Bản án số 697/2020/DS-PT ngày 22/12/2020 của TAND cấp cao tại TP.HCM về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 697/2020/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 697/2020/DS-PT ngày 22/12/2020 của TAND cấp cao tại TP.HCM về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm...
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND cấp cao tại TP.HCM
Số hiệu: 697/2020/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/12/2020
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.
Bản án số 697/2020/DS-PT
Ngày 22 - 12 - 2020
V/v: “Tranh chấp đòi quyền sử dụng
đất, tuyên bố văn bản công chứng vô
hiệu và yêu cầu hủy quyết định cá biệt
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Đinh Ngọc Thu Hương
Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Ý
Ông Phạm Văn Công
- Thư phiên tòa: Phan Thanh Trúc - Thư Tòa án nhân dân cấp
cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
Ông Nguyễn Trí Dũng - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 22 tháng 12 năm 2020 ti tr s Tòa án nhân dân cp cao ti Thành
ph H Chí Minh, xét x phúc thm công khai, v án th s:
332/2020/TLPT-DS ngày 05 tháng 6 năm 2020 v Tranh chấp đòi lại tài sản
quyền sử dụng đất, tuyên bố văn bản công chứng hiệu yêu cầu hủy quyết
định cá biệt là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2019/DS-ST ngày 27 tháng 12 năm 2019
của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1982/2020/QĐ- PT
ngày 20 tháng 7 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số: 200/2020/QĐ- PT
ngày 11 tháng 8 năm 2020; Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số:
2297/2020/QĐ- PT ngày 11 tháng 8 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số:
300/2020/QĐ- PT ngày 23 tháng 9 năm 2020; Quyết định đưa vụ án ra xét xử
phúc thẩm số: 3652/2020/QĐ- PT ngày 28 tháng 9 năm 2020; Quyết định hoãn
phiên tòa số: 314/2020/QĐ- PT ngày 20 tháng 10 năm 2020; Quyết định đưa vụ
án ra xét xử phúc thẩm số: 4003/2020/QĐ- PT ngày 20 tháng 10 năm 2020;
Quyết định hoãn phiên tòa số: 335/2020/QĐ- PT ngày 16 tháng 11 năm 2020;
Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 4728/2020/QĐ-PT ngày 03 tháng
12 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Văn S, sinh năm 1950; Phan Thị H, sinh năm
2
1954;
Cùng địa chỉ: Ấp V, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện hợp pháp của ông S: Phan Thị H, sinh năm 1954 (theo
văn bản ủy quyền ngày 21/3/2017) (có mặt)
Người bo v quyn, li ích hp pháp của nguyên đơn: Luật Phan Th
Hoàng X Đoàn luật tỉnh Đng Nai; Luật Trn Hi Đ Đoàn Luật
Thành ph H Chí Minh (có mt).
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1964;
Địa chỉ thường trú: Số nhà 500/41/14 quốc lộ 1A, khu phố 5, phường B,
quận B1, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của chị D: Nguyễn Thị Lệ H1, (theo văn bản
ủy quyền ngày 12/11/2020)
Địa chỉ liên hệ: 217/4 đường X1, Phường 17, quận B1, Thành phố Hồ Chí
Minh.
Người bo v quyn, li ích hp pháp ca b đơn: Luật Nguyễn Văn
D1–Đoàn Luật sư Thành ph H Chí Minh (có mt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Trần Nguyễn Bình P1, sinh năm 1984 (xin vắng mặt).
2. Anh Trần Nguyễn Bình P2, sinh năm 1982 (xin vắng mặt).
Cùng địa chỉ: 224/38, ấp 2, X2, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Cùng địa chỉ
tạm trú: Ấp V, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
3. Anh Trần Nguyễn Bình M, sinh năm 1988 (xin vắng mặt).
4. Ch Hunh Th T, sinh năm 1989 (xin vng mt).
Cùng địa ch: p V, xã P, huyn N, tỉnh Đồng Nai.
Người đại din theo y quyn ca anh (ch): P1, P2, M, T: Ch Nguyn
Th D (Văn bản y quyn ngày 12/10/2019). (vng mt).
5. S Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh Đ1;
Địa ch: s 520 đưng Đ2, phường T1, thành ph B2, tnh Đồng Nai.
Người đại din hp pháp ca S Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh Đ1: Ông
Nguyễn Thành Đ3; Chc v: Giám đốc Văn phòng đăng đất đai tỉnh Đ1- chi
nhánh N (văn bản y quyn s 1586/STNMT-VP ngày 29/3/2017). (có mt)
6. Phòng công chng s 1, tỉnh Đồng Nai; (xin vng mt)
Địa ch: S 1B, đường 30/4, phường T2, thành ph B2, tỉnh Đồng Nai.
3
7. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1966; (xin vng mt).
Địa ch: S nhà 1769, p V, xã P, huyn N, tỉnh Đồng Nai.
8. Bà Nguyn Th D2(Nguyen Thi D2), sinh năm 1954;
9. Ông Nguyễn Văn M1(Nguyen Van M1), sinh năm 1949;
Cùng ch cư trú: W Churchill 19.5623KV , E, Netherland (Hà Lan);
Người đại din theo y quyn ca D2, ông M1: Phan Th H, sinh
năm 1954 (có mt).
Nơi trú: p V, P, huyn N, tỉnh Đồng Nai (theo văn bản y quyn
ngày 23/01/2018).
- Người kháng cáo: Phan Thị H nguyên đơn chị Nguyễn Thị D
là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại các đơn khởi kiện ngày 06/4/2016, 27/12/2016, 01/10/2017, các bản
tường trình, biên bản đối chất tiếp theo; biên bản hòa giải không thành ngày
22/10/2019, ngày 13/11/2019 nguyên đơn đồng thời người đại diện theo ủy
quyền của nguyên đơn bà Phan Thị H trình bày:
Nguồn gốc phần đất 26.981m
2
thuộc các thửa 80, 81, 82, 94, 95, 96, 97,
98, 99, 100, 101, 113, 114, 115, 116, 117, 178, 179, 180, 181, 197, 198, 199 tờ
bản đồ số 87 (bản đồ mới); thửa 63 tờ bản đồ số 85 (bản đồ mới) xã P, huyện N,
tỉnh Đồng Nai do cụ Nguyễn Thị X3 cụ Nguyễn Thị H2 khai
hoang và canh tác từ trước năm 1975, nằm trong tổng diện tích đất 46.293m
2
hai cụ khai hoang. Đến năm 1999 cụ Nguyễn Thị X3 được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 46.293m
2
thuộc các thửa 102, 104, 144,
145, 146, 188 tờ bản đồ số 26 (cũ)P; thửa 101 tờ bản đồ số 17 (cũ) xã P; thửa
36, 37, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80,
88, 89, 90, 110, 111, 112, 113, 114, 123, 124, 205, 206, 207, 217, 218, 324 tờ
bản đồ số 27 (cũ) P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Cụ X3 cụ H2 hai chị em
cùng ở chung và cùng quản lý, sử dụng đất. Đến năm 2003, cụ X3 chết thì cụ H2
được thừa kế toàn bộ phần đất nói trên. Cụ X3 có 01 người con gái là bà Nguyễn
Thị D2(sinh năm 1954). Tuy nhiên, bà D2 cùng gia đình đã đi định cư ở Hà Lan
nên D2 đã đồng ý để cho cụ H2 đứng tên thừa kế toàn bộ quyền sử dụng đất
của cụ X3. Ngày 02/4/2010, cụ Nguyn Thị H2 lập di chúc (di chúc ngày
02/4/2010, công chứng số 1555 quyển số 04 của Phòng công chứng số 1, tỉnh
Đồng Nai) đ lại cho vợ, chồng diện ch đất 26.981m
2
ti p V, xã P, huyn N,
tnh Đng Nai, trong đó có tha đất số 81, 82 tờ bn đố số 87 P tổng din tích
3.947m
2
. Thời diểm lập di cc c H2 đã đưc cp giấy chứng nhn quyn s dụng
đt đối vi toàn bphn đất i trên. Di cc đưc công chng, chứng thc theo
4
đúng quy định tại png công chứng số 1 tnh Đồng Nai. Tn cơ s di cc trên vợ
chồng đã được cấp giấy chứng nhn quyền s dng đt đối vi hai thửa đất s81,
82 tờ bản đ số 87 xã P trêno năm 2014. Tm 2005, bà cho chị Nguyễn Thị D
nhờ trên đất, việc cho ở nh chỉ nói miệng không làm giy tờ. Nhiều lần bà yêu
cu chị D tr lại diện ch đt đã mưn nng chD không đồng ý. Nay vchồng
khi kin yêu cầu chị Nguyễn Thị D dỡ bỏ công trình xây dựng, trả lại cho vợ
chồng D2 tích đất 1.127m
2
, thửa đất số 82, tờ bản đồ số 87 P, huyện N,
tỉnh Đồng Nai theo bản vẽ trích lục đo vẽ khu đất bản đồ địa chính số
1866/2017 ngày 14/4/2017 của Văn phòng đăng đất đai tỉnh Đồng Nai Chi
nhánh N, cụ thể:
- Yêu cầu chị Nguyễn Thị D dỡ bỏ công trình xây dựng, trả lại cho ông S,
H diện tích đất 1.127m
2
thuộc thửa 82, tờ bản đồ số 87 P, huyện N, tỉnh
Đồng Nai.
xác định diện tích cây Tràm Lúa trên phần đất tranh chấp là do ông
Nguyễn Văn C trồng, không tranh chấp đối với các phần cây Tràm, Lúa
này, bà và ông C sẽ tự thỏa thuận giải quyết.
đã được sao chụp, tiếp cận công khai, đầy đtoàn bộ các tài liệu do bị
đơn, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan cung cấp Tòa án thu thập.
không có ý kiến gì đối với các tài liệu chứng cứ đã được công khai.
Đối với chứng thư thẩm định giá số 140/TĐG-CT ngày 30/09/2019 đồng
ý với giá trị tài sản trong chứng thư thẩm định giá, đồng ý với bản vẽ trích lục và
đo vkhu đất bản đồ địa chính số 1866/2017 ngày 14/4/2017 của Văn phòng
đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai – Chi nhánh N
- Tại đơn phản tố ngày 06/3/2017, 08/6/2017, 25/9/2017, các bản tường
trình các lời khai tiếp theo, biên bản hòa giải không thành ngày 22/10/2019,
ngày 13/11/2019 bị đơn chị Nguyễn Thị D trình bày:
Nguồn gốc phần đất tranh chấp 26.981m
2
thuộc các thửa 198, 94, 95, 80,
199, 197, 181, 180, 179, 178, 82, 117, 81, 98, 101, 96, 99, 97, 100, 113, 114,
115, 116 tờ bản đồ số 87 (bản đồ mới); thửa 63 tờ bản đồ số 85 (bản đồ mới)
P, huyện N, tỉnh Đồng Nai nằm trong tổng diện tích đất 46.293m
2
thuộc các
thửa 102, 104, 144, 145, 146, 188 tbản đồ số 26 (cũ) xã P; thửa 101 tờ bản đồ
số 17 (cũ) xã P; thửa 36, 37, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 70, 71, 72, 73, 74, 75,
76, 77, 78, 79, 80, 88, 89, 90, 110, 111, 112, 113, 114, 123, 124, 205, 206, 207,
217, 218, 324 tờ bản đồ số 27 (cũ) P, huyện N, tỉnh Đồng Nai do ông cố,
cố chị (ông L1, T3) để lại ông nội chị (ông Nguyễn Văn Đ4) hai
chị (bà Nguyễn Thị X3, Nguyễn Thị H2) từ ngày trước giải phóng. Sau khi
ông nội chị chết thì cha chị cùng với cụ X3, cụ H2 ở trên đất và quản lý, sử dụng
đất. Sau đó cha chị lấy vợ sinh ra chị. Đến năm 1966 thì cha chị chết, mẹ chị
tái giá đi nơi khác, hai X3, H2 nuôi chị và tiếp tục quản lý, sử dụng
đất. Khi chị lớn thì chị cùng hai cùng quản lý, sử dụng đất. Năm 1999,
Nguyễn Thị X3 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với toàn bộ
phần đất 46.293m
2
nói trên, chị biết và không ý kiến gì. Năm 2003, X3
5
chết, bà H2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất
trên theo diện thừa kế, nhưng H2 làm thủ tục nhận thừa kế chị không hề
biết. Đến năm 2008, khi D2 (con X3) về nước, chia đất đuổi đánh
chị đi, phát sinh tranh chấp ra UBND thì chị mới biết H2 đã được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với toàn bộ phần đất của X3. Đến
năm 2008 thì H2 khởi kiện chị tại Tòa án nhân dân huyện N, vụ án sau đó
bị đình chỉ; năm 2012, chị khởi kiện H2 tại Tòa án nhân dân huyện N
nhưng đến năm 2014 thì bà cô H2 chết nên vụ án bị đình chỉ.
Chị không biết việc H2 lập di chúc cho ông S, H thừa kế quyền
sử dụng đất vào năm 2010. Đến năm 2016, khi ông S H khởi kiện chị tại Tòa
án nhân dân huyện N trong vụ án này thì chị mới biết về di chúc nói trên của
cô H2.
Về nguồn gốc đất thửa 82, tờ bản đồ số 87 P trước đây của ông cố,
cố chị tên ông Nguyễn Văn L1, Huỳnh Thị T3 chết để lại cho ông nội chị
ông Nguyễn Văn Đ4, khi ông Đ4 chết đlại phần đất trên cho cha chị ông
Nguyễn Văn D3 canh tác sử dụng từ năm 1966, khi cha chị chết thì cô X3
H2tiếp tục canh tác phần đất này nuôi chị từ nhỏ cho đến nay. Năm
1980, chị lập gia đình, cất nhà trên đất canh tác cho đến nay. Việc H,
ông S khởi kiện đòi lại tài sản là diện tích đất 1.127 m
2
đất thửa 82, tờ bản đồ số
87 P, huyện N, tỉnh Đồng Nai chị không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn vì đây là tài sản chị được thừa hưởng lại của ông bà tổ tiên để lại.
Chị phản tố yêu cầu:
- Buộc ông S, Htrả lại cho tôi diện tích đất 26.981m
2
thuộc các thửa
198, 94, 95, 80, 199, 197, 181, 180, 179, 178, 82, 117, 81, 98, 101, 96, 99, 97,
100, 113, 114, 115, 116 tờ bản đồ số 87 (bản đồ mới); thửa 63 tbản đồ số 85
(bản đồ mới) xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
- Hủy toàn bộ các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở
tài sản khác gắn liền với đất do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh Đ1 cấp
cho ông Văn S và bà Phan Thị H ngày 17/10/2014, gồm các giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số: BV
153943, BV 153944, BV 153945, BV 153946, BV 153947, BV 153949, BV
153948, BV 153950, BV 153951, BV 153952, BV 153942, BV 153953, BV
153969, BV 153963, BV 153962, BV 153961, BV 153960, BV 153959, BV
153958, BV 153957, BV 153956, BV 153955, BV 153954, BV 153964.
- Yêu cầu hủy bản Di chúc của cụ Nguyễn Thị H2 được công chứng số
1555 quyển số 04/TP/C-SCC/HĐGD ngày 02/4/2010 tại Phòng công chứng số 1
tỉnh Đồng Nai, do thời điểm ký di chúc cụ H2 không còn minh mẫn, bép
buộc ký di chúc.
Đối vi tài sn tn thửa đất s 63, t bản đồ số 85 P ch cũng yêu cu Tòa
án buộc bà H phi tr lại n, đt giao cho ch qun , sử dụng.
6
Chị xác định diện tích cây Tràm, Lúa trên phần đất tranh chấp là do ông
Nguyễn Văn C trồng, chị không tranh chấp đối với các phần cây Tràm, Lúa
này, sẽ tự thỏa thuận giải quyết.
Đối với chứng thư thẩm định giá số 140/TĐG-CT ngày 30/09/2019 chị
đồng ý với giá trị tài sản trong chứng thư thẩm định giá; đồng ý với bản vẽ trích
lục đo vẽ khu đất bản đồ địa chính số 1866/2017 ngày 14/4/2017 của Văn
phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai – Chi nhánh N.
Chị đã được sao chụp, tiếp cận công khai, đầy đủ toàn bộ các tài liệu do bị
đơn, người quyền lợi nghĩa vliên quan cung cấp Tòa án thu thập. Chị
không có ý kiến gì đối với các tài liệu chứng cứ đã được công khai.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 08/9/2017 ngày 10/10/2017, người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Nguyễn Bình P1, anh Trần Nguyễn Bình
P2, anh Trần Nguyễn Bình M, ch Hunh Th T trình bày ch Nguyn Th D
làm đại din trình bày ti phiên tòa:
Các anh ch con ch D, h khẩu thường trú ti X2, huyn L, tnh
Đồng Nai, nhưng đăng tm trú ti p V, P, huyn N, tỉnh Đồng Nai ti
tha 82, t 87 P. Nhà, đt tranh chấp đều là ca ch D to lp, các anh ch
không đóng góp công sc gì và không có ý kiến hay yêu cu gì trong v án này.
Đề ngh Tòa án xét x vng mt các anh ch.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 20/10/2017, người quyền lợi nghĩa vụ
liên quan ông Nguyễn Văn C trình bày:
Ông cháu ruột, gọi cụ Nguyễn Thị X3cụ Nguyễn Thị H2 ruột,
hiện tại trên phần đất các đương sự đang tranh chấp một số thửa đất (không
thửa 82) ông đang trồng tràm khoảng 02 năm tuổi. Khi còn sống, cụ H2
không canh tác trên các thửa đất này nên đã cho ông canh tác, năm thì ông
trồng tràm, có năm ttrồng khoai mỳ, đã thu hoạch nhiều lần trước đó. Sau khi
cụ H2 chết ông vẫn tiếp tục canh tác được phép của Nguyễn Thị D2, con cụ
X3. Việc ông canh tác không hợp đồng thuê đất, không phải trả tiền thuê đất
chủ yếu để quản đất giúp cho các cụ và D2, việc ông canh tác trên đất
phía chị D, ông S, H đều biết và không ai có ý kiến gì. Trong vụ án này ông
không tranh chấp, không yêu cầu gì, việc ông canh tác trên đất ông sẽ tự
thỏa thuận với các đương sự sau khi Tòa án giải quyết vụ án này, ông không
yêu cầu và ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt ông.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 23/01/2018, người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan Nguyn Th D2(Nguyen Thi D2), ông Nguyễn Văn M1(Nguyen Van
M1) do bà Phan Th H và ông Lê Văn S làm đại din trình bày:
Nguyn Th D2 con rut ca c Nguyn Th X3 cháu rut gi
c Nguyn Th H2 dì. D2, ông M1 đang trú tại Lan. Nay xy ra
tranh chp gia ông S, H vi ch D ông bà thng nht ý kiến vi ông S, H
7
đã trình bày cho Tòa án ông không yêu cu y quyn cho H,
ông S đưc thay mặt bà để tham gia t tng ti Tòa án khi gii quyết v án này.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sở Tài Nguyên Môi Trường do
ông Nguyễn Thành Đ3 - Giám đốc văn phòng đăng đất đai tỉnh Đ1- Chi
nhánh N làm người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 07/8/2014 Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ1- Chi nhánh N, có tiếp
nhận hồ thừa kế quyền sử dụng (viết tắt QSD) đất của ông Văn S
Phan Thị H, biên nhận số 6457 từ bộ phận tiếp nhận và trả kết quả UBND huyện
N. Căn cứ theo di chúc của cụ Nguyễn Thị H2 lập ngày 02/4/2010 được Văn
phòng công chứng số 1 tỉnh Đ1, công chứng cùng ngày văn bản khai nhận di
sản thừa kế của ông Văn S Phan Thị H (nhận di sản thừa kế từ
Nguyễn Thị H2) được Văn phòng công chứng K, địa chTrung tâm hành chính
huyện N đường Tôn Đức Thắng ấp Bình Phú, Long Tân, huyện Nhơn Tạch,
tỉnh Đồng Nai, công chứng văn bản ngày 24/6/2014 theo số công chứng 2331,
quyển số 01/2014/SCC/VBTK theo Điều 167, 188 Luật đất đai năm 2013
Điều 79 nghị định số 43/2014/ND-CP ngày 15/5/2014 của chính phủ về việc
quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đất đai. Việc Văn phòng đăng
đất đai tỉnh Đồng Nai- Chi nhánh N thẩm tra hồ sơ, lập thủ tục chuyển Văn
phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai, tham u Sở Tài Nguyên và Môi Trường
tỉnh Đ1 cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với số
giấy BV 153943, BV 153944, BV 153945, BV 153946,BV 153947, BV 153949,
BV 153948, BV 153950, BV 153951, BV 153952, BV 153942, BV 153953, BV
153969, BV 153963, BV 153962, BV 153961, BV 153960, BV 153959, BV
153958, BV 153957, BV 153956, BV 153955, BV 153954, BV 153964, cùng
cấp ngày 17/10/2014 cho Phan Thị H ông Văn S, thuộc thửa đất số:
198, 94, 95, 80, 199, 197, 181, 180, 179, 178, 82, 117, 81, 98, 101, 96, 99, 97,
100, 113, 114, 115, 116 tờ bản đồ số 87 (bản đồ mới); thửa 63 tbản đồ số 85
(bản đồ mới) xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai là đúng quy định pháp luật.
Nay ông S, H khởi kiện ông không ý kiến gì, đối với yêu cầu phản
tố của chị D ông không có ý kiến đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định
của pháp luật.
- Phòng công chứng số 1, tỉnh Đ1 do bà Phạm Thị Minh T4 đại diện theo
ủy quyền trình bày:
Qua xem xét hồ lưu trữ hồ ngày 02/5/2010, Phòng công chứng số 1
tỉnh Đ1 chứng nhận Di chúc của bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1928, số công
chứng 1555, quyển sổ số 04/TP/CC-SCC/HĐGD và do công chứng viên Bùi
Ngọc Hiếu chứng nhận. Đối với việc thông báo việc sửa đổi, bổ sung thay thế,
hủy bỏ di chúc, Luật công chứng quy định: Trong trường hợp di chúc trước đó
đang được lưu giữ tại một tổ chức hành nghề công chứng thì người lập di chúc
phải thông báo cho tổ chức hành nghề công chứng đó biết việc sửa đổi, bổ sung,
thay thế, hủy bỏ di chúc.
8
Đối với việc tranh chấp quyền sử dụng đất yêu cầu Tòa án” Hủy giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, Hủy bản di chúc”, Phòng công chứng số 1 tỉnh
Đ1 không có ý kiến gì khác, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Bản án dân sự thẩm số 22/2019/DS-ST ngày 27 tháng 12 m 2019
của Toà án nhân dân tỉnh Đng Nai đã quyết định:
1. Chp nhn mt phn yêu cu khi kin ca nguyên đơn ông Văn
S và bà Phan Th H.
Công nhn ch Nguyn Th D đưc quyn s dụng đất 1.127m
2
trn tha
82 t s 87 bản đồ địa chính P, huyn N,tỉnh Đồng Nai theo Bn trích lc
đo vẽ khu đất s 1866/2017 ngày 14/4/2017 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh
Đồng Nai - chi nhánh N đính kèm.
Hy giy chng nhn quyn s dụng đt s CS 07974 do S Tài Nguyên
và Môi Trường tỉnh Đ1 cp cho ông Lê Văn S, bà Phan Th H ngày 17/10/2014.
Ch D quyn liên h với các quan nhà c thm quyền để xin
cp giy chng nhn quyn s dụng đất tha 82 t s 87 bản đồ địa chính xã P,
huyn N tỉnh Đồng Nai.
Buc ch Nguyn Th D thanh toán cho ông Văn S bà Phan Th H
s tiền 5.166.800.000 (năm t mt trăm sáu mươi sáu triệu tám trăm ngàn đồng).
2. Không chp nhn yêu cu phn t ca b đơn ch Nguyn Th D đòi
nguyên đơn bà Phan Th H, ông Lê Văn S tr li tài sn là quyn s dụng đất các
tha 80, 81, 94, 95, 96, 97, 99, 100, 101, 113, 114, 115, 116, 117, 178, 179, 180,
181, 197, 198, 199 t s 87 bản đồ địa chính xã P, huyn N, tỉnh Đồng Nai
tha 63 t s 85 bản đồ địa chính xã P, huyn N, tỉnh Đồng Nai.
Không chp nhn yêu cu phn t hy giy chng nhn quyn s dụng đất
quyn s hu nhà tài sn khác gn lin với đất s BV 153943, BV 153944,
BV 153945, BV 153946, BV 153947, BV 153949, BV 153948, BV 153950, BV
153951, BV 153952, BV 153942, BV 153953, BV 153969, BV 153963, BV
153962, BV 153961, BV 153960, BV 153959, BV 153958, BV 153957, BV
153956, BV 153955, BV 153954, BV 153964 do S Tài Nguyên và Môi Trường
tỉnh Đ1 cp cho ông Lê Văn Sbà Phan Th H ngày 17/10/2014,
Không chp nhn yêu cu phn t hy Bn Di chúc ca c Nguyn Th
H2 đưc công chng s 1555 quyn s 04/TP/C-SCC/HĐGD ngày 02/4/2010
ti Phòng công chng s 1 tỉnh Đ1.
9
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng như giám định chữ
ký, định giá tài sản, án phí dân sự thẩm, trách nhiệm thi hành án quyền
kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 09/01/2020, bà Phan Th H nguyên đơn kháng cáo mt phn bn
án thẩm, đề ngh sửa án theo ng chp nhn toàn b yêu cu ca nguyên
đơn.
Ngày 11/2/2020, ch Nguyn Th D là b đơn có đơn kháng cáo toàn b bn
án thẩm, đ ngh hủy án thẩm để xét x li, bác toàn b u cu khi kin
của nguyên đơn.
Ti phiên tòa phúc thm, Phan Th H rút lại đơn kháng cáo, đồng ý ch
D tr li cho bà 50% giá tr QSD đất theo giá các bên đã thỏa thuận. H đại
din theo y quyn ca ch Nguyn Th D vn gi nguyên yêu cu kháng cáo,
ngưi khi kin vn gi nguyên yêu cu khi kiện, các đương s không t tha
thuận được vi nhau v vic gii quyết v án.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày:
Về nguồn gốc đất: Đất nguồn gốc do ông của cụ X3 để lại, không
phải đất khai hoang
Cụ X3, cụ H2 không công khai phá người sử dụng đất từ trước.
Đơn đăng quyền sử dụng đất của cụ H2, tờ trình cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho cụ H2, tờ trình của xã P, văn bản số 06 của UBND xã P đều xác
định đất do ông bà chết để lại.
Văn bản 2100 ngày 03/4/2017, UBND huyện N cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho cụ X3. Chị D thời gian trực tiếp canh tác đất đai. Năm
1980, chị D lấy chồng, được cụ X3 giao đất canh tác ruộng vườn. Sau đó, năm
1999 chị D chuyển đi nhưng vẫn được giao đất canh tác. Biên bản ngày
19/9/2008, D2 (con cụ X3) thừa nhận cụ X3 cho chị D đất để cất nhà
cho đất ruộng để canh tác. Biên bản lấy lời khai của ông C thì ông C trình
bày cụ X3 cho mượn đất để cất nhà đất ruộng khoảng 4 hécta ông C
làm công cho chị D. Biên bản làm việc ngày 14/04/2010, năm 1980 chị D
chồng và có cho diện tích ở.
Như vậy, với những chứng cứ trên, chị D có được cho đất ở.
Thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ X3 thì đủ điều
kiện cấp giấy chứng nhận nhưng cấp không đúng đối tượng, có nhiều sai sót, hồ
hiện nay không còn. Diện tích trong hồ nhiều số liệu 26.981m
2
. Năm
2008, cụ H2 khởi kiện đòi 14.000m
2
, không đòi đất có nhà, đòi đất canh tác. Sau
đó vụ án bị đình chỉ, chị D tiếp tục khiếu nại đòi 14.000m
2
theo đơn khởi kiện
của cụ H2 ban đầu. Như vậy, sở chị D đủ điều kiện cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng vào thời điểm cụ X3 được cấp giấy. Di chúc của cụ X3 cho
cụ H2 hiệu cụ X3 không quyền sử dụng đất. Việc cấp sổ, cấp giấy sai
cho cụ H2 cụ H2 làm di chúc cho ông S, H cũng bhiệu về mặt nội
dung. Di chúc cho ông S, H hiệu thời điểm lập di chúc, chị D đang
10
tranh chấp. Chị D đơn yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
cụ H2. Tháng 5/2010, sau thời gian đó, UBND mới ban hành văn bản trả lời cho
chị D. Thời điểm lập di chúc, đất đang có tranh chấp nên di chúc trái pháp luật.
Di chúc có dấu hiệu giả cách vì D2 ở nước ngoài nên ông S, bà H đứng
tên. Tại mục 4 của di chúc có nêu, sau khi cụ H2 qua đời, ông S, bà H có sự thay
đổi, phải xin ý kiến của D2, ông M1. Như vậy, ông S, H chỉ được giao
quyền quản lý sử dụng, người thực tế định đoạt không phải ông S, bà H.
Ngày 27/3/2018, Hcho rằng D2, ông M1 ủy quyền cho bà, khởi
kiện hỏi ý kiến của bà D2. Cụ H2 không con, cụ H2 lập di chúc hỏi ý
kiến của D2. Vợ chồng bà D2 chọn mặt gởi vàng và lập di chúc cho H. Di
chúc đúng ý chí của cụ H2 không hạn chế quyền định đoạt là trái pháp
luật.
Năm 2003, cụ H 2có lập di chúc cho ông C, sau đó chuyển sang ông S,
H. Chị D là con cháu lại không được thừa hưởng, cấp sơ thẩm tuyên xử là không
đúng. chị D đã được chuyển giao đất từ năm 1980. Đề nghị sửa án sơ thẩm,
công nhận quyền sử dụng đất cho chị D 26.981m
2
hoặc tối thiểu 14.000m
2
.
Nếu Hội đồng xét xử thấy chưa đủ cơ sở thì hủy án sơ thẩm để xét xử lại.
H3 trình bày:
Cụ X3 chết không di chúc, cụ H2 khai nhận thừa kế của cụ X3,
quyền thừa kế phải thủ tục sang tên cho cH2. Như vậy, trình tự thủ tục
không đúng, sự can thiệp của D2 trong phần đất này. Bút lục 860 861,
biên bản làm việc của thanh tra huyện N, H nói quyền sử dụng đất của cụ
X3 chết, cụ H2 đứng tên, D2 đang điều khiển phần đất này. Người nước
ngoài không được thừa kế đất nông nghiệp. D2 không có quyền. Chị D được
giao công khai đất sử dụng nhiều năm liền, nên D2 không được can thiệp. Di
chúc năm 2010 hiệu tranh chấp đang diễn ra, các quan đang giải quyết.
Ngày 19/5/2010, UBND huyện N thông qua biên bản làm việc của UBND xã,
thanh tra, UBND huyện N mới ra văn bản trả lời.
Tại thời điểm cụ H2 lập di chúc, đất đang tranh chấp, cụ H2 không
được để thừa kế cho người khác. Cụ H2 lập di chúc cho ông S, H trong thời
gian tranh chấp nên di chúc hiệu. Năm 2014, cụ H2 chết nên tranh chấp
giữa chị D với cụ H2 ông S, Hđ ại diện. H, ông S sang tên quyền sử
dụng đất cho chính mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét
các tình tiết của vụ án, công sức của chị D trong vụ án này. Chị D người thừa
kế trên mảnh đất này đtuyên di chúc vô hiệu, hủy btoàn bộ giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất ông S, bà H đứng tên.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông S, bà H trình bày:
Quyền sử dụng đất của cụ H2 được nhà nước công nhận cấp giấy
chứng nhận cho nguyên đơn đúng, bị đơn cho rằng trái pháp luật không
chứng cứ. quan nhà nước thẩm quyền khi soạn thảo Luật đất đai, đã cấp
đất cho người trực tiếp sử dụng đất. Quá trình cấp công khai, thủ tục lập theo
11
đúng quy định, được niêm yết công khai. Bị đơn không có cản trở, ngăn cản việc
cấp giấy. Quá trình cấp giấy, cấp phần đất bị đơn đang quản lý sử dụng vì nguồn
gốc của cụ H2. Biên bản xác minh tại địa phương, thì bị đơn xin được cho
mảnh đất này. Bị đơn không đăng quyền sử dụng đất, không thực hiện
quyền của người sử dụng đất. Hiện nay chưa quan nào tuyên di chúc
hiệu vi phạm điều cấm. Bị đơn cho rằng di chúc hiệu không đúng. Ý
muốn của cụ H2 không ai ngăn cản. Quyền thừa kế của nhân, thời điểm
mở thừa kế, ông S, H đủ năng lực hành vi. Di chúc công chứng, chứng
thực phù hợp về nội dung và hình thức. Khi tiến hành lập di chúc, có giấy chứng
nhận sức khỏe của bệnh viện tỉnh Đồng Nai. Cụ H2 đủ sáng suốt, minh mẫn để
lập di chúc. Tòa án cấp thẩm cũng giám định dấu vân tay của cụ H2 theo yêu
cầu của bị đơn. Di chúc hợp pháp. Đại diện bị đơn người bảo vệ không
chứng cứ chứng minh cụ H2 lập di chúc không sáng suốt. Ông S, H đã làm
thủ tục khai nhận di sản thừa kế, đăng niêm yết công khai theo quy
định pháp luật. Bản án thẩm đã khẳng định tài liệu được xem xét thận trọng,
giải quyết đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa một phần bản án
thẩm, căn cứ biên bản làm việc thống nhất giá trị tài sản tranh chấp, giữ nguyên
các phần còn lại. Bác yêu cầu phản tố, yêu cầu kháng cáo của bị đơn.
Bà H trình bày: Thống nhất với ý kiến của người bảo vệ.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày:
Chị D yêu cầu phản tố, Tòa án thẩm quyền xem xét việc cấp giấy
cho Hiếu, cụ X3 trước đó. UBND phải xuất trình chứng cứ để xác định việc
cấp giấy đúng nhưng Ủy ban trả lời hiện nay không còn hồ sơ, việc cấp giấy
không hồ sơ trái pháp luật. Chị D thời gian, quá trình sử dụng canh tác
đất. Đến năm 1999, cụ X3 được cấp sổ, đã cấp luôn phần chị D đang canh tác.
Việc cấp đất cho người trực tiếp canh tác, thời điểm cấp scho cụ X3. Ngày
16/7/1999, chị D mới cấp sổ hộ khẩu. Tháng 4/1999, cụ X3 mới được cấp sổ. Cụ
X3 đã kê khai để được cấp giấy vào năm 1998. Cụ X3, cụ H2 trên 70 tuổi có còn
đủ sức lao động để canh tác không. Việc cấp đất cho cụ X3, bị đơn không khiếu
nại, quy trình công khai, bị đơn không biết nên không khiếu nại. Chị D không
đăng ký đất, không có nghĩa là chị D không có quyền sử dụng đất.
Bà Hằng trình bày:
Phần đất tranh chấp chị D mới người trực canh, cấp cho cụ X3 sai,
trái pháp luật. TAND huyện Nhơn Trạch đang giải quyết tranh chấp ông S, H
mà không báo cho Tòa biết.
Biên bản làm việc giữa Tòa án UBND huyện N, P thừa nhận sai
sót khi xác định đất có tranh chấp để sang tên cho ông S, H. Hồ đầy đủ
chứng cứ chứng minh trong quá trình lập di chúc của cụ H2 đất đang tranh
chấp.
Kim sát viên tham gia phiên tòa phát biu ý kiến ca Vin kim sát v
vic tuân theo pháp lut trong quá trình gii quyết v án giai đoạn phúc thm:
12
Thm phán - Ch ta phiên tòa và Hội đồng xét x đã thực hiện đúng theo
quy định ca B lut t tng dân sự; các đương sự tham gia t tng chp hành
đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định ca B lut t tng dân s.
Về nội dung: Bản án thẩm xét xử căn cứ. Tại phiên tòa, trước khi
diễn ra phiên tòa, các đương sự thỏa thuận về giá trị QSD đất. Sự tự nguyện
căn cứ, đúng quy định pháp luật, ch D trả 1.044.000 000 đồng làm tròn
1.000.000.000 đồng cho vợ chồng ông S, H. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối
với kháng cáo của nguyên đơn do nguyên đơn rút yêu cầu kháng cáo. Sửa bản
án sơ thẩm về giá trị hoàn lại. Các phần khác của án sơ thẩm giữ nguyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Tòa án cấp thẩm đã xác định đúng quan h pháp lut tranh chp,
th gii quyết v án đúng thẩm quyền theo quy định ca B lut t tng
dân s.
[2] Xét kháng cáo ca bà Phan Th H, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Tại phiên tòa phúc thẩm, Phan Thị H đã đồng ý rút lại đơn kháng cáo.
Việc rút đơn kháng cáo của bà Hl à hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật do
đó Hội đồng xét xử chấp nhận việc t đơn kháng cáo của H, đình chỉ xét xử
phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà H.
[3] Xét kháng cáo ca ch Nguyn Th D, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[3.1] Nguồn gốc din ch đất 26.891m
2
ti ấp V, P, huyn N, tỉnh Đồng
Nai của cha mẹ cụ Nguyễn Văn Đ4 khai phá để lại. Năm 1952 khi cụ Đ4 chết
để lại cho cho con ông Nguyễn Văn D3(cha chị D) cụ Nguyễn Thị X3, cụ
Nguyễn Thị H2(cô của chị D) quản canh tác. Năm 1966 ông D3 chết cụ X3,
cụ H2 tiếp tục quản lý sử dụng và nuôi dưỡng chị Nguyễn Thị D.
Theo hồ sơ đăng ký, khai sau năm 1975 do các cơ quản quản lý đất đai
gồm: Ủy ban nhân dân xã P, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai cung cấp
thì thể hiện nguồn gốc đất tranh chấp do cụ X3 cụ H2 khai phá trước năm
1975.
[3.2] m 1999, cụ Nguyễn Thị X3 đã đăng ký, khai, nộp thuế xác
lập chủ quyền, trong năm 1999 thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho cụ X3 tất cả mọi người trong đó chị D đều biết không ai phản đối,
ngăn cản hay tranh chấp gì.
Cụ X3 người trực canh từ trước sau 1975 cho đến khi qua đời năm
2003 do đó cấp quyền sử dụng đất cho cụ X3 đúng quy định.
Theo biên bản làm việc ngày 02/8/2008, thanh tra huyện UBND huyện N,
chị D trình bày vào trên phần đất này năm 1995 về L một thời gian. Năm
2005 về cất nhà cho đến này. Như vậy năm 1999, khi cấp đất cho cụ X3,
không có chị D ở.
13
Hơn nữa, theo quyết định thuận tình ly hôn thì chị D chỉ sở hữu căn nhà
20 gilúa, 4 con bò. Biên bản hòa giải năm 1992 (Bút lục 802), chị D khai tài
sản đã bán không còn. Căn nđã hư, hoàn toàn không đề cập đến đất
được cho trong khi vợ chồng đã về ở trên đất này từ năm 1980.
(Bút lục 123) Biên bản hòa giải gây rối trật tự ngày 19/9/2008, chị D trình
bày nguyện vọng nhận một phần đất để có nơi thờ cha, số còn lại muốn chia cho
ai thì chia.
Năm 2003 cụ X3 chết, cụ H2 tiếp tục quản lý canh tác diện tích đất trên.
Năm 2003 cụ Nguyễn Thị H2 đăng khai đối với diện tích 26.891m
2
ti ấp V, P, huyện N và đã được cấp GCNQSDĐ (bút lục số: 42).
Năm 2010 cụ H2 đi đăng ký khai lại, tách ra thành các thửa 198, 94,
95, 80, 199, 197, 181, 180, 179, 178, 82, 117, 81, 98, 101, 96, 99, 97, 100, 113,
114, 115, 116 tờ bản đồ 87(bản đồ mới) P huyện N, tỉnh Đồng Nai được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất(bút lục số: 599, 564, 569, 574, 579, 584,
589, 594, 599, 604, 609, 614, 619, 624, 629, 634, 639, 644, 649).
[2.3] Chị D không phải hàng thừa kế thứ nhất của cố Nguyễn Văn L1, cố
Huỳnh Thị T3, không thuộc diện thừa kế thế vị của các cố, cũng không phải
hàng thừa kế thứ nhất của cụ X3cụ H2 nên không có quyền gì tranh chấp các
tài sản nói trên. Cụ X3 cụ H2 đã xác lập hợp pháp quyền sử dụng đất, chị D
cho rằng con, cháu của cụ Nguyễn Văn Đ4 ông Nguyễn Văn D3 thì
cũng không quyền tranh chấp cụ X3, cụ H2 đã xác lập hợp pháp quyền
sử dụng đất của mình theo Luật đất đai năm 1993, cấp cho người trực tiếp sử
dụng đất.
Do ông nội chị D mất sớm nên cụ X3 và cụ H2 nuôi cha của chị D, sau đó
cha chị D mất sớm, khi chị mới khoảng 4 tuổi, nên chị D được cH2, cụ X3
bà cô (em ông nội) tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc từ nhỏ, lớn lên lấy chồng được
hai cụ cho riêng trên hai thửa đất 36, 53 tờ số 27 Bản đồ địa chính năm 1996
hiện nay thửa đất số 82 tờ 87 bản đồ địa chính năm 2008. Chị D cho rằng hai
cụ đã cho chị nhưng không giấy tờ tặng cho chứng cứ khác để chứng
minh; trong suốt quá trình trên đất Chị D không thực hiện việc đăng ký,
khai để thể hiện chủ quyền của mình mà chính cụ X3, cụ H2 thực hiện các nghĩa
vụ với nhà nước nên các cụ đã được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất. Khi
còn sống, trước đây, giữa cụ H2 chị D cũng đã phát sinh tranh chấp càng thể
hiện rằng cụ H2 không cho chị D đất. Tại đơn phản tố, chị D thừa nhận cụ H2,
cụ X3là người nuôi mình khôn lớn, nhưng sau khi lớn thì chị cùng hai cụ quản
lý, canh tác đất nên cho rằng toàn bộ những thửa đất của cụ X3 cụ H2 tài
sản chung của chị và hai cụ và tranh chấp đòi chia tài sản chung là không có căn
cứ pháp lý. Chị D chỉ là người được các cụ nuôi, chăm sóc như người cháu trong
gia đình tình ruột thịt. Lớn lên, chị cùng canh tác cũng chphụ giúp các
cụ cùng sinh sống, không thể vì thế mà đòi chia đất của các cụ.
[2.4] Ngày 02/4/2010 cụ Nguyễn Thị H2 lập “Di Chúc” cho Phan Thị
H, ông Lê Văn S toàn bộ diện tích đất (bút lục số: 10, 11, 12). Cụ H2 lập di chúc
14
cho quyền sử dụng đất tranh chấp cho H, ông S không trái pháp luật việc
ông S, H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hoàn toàn phù hợp
với qui định của pháp luật. Lời khai của H D2 cho rằng cụ X3, cụ H2
nuôi dưỡng và cho chị Diện ở nhờ là có căn cứ.
[2.5] Các đương sự thống nhất phần diện tích đất tranh chấp của các thửa
đất theo được xác định theo ranh bản đồ địa chính năm 2008 theo bản trích lục
đo vẽ số 1866/2017 ngày 14/4/2017 để làm căn cứ giải quyết tranh chấp,
thống nhất với giá trị theo chứng thư thẩm định giá của Công ty cổ phần thẩm
định giá Đồng Tiến.
[2.6] Chị D đã tng sinh sống, quản lý, sử dụng thửa đất số 82 từ năm
1980, sau đó về X2, huyện L, tỉnh Đồng Nai sinh sống đến năm 2005 thì
quay về lại trên đất và xây dựng nhà cửa ổn định nên phải tính công sức bảo
quản, giữ gì đất cho chị D. Tòa án cấp sơ thẩm xem xét đến tình cảm của cố X3,
cố H2 người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cha con chD từ đến khi
trưởng thành tính công sức cho chị D được hưởng 50% giá trị đất căn
cứ. Do chị D đã xây nhà cho các con sử dụng ổn định trên đất, nhu cầu về
nhà thật nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu đòi tài sản của
nguyên đơn nhưng buộc chị D trả lại bằng giá trị đất sau khi tính công sức cho
chị theo chứng thư thẩm định giá, buộc chị D thanh toán 50% giá trị đất cho
nguyên đơn là 5.166.800.000 đồng.
Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ CMinh đã mở phiên tòa
ngày 20/10/2020 và hoãn phiên tòa vì đại diện theo ủy quyền của chị D chị D
yêu cầu định giá lại Tòa án cấp thẩm định giá ngày 30/9/2019, sau đó
văn bản ngày 04/11/2019 giá trị tài sản có khác, có việc nâng giá trị tài sản tranh
chấp lên.
Tại biên bản làm việc ngày 03/12/2020, các đương sự thống nhất thỏa
thuận giá trị tài sản đang tranh chấp thửa đất số 82, tờ bản đồ số 87 như sau:
Phần đất thuộc lộ giới giao thông diện tích 190 m
2
có giá 140.000
đồng/m
2
thành tiền là 26.600.000 đồng.
Phần đất còn lại diện tích 937 m
2
giá 2.200.000 đồng/m
2
thành tiền
2.061.400.000 đồng.
Tổng cộng là 2.088.000.000 đồng. các đương sự thống nhất lấy giá này để
làm căn cứ giải quyết vụ án không ai yêu cầu định giá lại tài sản tranh chấp.
Do vậy, ch Nguyn Th D thanh toán cho ông Văn S Phan Th
H s tin 1.044.000.000 đồng.
[3] T nhng phân tích và nhận định nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét x
đúng pháp lut. Nhưng tại cp phúc thẩm, các đương sự thng nht li giá tri tài
sn tranh chp. Do đó Hi đồng xét x chp nhn kháng cáo ca b đơn, sa mt
phn án sơ thẩm theo giá tr tranh chp mi, điều chnh biên lai án phí và s tin
cho chính xác, tính li án phí dân s sơ thẩm và chi phí t tng.
15
V án được th ti Tòa án nhân dân huyn Nhơn Trạch tỉnh Đồng Nai
t tháng 5/2016 do đó tính án phí theo Pháp lnh án phí, l phí a án năm
2009. Ch Nguyn Th D chu án phí dân s sơ thẩm là 43.320.000 đồng.
Chi phí đnh giá tài sn tranh chp ln th nhất 8.257.276 đồng, ln th
hai 187.000.000 đồng, tng cộng là 195.257.276 đồng; Chi phí này mi bên chu
1/2 97.628.638 đồng. Do nguyên đơn đã np tm ng s tin này nên b đơn
ch Nguyn Th D phi hoàn tr cho nguyên đơn ông Văn S, Phan
Th H s tin 97.628.638 đồng.
Ý kiến của người bo v cho nguyên đơn ý kiến của người bo v ch
b đơn phù hợp mt phn vi nhận định ca Hội đồng xét x nên được chp
nhn mt phn.
[4] V án phí dân s phúc thm: Do sửa án các đương s không phi chu
án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ đim b khoản 1 Điều 289, khon 2 Điu 308 ca B lut t tng
dân s năm 2015;
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39 B lut t tng dân s
năm 2015;
Căn cứ Điu 688, 689, 692 ca B lut dân s năm 2005; Điu 688 ca
B lut Dân s năm 2015;
Căn c Điu 2, 6, 20 ca Luật đất đai năm 1993; Điều 33, 34, 50 ca Lut
đất đai năm 2003; Điều 3 ca Ngh định s 84/NĐ-CP của Chính phú hướng dn
thi hành Luật đất đai năm 2003; Điều 106, 203 ca Luật đất đai năm 2013; Điều
87 ca Ngh định s 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 ca Chính ph qui định
chi tiết thi hành mt s điu ca Luật đất đai năm 2013;
Căn cứ Ngh quyết s 326/2016/UBTVQH14 quy định v mc thu, min,
gim, thu, np, qun lý và s dng án phí, l phí Tòa án:
Chp nhn việc rút đơn kháng cáo ca Phan Th H. Đình chỉ xét x
phúc thẩm đối vi yêu cu kháng cáo ca bà Phan Th H.
Chp nhn mt phn kháng cáo ca ch Nguyn Th D; Sa mt phn Bn
án dân s sơ thẩm s 22/2019/DS-ST ngày 27/12/2019 ca Tòa án nhân dân tnh
Đồng Nai c th như sau:
1. Chp nhn mt phn yêu cu khi kin ca nguyên đơn ông Văn
S và bà Phan Th H.
16
Công nhn ch Nguyn Th D đưc quyn s dụng đất 1.127m
2
trn tha
82 t s 87 bản đồ địa chính P, huyn N,tỉnh Đồng Nai theo Bn trích lc
đo vẽ khu đất s 1866/2017 ngày 14/4/2017 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh
Đồng Nai - chi nhánh N đính kèm.
Hy giy chng nhn quyn s dụng đt s CS 07974 do S Tài Nguyên
và Môi Trường tỉnh Đ1 cp cho ông Lê Văn S, bà Phan Th H ngày 17/10/2014.
Ch D quyn liên h với các quan nhà c thm quyền để xin
cp giy chng nhn quyn s dụng đất tha 82 t s 87 bản đồ địa chính xã P,
huyn N tỉnh Đồng Nai.
Buc ch Nguyn Th D thanh toán cho ông Văn S Phan Th H
s tin 1.044.000.000 đồng.
2. Không chp nhn yêu cu phn t ca b đơn ch Nguyn Th D đòi
nguyên đơn bà Phan Th H, ông Lê Văn S tr li tài sn là quyn s dụng đất các
tha 80, 81, 94, 95, 96, 97, 99, 100, 101, 113, 114, 115, 116, 117, 178, 179, 180,
181, 197, 198, 199 t s 87 bản đồ địa chính xã P, huyn N, tỉnh Đồng Nai
tha 63 t s 85 bản đồ địa chính xã P, huyn N, tnh Đồng Nai.
Không chp nhn yêu cu phn t hy giy chng nhn quyn s dụng đất
quyn s hu nhà tài sn khác gn lin với đất s BV 153943, BV 153944,
BV 153945, BV 153946, BV 153947, BV 153949, BV 153948, BV 153950, BV
153951, BV 153952, BV 153942, BV 153953, BV 153969, BV 153963, BV
153962, BV 153961, BV 153960, BV 153959, BV 153958, BV 153957, BV
153956, BV 153955, BV 153954, BV 153964 do S Tài Nguyên và Môi Trường
tỉnh Đ1 cp cho ông Lê Văn Sbà Phan Th H ngày 17/10/2014,
Không chp nhn yêu cu phn t hy Bn Di chúc ca c Nguyn Th
H2đưc công chng s 1555 quyn s 04/TP/C-SCC/HĐGD ngày 02/4/2010 tại
Phòng công chng s 1 tỉnh Đồng Nai.
3. Chi phí t tng : Ch Nguyn Th D phi chu toàn b gm:
Ch Nguyn Th D phi chu: Chi phí gm đnh ch 2.700.000 đồng
(ch D đã nộp xong), chi pđo v các thửa đất tranh chp 7.379.000 đồng đã
nộp xong, chi phí định giá tài sn bng vic thành lp hội đồng định giá
1.100.000 đồng đã nộp xong;
Chi phí đnh giá tài sn tranh chp ln th nhất 8.257.276 đồng, ln th
hai 187.000.000 đồng, tng cộng là 195.257.276 đồng; Chi phí này mi bên chu
1/2 97.628.638 đồng. Do nguyên đơn đã np tm ng s tin này nên b đơn
17
ch Nguyn Th D phi hoàn tr cho nguyên đơn là ông Văn S, bà Phan
Th H s tiền 97.628.638 đồng.
4. Án phí dân s sơ thẩm:
Nguyên đơn ông Văn S, Phan Th H không phi chu án phí dân s
sơ thẩm, hoàn tr cho hai ông bà tm ứng án phí sơ thẩm đã nộp; hoàn tr li cho
ông S, H3.000.000 đồng theo biên lai thu tin s 002228 ngày 23/5/2016,
8.598.500 đồng theo biên lai thu tin s 001920 ngày 29/12/2016, 1.921.500
đồng theo biên lai thu tin s 1782 ngày 03/10/2017 ca Chi cc Thi hành án
dân s huyn N.
B đơn là chị Nguyn Th D phi chu án phí dân s thẩm 43.320.000
đồng, tr vào s tin tm ứng án phí đã nộp 21.000.000 đng theo biên lai thu
tin s 002589 ngày 08/3/2017 và 300.000 đồng theo biên lai thu tin s 001743
ngày 25/9/2017 ca Chi cc Thi hành án dân s huyn N, ch D còn phi np
tiếp 22.020.000 đồng.
5. Án phí dân s phúc thm: Ch Nguyn Th D không phi chu , hoàn li
cho ch D 300.000 đồng tin tm ứng án phí đã np theo biên lai thu tin s
0003720 ngày 12/02/2020.
K t ngày đơn yêu cầu thi hành án ca ông Văn S, Phan Th H
cho đến khi thi hành xong tt c các khon tin nêu trên, hàng tháng ch Nguyn
Th D còn phi chu khon tin lãi ca s tin còn phi thi hành theo mc lãi
suất được quy đnh ti khon 2 Điều 468 B Lut dân s năm 2015 tương ng
vi thời gian chưa thi hành án.
Trường hp quyết định được thi hành theo quy đnh tại Điều 2 Lut thi
hành án dân sự, người phi thi hành án dân s quyn tha thun thi hành án,
quyn yêu cu thi hành án, t nguyn thi hành án hoc b ng chế thi hành án
theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Lut thi hành án n s (đã sửa đổi,
b sung năm 2014). Thi hiệu thi hành án được thc hiện theo quy định tại Điều
30 Lut thi hành án dân s (đã sửa đổi, b sung năm 2014).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân ti cao;
- Vin kim sát nhân dân cp cao
ti Thành ph H Chí Minh;
- TAND tnh Đồng Nai;
- VKSND tnh Đồng Nai;
- Cc THADS tnh Đồng Nai;
- Đương sự;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
(Đã ký tên và đóng du)
18
-
- Lưu – (Án - Trúc).
Đinh Ngọc Thu Hương
Tải về
Bản án số 697/2020/DS-PT Bản án số 697/2020/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất