.85 từ nriêng tại m
H H, CB, QH đi chơi, đến khoảng hơn 13 giờ đi đến khu vực đỉnh đèo Khau Liêu
(đường cũ) thuộc xóm Đ, Q, Q H, Cao Bằng thì thấy một đôi nam nữ (Nông
Công V, sinh ngày 24/4/2004 Hoàng Thị T, sinh năm 2002) đang ngồi tâm sự
trên một con trạch ngay khúc cua, V ngồi quay lưng ra đường, 02 tay chống phía
sau, có chiếc xe mô tô dựng ngay cạnh đó. X đi đến gần chỗ T và V ngồi, dừng xe
giữa đường rồi đi bộ vphía T V đồng thời lấy chiếc khóa số tám trong túi
quần ra và bất ngờ khóa 02 tay V lại; lúc đó quần của V T đã kéo xuống đến
đầu gối. Khi X khóa tay V lại thì V đứng dậy kéo quần lên, còn T bị X dùng tay
phải kéo ra đứng bên cạnh, tay trái X giữ quần T không cho kéo lên nên T nói
“chú ơi để kéo quần lên đã” thì X mới thả tay ra. Sau đó X hỏi “đi làm như này có
giấy tờ không?”, V và T trả lời đang tuổi học sinh, không giấy tờ đâu”,
X hỏi tiếp đi bao cao su không”, T trả lời có”, X tiếp tục hỏi “học lớp mấy”,
V và T trả lời “học lớp 12”, X không tin nên tiến lại phía chiếc xe mô tô của V
T dựng gần đó thấy 01 chiếc ba màu nâu đen treo trên xe, X mở ba ra lục
lọi để kiểm tra nhưng không lấy gì. Sau khi kiểm tra ba lô, thấy chìa khóa xe của
V vẫn cắm xe, X rút chìa khóa ra đồng thời nói chìa khóa xe này tao thu giữ”
rồi bỏ chìa khóa vào túi quần. X hỏi T “thế đứa này ở đâu”, T trả lời “Lũng Nà”,
X đề nghị đưa T về nhà thì T và V nói phải về cùng nhau chứ không về riêng. Do
sợ nếu đi cùng nhau thì trên đường đi T và V sphản kháng nên X nói “khóa
thằng này vào xe rồi đưa con về, quay lại mới mở khóa thằng này” rồi kéo V
lại gần xe mô của V, X lấy chìa khóa từ trong túi quần ra mở khóa bên tay trái
của V. Khi X vừa mở được khóa thì V bất ngờ vung tay phản kháng đẩy X ra, T
thấy vậy chạy về phía V rồi T V cùng bỏ chạy về hướng Quảng Hòa theo
đường cũ. Trước khi bỏ chạy, V cầm theo chiếc bảo hiểm của X đtrên yên
xe và chiếc khóa số tám vẫn còn khóa một bên tay phải của V. Sau khi V T bỏ
chạy thì X cắm lại chiếc chìa khóa xe vào xe của V rồi điều khiển xe của
mình đi ra đường tỉnh lộ 206 theo hướng Quảng Hòa để đi về. Khi đang trên
đường về nhà đến đoạn thác Pheo thuộc Độc Lập, Quảng Hòa, Cao Bằng
thì X bị Công an huyện Quảng Hòa đưa về trụ sở.
Ngoài ra X khai, ngày 12/02/2019 X còn hành vi hiếp dâm đối với Triệu
Thị H, sinh ngày 14/6/2002, trú tại xóm Bản Hâu, Cao Thăng, huyện Trùng
Khánh, tỉnh Cao Bằng, cụ thể: Khoảng 10 giờ ngày 12/02/2019, X sử dụng xe
biển kiểm soát 11U1-129.85 đi tnhà tại xóm H H, CB, QH đến khu vực đèo
Khau Liêu (đường cũ) chơi. Khi đến đỉnh đèo thuộc địa phận xóm Đầu Cầu 2,
Quảng Hưng, Quảng Hòa, Cao Bằng thấy 01 chiếc xe mô đang dựng cạnh
đường nhưng không thấy người, X đi vượt qua chiếc xe này khoảng 20m rồi dừng
4
lại, xuống xe bước lên cầu thang bộ bên phải đường. Khi lên hết bậc thang
thì nhìn thấy một đôi nam nữ (Triệu Thị H Trương Văn Đồng) đang quan hệ
tình dục, X tiến lại gần yêu cầu xuất trình giấy tờ. Đồng đưa chứng minh nhân
dân ra cho X xem, X lấy điện thoại di động của mình chụp ảnh chứng minh nhân
dân của Đồng rồi chụp ảnh cả mặt của Đồng H lại; X nhìn thấy 01 chiếc ba
gần đó đã mở ba ra kiểm tra bên trong thì nhìn thấy quyển vở ghi tên
Triệu Thị H học lớp 11, trường Trung học phổ thông Thông Huề rồi đóng ba
lại. Sau đó, X yêu cầu Đồng và H theo mình đi xuống cầu thang bộ, lúc này X nảy
sinh ý muốn quan hệ tình dục với H. Khi xuống hết cầu thang bộ, tới nơi để xe
trước đó, X hỏi “chìa khóa xe đâu” thì H đưa chìa khóa xe cho X rồi X nói “cho
thằng này về trước rồi đứa này về sau”. Đồng H đồng ý, X sdụng xe
của mình để đưa Đồng xuống đường đón xe buýt yêu cầu H đứng đó chờ. Đến
đường tỉnh lộ 206 X cùng Đồng đứng chờ xe, khi chiếc xe khách đi tới X vẫy
xe cho Đồng lên xe, rồi X điều khiển xe mô tô quay lại đường cũ để lên đỉnh đèo.
Đi được một đoạn thì X thấy phía bên phải đường đi (ngay khúc cua) một bãi
đất trống có một đường mòn đi vào, X đi xe vào đường mòn rồi để xe mô tô tại đó
rồi đi bộ lên vị tH đang đứng đợi. Tới nơi, X lấy chìa khóa xe ra cắm vào
khóa, ngồi lên xe nói với H “lên xe, đi xuống” rồi điều khiển xe đi về hướng
Quảng Hòa - Trùng Khánh. Đến đường mòn rẽ vào bãi đất trống, X nói với H
“vào đây anh đi vệ sinh một tí” rồi điều khiển xe đi thẳng vào bãi đất trống, vượt
chiếc xe của X để trước đó khoảng 40m thì dừng lại, xuống xe dùng tay
phải cầm vào tay trái của H kéo vào bụi rậm cuối bãi đất. Tại đây, X đẩy H ngã
xuống đất, lúc này H chống cự lại kêu lên “cứu với, cứu với” thì X bước vào
giữa 2 chân của H, dùng cẳng tay phải đè lên vùng cổ của H, tay còn lại tháo cúc
quần của H ra rồi kéo quần dài cùng quần lót của H xuống tháo ng quần bên
chân phải của H ra khỏi chân, sau đó X tiếp tục dùng tay trái tự cởi quần mình
xuống đến đầu gối rồi đưa dương vật đã cương cứng vào âm đạo của H, đưa
dương vật ra vào liên tục, khi đó H vẫn vùng vẫy tay chống cự và liên tục kêu cứu
nhưng X không dừng lại, được khoảng 01 đến 02 phút thì X xuất tinh ra bãi cỏ
ngay dưới thể của H. Sau khi thực hiện xong hành vi giao cấu thì X kéo quần
lên và ra xe đi về, còn H ngồi dậy kéo quần lên và ra xe mô tô của H đi về.
Sau khi sự việc xảy ra, do lo sợ xấu hổ nên H không làm đơn trình báo.
Đến ngày 01/7/2020 Triệu Thị H mới làm đơn trình báo sự việc đến cơ quan Cảnh
sát điều tra Công an huyện Quảng Hòa.
Quá trình điều tra Công an huyện Quảng Hòa đã tạm giữ: 01 xe nhãn
hiệu HONDA, loại WAVE RSX màu đen - xám biển kiểm soát 11U1-129.85
cùng chìa khóa xe; 01 quần dài vải loại quần màu cỏ úa bên trong quần mác
“Tổng cục hậu cần Cục quân nhu”; 01 thắt lưng giả da màu nâu đã cũ; 01 điện
thoại di động màn hình cảm ứng mang nhãn hiệu VIVO màu đồng, máy nhiều
vết trầy xước; 01 mũ bảo hiểm màu xanh rêu, mặt trước mặt sau bảo hiểm
có tem chống hàng giả và chữ HCKT (hậu cần kỹ thuật), mặt bên trong có ký hiệu
5
P5-H57; 01 khóa còng số 8 màu trắng có ký hiệu BỘ CÔNG AN KC, chiếc ví giả
da.
Tại bản kết luận Giám định pháp y về tình dục số 011/20/TD ngày 06/7/2020
của Trung tâm pháp y Sở y tế Cao Bằng đã kết luận: “Dấu hiệu chính qua giám
định: Rách cũ màng trinh ở các vị trí: 1h, 3h, 6h và 9h”.
Ngày 06/8/2020 quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành thực nghiệm điều
tra, kết quả thực nghiệm phù hợp với diễn biến hành vi phạm tội của bị can Bế
Văn X.
Tại bản cáo trạng số: 56/CT-VKS-QH ngày 09/10/2020, Viện kiểm sát nhân
dân huyện Quảng Hoà đã truy tBế Văn X v ti Hiếp dâm quy đnh ti khon 4
Điu 141 B lut hình s và ti Bt, gi người trái pháp luật quy đnh tại đim e
khoản 2 Điều 157 B lut hình s.
Tại phiên tòa:
Bị cáo X xác nhận: Cáo trạng phản ánh đúng diễn biến hành vi phạm tội của
bị cáo, nay bị cáo biết hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật. Đối với các yêu
cầu bồi thường thiệt hại của những người bị hại, bị cáo đề nghị giải quyết theo
quy định pháp luật.
Các bị hại gồm Nông Công V, người đại diện theo pháp luật của V Triệu
Thị H cùng xác định lời trình bày của bị cáo đúng. Nay đề nghị Hội đồng xét
xử phạt bị cáo theo quy định của pháp luật. Về phần dân sự, bị hại H yêu cầu bị
cáo bồi thường số tiền 16.900.000đ (Mười sáu triệu chín trăm nghìn đồng) bao
gồm tiền xe, tiền công đi lại khi các quan tiền hành tố tụng triệu tập đến làm
việc và tiền tổn thất về tình thần 10 tháng lương tối thiểu. Còn bị hại V
người đại diện yêu cầu bị cáo bồi thường 6.500.000đ (Sáu triệu năm trăm nghìn
đồng) bao gồm tiền xe, tiền công đi lại khi các quan tiền hành tố tụng triệu tập
đến làm việc và tiền tổn thất về tinh thần là 02 tháng lương tối thiểu.
Người liên quan Triu Th M khai, chiếc xe mô biển kiểm soát 11U1-
129.85 ngày 30/6/2020 Bế Văn X con bà sử dụng, nguồn tiền mua xe máy
của vợ chồng bà, nhưng cho X đứng tên giấy tờ xe, nay bà M xin lại chiếc xe
.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa vẫn giữ nguyên cáo
trạng truy tố; sau khi xem xét, đánh giá về tính chất, mức đhành vi phạm tội,
nhân thân các tình khác của vụ án, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp
dụng điểm e khoản 2 Điều 157, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt
bị cáo từ 2 năm đến 3 năm tù về tội Bắt, giữ người trái pháp luật; áp dụng khoản 4
Điều 141 Bộ luật hình sự xử phạt bcáo từ 5 đến 6 năm về tội Hiếp dâm. Áp
dụng điều 55 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Bế Văn X phải chấp hành
hình phạt chung cho cả hai tội từ 7 năm đến 9 năm tù. V trách nhim dân sự, căn
c các Điều 584 592 B lut dân s, buc b cáo phi bồi thường v danh d,
nhân phm cho các b hại theo quy định ca pháp lut. V vt chng v án, áp
dng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình, tịch thu tiêu hủy 01 khóa còng số 8, 01 quần
6
dài vải loại quần màu cỏ úa; 01 thắt lưng giả da màu nâu chiếc bảo hiểm
màu xanh rêu; tịch thu 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu VIVO
màu đồng của bị cáo Bế Văn X để sung quỹ Nhà nước; trả chiếc xe mô nhãn
hiệu HONDA, loại WAVE RSX màu đen - xám biển kiểm soát 11U1-129.85
cùng chìa khóa xe cho bà Triu Th M; trả chiếc ví giả da cho bị cáo Bế Văn X.
Th Hnh - người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại V nhất
trí với Cáo trạng lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo về tội
danh, hành vi phạm tội mức hình phạt. Hành vi phạm tội của bcáo X đối với
Nông Công V (sinh ngày 24/4/2004), khi bị xâm phạm V mới 16 tuổi còn đang đi
học. Bị cáo đã gây ra tổn thất về tinh thần cho bị hại và gia đình người bị hại. Nay
đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết bồi thường dân sự cho bị hại V theo mức V và
người đại diện yêu cầu.
Nông Th Thu Trang - người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại
H nhất trí với Cáo trạng lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo
về tội danh, hành vi phạm tội mức nh phạt. Hành vi phạm tội của bcáo X
đối với Triệu Thị H (sinh ngày 14/6/2002), khi bị xâm phạm bị hại còn đang đi
học chưa đủ 18 tuổi. Bị cáo đã gây ra tổn thất về tinh thần cho bị hại gia
đình người bị hại. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 584 và 585 B
lut dân s giải quyết bồi thường dân sự cho bị hại H theo mức H đã yêu cầu.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về nh hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Vhành vi, quyết
định ttụng của quan điều tra ng an huyn Quảng Hòa, Điều tra viên, Vin
kiểm t nhân dân huyện Quảng Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố
đã thc hiện đúng về thẩm quyn, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụngnh
sự. Q trình điều tra tại phiên tòa bo, c bị hại không ý kiến hoặc khiếu
nại về hành vi, quyết định của quan tiến nh tố tụng, người tiến nh tố tụng.
Do đó, c nh vi, quyết định ttụng của quan tiến hành tố tụng, người tiến
nh tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về các yếu tố cấu thành tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi
phạm tội do bị cáo thực hiện nnội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát. Li
nhn ti ca b cáo phù hp vi li khai ca các b hi Nông Công V và Triệu Thị
H; phù hợp với lời khai của những người làm chứng Hoàng Th T đã khai tại
quan điều tra li khai ca Trương Văn Đồng ti phiên tòa; phù hp vi các tài
liu, chng c có trong h sơ vụ án cùng vt chng ca v án đã thu được. Vì vy
đủ sở để kết lun: Ngày 12/02/2019 tại bãi đất trống thuộc xóm Bản
Khuông Cốc Chia, Đoài Dương, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, Bế Văn
X đã hành vi đè lên người Triệu Thị H, dùng cẳng tay phải đè lên vùng cổ của
7
H để H không kháng cự kêu cứu được, cởi quần của H thực hiện hành vi giao
cấu trái với ý muốn của H. Tại thời điểm X thực hiện hành vi phạm tội, Triệu Thị
H mới được 16 tuổi 07 tháng 29 ngày, bị cáo biết H người chưa thành niên sau
khi lục cặp thấy sách của H, nhưng đã dùng V lực để thực hiện hành vi giao cấu
trái với ý muốn của H nhằm thỏa mãn nhu cầu dục vọng của bản thân. Vì động cơ
thỏa mãn dục vọng của bản thân bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền nhân
thân của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo làm ảnh hưởng
đến thể chất, tinh thần của người bị hại, tạo luận xấu tại địa phương, ảnh
hưởng đến danh dự, nhân phẩm của bị hại và gia đình bị hại.
Ngoài ra, ngày 30/6/2020 tại khu vực đỉnh đèo Khau Liêu (đường cũ) thuộc
xóm Đầu Cầu 2, Quảng Hưng, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng, Bế Văn X
còn hành vi dùng khóa còng số tám đã chuẩn bị từ trước khóa 02 tay của Nông
Công V lại một cách vô cớ, trái pháp luật rồi kéo V lại gần xe của V nhằm
mục đích khóa một bên tay của V vào xe để X đưa Hoàng Thị T (bạn gái V) đi
nơi khác. Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho hội, đã xâm phạm quyền bất
khả xâm phạm v tự do thân thể nhân, quyền tự do dân chủ của công dân, ảnh
hưởng đến uy tín, danh d của công dân, gây mất ổn định trật tự, an toàn hội.
Tại thời điểm X thực hiện hành vi phạm tội thì Nông Công V mới được 16 tuổi 02
tháng 06 ngày.
Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa truy tố Bế Văn X về tội
Hiếp dâm quy định tại khoản 4 Điều 141 Bộ luật hình sự và tội Bắt, giữ người trái
pháp luật quy định tại điểm e khoản 2 Điều 157 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng
pháp luật.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệmnh sự.
Về nhân thân: Ngày 24/5/2006, bcáo X bị Tòa án nhân dân huyện Quảng
Uyên, tỉnh Cao Bằng xử phạt 12 tháng nhưng cho hưởng án treo về tội Trộm
cắp tài sản.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra tại phiên tòa bị cáo đã
thành khẩn khai báo nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo; xét thấy, cần phải xử lý nghiêm đối với
bị cáo nhằm giáo dục riêng phòng ngừa chung, nên Hội đồng xét xử xét cách
ly bị cáo ra khỏi đời sống hội một thời gian nhất định mới tác dụng cải tạo,
giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Triệu Thị H người bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp cho chị H đều yêu cầu bị cáo phải bồi thường tổn thất về tinh thần số
tiền 16.900.000đ (Mười sáu triệu chín trăm nghìn đồng); còn bị hại V người
đại diện yêu cầu bị cáo bồi thường 6.500.000đ (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng)
8
bao gồm tiền xe, tiền công đi lại khi các quan tiền hành ttụng triệu tập đến
làm việc và tiền tổn thất về tình thần.
Hội đồng xét x căn cứ các Điều 584 và 592 B lut dân s chấp nhận mt
phần yêu cầu của các bị hại, buộc bị cáo X bồi thường cho các bị hại, c thể:
* Bị hại H:
- Tiền tổn thất về tình thần 10 tháng lương tối thiểu 14.900.000đ;
- Tiền xe H cùng người nhà đi giám định pháp y:
40.000đ/người x 2 người x 2 chiều = 160.000đ;
- Ngày công mất thu nhập khi đi giám định:
2 ngày x 2 người x 200.000đ/ngày = 800.000đ
Cộng: 15.860.000đ .
(Mười năm triệu tám trăm sáu mươi nghìn đồng).
* B hại V: Tiền tổn thất về tinh thần 2 tháng lương tối thiểu số tiền
2.980.000đ (Hai triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng).
Còn những yêu cầu khác của các bị hại do không căn cứ pháp luật nên
không được xem xét chấp nhận.
[6] Về vật chứng vụ án: Vật chứng vụ án hiện nay Chi cục Thi hành án dân
sự huyện Quảng Hòa đang quản theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày
21/10/2020; căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý như sau:
- Tịch thu tiêu hủy 01 khóa còng số 8, 01 quần dài vải loại quần màu cỏ úa;
01 thắt lưng giả da màu nâu và chiếc mũ bảo hiểm màu xanh rêu;
- Tịch thu phát mại 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu
VIVO màu đồng của bị cáo Bế Văn X để sung quỹ Nhà nước.
- Chiếc xe nhãn hiệu HONDA, loại WAVE RSX màu đen - xám biển
kiểm soát 11U1-129.85 cùng chìa khóa xe do bị cáo X đứng tên giấy txe. Tại
phiên tòa bị cáo cùng bà M khai nguồn tiền mua xe máy là của vợ chồng bà M, do
cùng chồng không giấy phép lái xe nên cho con trai X đứng tên giấy tờ
xe; nay Hội đồng xét xử trả chiếc xe mô tô cho bà Triu Th M.
- Trả chiếc ví giả da và đăng ký xe mô tô cho bị cáo Bế Văn X.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sdân sự thẩm theo quy
định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,

1.  Bị cáo Bế Văn X phạm tội Hiếp dâm tội Bắt, giữ người
trái pháp luật.
 Áp dụng khoản 4 Điều 141; điểm e khoản 2 Điều 157;
điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55 Bộ luật hình sự.
9
Xử phạt bị cáo Bế Văn X 5 (Năm) năm về tội Hiếp dâm; 2 (Hai) năm
về tội Bắt, giữ người trái pháp luật. Bcáo Bế Văn X phải chấp hành hình phạt
chung cho cả hai tội 7 (Bảy) năm ; thời gian chấp hành án được tính từ ngày
30/6/2020.
3. : Áp dụng Điều 584, 592 Bộ luật Dân sự, buộc bị
cáo Bế Văn X bồi thường cho các bị hại, cụ thể:
- Bồi thường cho bị hại Triệu Thị H, trú ti Xóm Bản Hâu, Cao Thăng,
huyn Trùng Khánh, tnh Cao Bng số tiền 15.860.000đ (Mười năm triệu tám
trăm sáu mươi nghìn đồng).
- Bồi thường cho bị hại Nông Công V có người đại diện hợp pháp là bà Ngc
Th Ho trú ti xóm Phia Mạ, xã Cao Thăng, huyện Trùng Khánh, tnh Cao Bng
số tiền 2.980.000đ (Hai triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng).
Tng cng b cáo phi bồi thường cho các b hi s tin là: 18.840.000đ
(Mưi tám triệu tám trăm bốn mươi nghìn đng).
K t ngày bn án có hiu lc pháp luật (đối với các trường hợpquan thi
hành án có quyn ch động ra quyết định thi hành án) hoc k t ngày có đơn yêu
cu thi hành án của người được thi hành án (đối vi các khon tin phi tr cho
người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phi thi hành án còn
phi chu khon tin lãi ca s tin còn phi thi hành án theo mc lãi sut quy
định ti các Điều 357 và 468 ca B lut Dân s năm 2015.
Trường hp Bản án được thi hành theo quy đnh tại Điều 2 Lut Thi hành án
dân s thì người được thi hành án dân sự, người phi thi hành án dân s
quyn tha thun thi hành án, quyn yêu cu thi hành án, t nguyn thi hành án
hoc b ng chế thi hành án theo quy đnh tại các Điều 6, 7 và 9 Lut Thi hành
án dân s; thi hiệu thi hành án được thc hiện theo quy định tại Điều 30 Lut thi
hành án dân s.
4. Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy 01 khóa còng số 8, 01 quần dài vải loại quần màu cỏ úa;
01 thắt lưng giả da màu nâu và chiếc mũ bảo hiểm màu xanh rêu;
- Tịch thu phát mại 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu
VIVO màu đồng của bị cáo Bế Văn X để sung quỹ Nhà nước.
- Trả chiếc xe mô nhãn hiệu HONDA, loại WAVE RSX màu đen - xám
biển kiểm soát 11U1-129.85 cùng chìa khóa xe cho Triu Th M, trú ti Xóm
Hòa Bình, xã Cai B, huyn Qung Hòa, tnh Cao Bng.
- Trả chiếc ví giả da và đăng ký xe mô tô cho bị cáo Bế Văn X.
Xác nhận, các vật chứng trên hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự huyện
Quảng Hòa, Cao Bằng đang quản lý.
5.  : Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị
Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội;
10
Buộc bị cáo Bế Văn X phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình
sự thẩm và 942.000đ (Chín trăm bốn mươi hai nghìn đồng) án phí dân sự
thẩm để sung quỹ Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, bcáo, bị hại H, người đại diện hợp pháp của bị
hại V, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại V, người quyền lợi
nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ tuyên
án.
Nơi nhận: 
- Tòa án tỉnh; - 
- Sở tư pháp;
- VKS tỉnh, huyện;
- Công an huyện;
- Cơ quan THA hình sự;
- Trại giam;
- Chi cục THA dân sự huyện;
- Bị cáo; các bị hại; TGPL;
- Người liên quan;
- Lưu: Án văn, THA hình sự và HS. 
11
12
Tải về
Bản án số 70/2020/HS-ST Bản án số 70/2020/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất