Bản án số 70/2018/DS-PT ngày 06/04/2018 của TAND tỉnh Cà Mau

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 70/2018/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 70/2018/DS-PT ngày 06/04/2018 của TAND tỉnh Cà Mau
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 70/2018/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 06/04/2018
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Mua ban không thanh toán tiền
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 70/2018/DS-PT
Ngày: 06 - 4 - 2018
V/v tranh chấp hợp đồng mua bán
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Thanh Hùng
Các Thẩm phán: Châu Minh Hoàng
Trịnh Xuân Trúc
- Thư phiên tòa: Lâm Ngọc Trâm Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà
Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân n tỉnh Mau tham gia phiên tòa: Ông
Phạm Thanh Răng - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 4 năm 2018, tại trụ sTòa án nhân dân tỉnh Mau xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 14/2018/TLPT-DS ngày 30 tháng 01 năm
2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 155/2017/DS-ST ngày 22 tháng 12 năm 2017
của Tòa án nhân dân thành phố C bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 37/2018/QĐ-PT ngày
23 tháng 02 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Thương mại,
Dịch vụ và Xuất nhập khẩu T; Địa chỉ: Số 145/62A, Lê Văn Q, phường B, quận B,
Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Minh T- Chức vụ:
Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thạch T;
trú tại số 50/27, Quang Trung, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo
giấy ủy quyền ngày 13/9/2017) (Có mặt).
- Bị đơn:
1. Ông Đoàn Phong V; Hộ khẩu thường trú tại số 229/28, đường Phan Bội
C, khóm A, phường B, thành phố C, tỉnh Mau; Hiện trú tại nhà không số,
đường Nguyễn T, khóm D, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau (Có mặt).
2. Nguyễn Hoàng Nhã T; trú tại nhà không số, đường Nguyễn T,
khóm D, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau (Có mặt).
- Người kháng cáo: Ông Đoàn Phong V và bà Nguyễn Hoàng Nhã T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn ngày 13/9/2017 tại phiên tòa ông
Nguyễn Thạch T là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
2
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Thương mại, Dịch vụ Xuất
nhập khẩu T (gọi tắt Công ty T) thỏa thuận mua bán các mặt hàng đậu nành
đậu xanh với vợ chồng ông Đoàn Phong V từ ngày 21/12/2016 đến ngày
08/3/2017, việc thực hiện hợp đồng chỉ thỏa thuận bằng miệng không làm văn bản,
giá trị hợp đồng tổng số tiền 485.890.000 đồng. Quá trình mua bán từ ngày
25/01/2017 đến ngày 12/4/2017, ông V đã thanh toán được số tiền 199.500.000
đồng thì ngưng cho đến nay, hiện số tiền ông V còn nợ lại 286.390.000 đồng.
Nay Công ty T yêu cầu ông Đoàn Phong V Nguyễn Hoàng Nhã T thanh toán
số tiền 286.390.000 đồng khoản lãi phát sinh theo Ngân hàng Nnước quy
định từ ngày 12/5/2017 đến nay 6.443.000 đồng, tổng cộng hai khoản là
292.833.000 đồng.
Bị đơn ông Đoàn Phong V trình bày: Ông thừa nhận hợp đồng mua
bán đậu với Công ty T hiện còn nlại số tiền 286.390.000 đồng, làm giấy
thanh toán nợ và làm biên nhận giao giấy tnhà để làm tin. Tuy nhiên, việc giao
dịch mua bán trên giữa ông với Công ty T không liên quan đến vợ ông
Nguyễn Hoàng Nhã T. Nay do làm ăn gặp nhiều khó khăn nên ông V xin được
thanh toán mỗi tháng 10.000.000 đồng.
Bị đơn bà Nguyễn Hoàng Nhã T trình bày: Việc mua bán hàng hóa giữa
ông V chồng với Công ty T hoàn toàn không biết, đến khi Công ty T xuống
báo mới biết, đồng thời Công ty kêu bà ký tên vào giấy nợ mà ông V đã viết để
làm tin và không ràng buộc trách nhiệm của bà. Nay xác định tuy với ông V
là vợ chồng nhưng làm kinh tế độc lập và ông V ng không có đem tiền về nhà, vì
vậy không đồng ý chịu trách nhiệm thanh toán khoản nợ trên cho Công ty T.
Đồng thời V yêu cầu phía Công ty T trả lại cho giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất mà ông V đã đưa cho Công ty.
Tại bản án dân sự thẩm số 155/2017/DS-ST ngày 22 tháng 12 năm 2017
của Tòa án nhân dân thành phố C đã quyết định:
Chấp nhận yêu cầu của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thương
mại dịch vụ và xuất nhập khẩu T. Buộc ông Đoàn Phong V và Nguyễn Hoàng
Nhã T thanh toán cho ng ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thương mại
dịch vụ và xuất nhập khẩu T tổng số tiền vốn và lãi là 292.833.000 đồng.
Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thương mại dịch vụ
xuất nhập khẩu T hoàn trả cho bà Nguyễn Hoàng Nhã T giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản gắn liền với đất số CD 894492 do Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh Cà Mau cấp ngày 12/7/2016.
Ngoài ra, án thẩm n tuyên về lãi suất do chậm trả, án phí quyền
kháng cáo của đương sự.
Ngày 05 tháng 01 năm 2018, bị đơn ông Đoàn Phong V Nguyễn
Hoàng Nhã T đơn kháng cáo một phần bản án thẩm. Bị đơn yêu cầu Tòa án
cấp phúc thẩm xem xét không buộc T có trách nhiệm trả nợ.
Tại phiên tòa phúc thẩm ông V, T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau đề nghị không chấp nhận
kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố C.
3
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đối với khoản nợ đôi bên đều thống nhất, không kháng cáo nên Tòa án
cấp phúc thẩm không đề cập xem xét. Về yêu cầu kháng cáo, ông Đoàn Phong V
Nguyễn Hoàng Nhã T kháng cáo với nội dung T không đồng ý trách
nhiệm trả nợ cùng ông V do việc mua bán hàng hóa giữa ông V với Công ty T T
hoàn toàn không biết, ông V kinh doanh không mục đích phục vụ chung cho gia
đình. Hội đồng xét xử thấy rằng trong khoản thời gian ông V giao dịch mua bán
với Công ty T, ông V T đang tồn tại quan hệ vchồng, đồng thời tại giấy
thanh toán nợ ngày 12/5/2017 mà ông V thừa nhận nợ với Công ty T sự n
xác nhận của T, việc ký tên là tự nguyện, không bị đe dọa hay ép buộc. Như vậy
việc T tên vào bản nhận nợ đồng nghĩa với việc chấp nhận nợ nghĩa vụ
thanh toán. Từ những phân tích trên, thấy rằng Tòa án cấp thẩm buộc T phải
trách nhiệm cùng với ông V thanh toán khoản nợ trên cho Công ty T căn
cứ.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn không bổ sung chứng cứ mới để chứng
minh cho yêu cầu kháng cáo do đó không sở chấp nhận kháng cáo của bị
đơn, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố C.
[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tại phiên
tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
[4] Đối với giấy chứng nhận quyền sdụng đất, quyền sở hữu nhà tài
sản gắn liền với đất số CD 894492 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Mau
cấp ngày 12/7/2016. Tòa án cấp thẩm giao trả cho nhân Nguyễn Hoàng
Nhã T, mặc dù ông V người giao cho Công ty, tại phiên tòa phúc thẩm ông V
đồng ý giao lại chị T, do vậy cần giữ nguyên như cấp sơ thẩm.
Án phí dân sự phúc thẩm ông Đoàn Phong V Nguyễn Hoàng Nhã T
phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng n sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Đoàn Phong V Nguyễn
Hoàng Nhã T. Giữ nguyên bản án dân sự thẩm số 155/2017/DS-ST ngày 22
tháng 12 năm 2017 của Tòa án nhân dân thành phố C.
Chấp nhận yêu cầu của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thương
mại dịch vụ và xuất nhập khẩu T. Buộc ông Đoàn Phong V và Nguyễn Hoàng
Nhã T thanh toán cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thương mại
dịch vụ và xuất nhập khẩu T tổng số tiền vốn và lãi là 292.833.000 đồng.
Kể từ ngày Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thương mại dịch vụ
xuất nhập khẩu T đơn yêu cầu thi hành án, ông V T phải trả thêm
khoản i phát sinh theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật
4
Dân sự năm 2015 tại thời điểm thanh toán tương ứng với số tiền và thời gian chậm
thi hành.
Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thương mại dịch vụ
xuất nhập khẩu T hoàn trả choNguyễn Hoàng Nhã T giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản gắn liền với đất số CD 894492 do Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh Cà Mau cấp ngày 12/7/2016.
Án phí dân sự giá ngạch ông V T phải chịu 14.641.000 đồng (chưa
nộp).Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thương mại dịch vụ xuất
nhập khẩu T không phải nộp, ngày 03/10/2017 đã dự nộp 7.320.000 đồng vào tại
lai số 0003730 được hoàn lại.
Án pdân sự phúc thẩm: Ông V, T phải nộp 300.000 đồng. Ngày
05/01/2018 ông V T đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0000189 tại
Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được chuyển thu.
Các quyết định khác của bản án thẩm không bkháng cáo, kháng nghị đã
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân thành phố C;
- Chi cục THADS thành phố C;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT (TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Hà Thanh Hùng
Tải về
Bản án số 70/2018/DS-PT Bản án số 70/2018/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất