Bản án số 69/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TAND huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 69/2024/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 69/2024/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 69/2024/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 69/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TAND huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Giồng Trôm (TAND tỉnh Bến Tre) |
| Số hiệu: | 69/2024/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 26/04/2024 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Anh Nguyễn Thiện K yêu cầu được ly hôn với chị Hoàng Thị T, yêu cầu chị T tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung. Anh K cấp dưỡng nuôi 02 con, mỗi con mỗi tháng là 5.000.000 đồng. Tài sản chung |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN GIỒNG TRÔM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 69/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26-4-2024
V/v ly hôn và tranh chấp nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quốc Toàn
Bà Phạm Thị Thu Trang
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Lan Chi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm tham gia phiên
tòa: Bà Huỳnh Thị Duyên Em – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm,
tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 29/2024/TLST-HNGĐ
ngày 16 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm
2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 83/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm
2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thiện K, sinh năm 1990
Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn G, huyện G, tỉnh Bến Tre.
Bị đơn: Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1989
Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn G, huyện G, tỉnh Bến Tre.
Anh K có mặt. Chị T vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn
Thiện K trình bày:
Anh và chị Hoàng Thị T kết hôn vào năm 2015, trên cơ sở tự nguyện, có
đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh
và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 15/12/2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng
chung sống hạnh phúc được thời gian đầu. Đến đầu năm 2023, vợ chồng phát sinh
mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không có tiếng nói
2
chung nên đã sống ly thân từ tháng 4/2023 đến nay. Do xác định tình cảm vợ chồng
không còn hàn gắn được nữa nên anh yêu cầu được ly hôn với chị T.
Về con chung: Anh và chị T có 02 con chung là Nguyễn Thiện N, sinh ngày
18/10/2016 và Nguyễn Thiên K, sinh ngày 15/11/2022, hiện đang sống với chị T.
Anh yêu cầu chị T tiếp tục nuôi dưỡng cháu N, cháu K. Anh cấp dưỡng nuôi 02
con, mỗi con mỗi tháng là 5.000.000 đồng cho đến khi đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không có tranh chấp nên không yêu cầu
Tòa án xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Bị đơn chị Hoàng Thị T đã được tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng
mời đến Tòa án tham dự các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai
chứng cứ, hòa giải và dự phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án nhưng chị vắng mặt
không có lý do nên không có lời khai cũng như không có ý kiến phản đối đối với
yêu cầu khởi kiện của anh K.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký:
Thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Việc tuân theo pháp luật
của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn anh Nguyễn Thiện K đã thực hiện đúng,
đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng Dân
sự. Bị đơn chị Hoàng Thị T chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 72 của Bộ
luật Tố tụng Dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
anh Nguyễn Thiện K về việc ly hôn với chị Hoàng Thị T. Về con chung: Giao con
chung là cháu Nguyễn Thiện N, sinh ngày 18/10/2016 và Nguyễn Thiên K, sinh
ngày 15/11/2022 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng đến lúc đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng
nuôi con: Anh K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là 10.000.000đồng/tháng/02
con. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không có tranh chấp. Về nợ chung: anh K
khai không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
tại phiên tòa; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Anh Nguyễn Thiện K yêu cầu ly hôn và tranh chấp nuôi con
với chị Hoàng Thị T, cư trú tại khu phố B, thị trấn G, huyện G, tỉnh Bến Tre là vụ án
hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng
Trôm theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều
39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn chị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến
lần thứ hai nhưng vắng mặt tại tòa không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến

3
hành giải quyết vụ án vắng mặt chị T là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 của
Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Theo anh K trình bày, anh và chị Hoàng Thị T
kết hôn vào năm 2015, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân
dân phường P, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh và được cấp giấy chứng nhận kết
hôn ngày 15/12/2015 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật
bảo vệ. Theo đó, anh K cho rằng sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc
được thời gian đầu. Đến đầu năm 2023, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên
nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không có tiếng nói chung nên đã
sống ly thân từ tháng 4/2023 đến nay. Xét thấy, Tòa án đã tiến hành hòa giải để
anh K và chị T đoàn tụ nhưng chị T không đến tham dự các phiên hòa giải và anh
K kiên quyết yêu cầu được ly hôn với chị T, đã chứng tỏ anh chị không muốn hàn
gắn tình cảm vợ chồng. Hơn nữa, anh K và chị T không còn chung sống với nhau,
mỗi người có một cuộc sống riêng. Như vậy, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân
giữa anh K và chị T đã mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm, quan
tâm chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân
không đạt được. Vì vậy, căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội
đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh K đối với chị T là phù hợp.
[2.2] Về con chung: Anh K và chị T có 02 con chung là Nguyễn Thiện N,
sinh ngày 18/10/2016 và Nguyễn Thiên K, sinh ngày 15/11/2022. Anh K yêu cầu
chị T tiếp tục nuôi dưỡng cháu N, cháu K. Xét thấy, cháu N đã đủ 07 tuổi, thuộc
trường hợp phải lấy ý kiến con theo quy định tại khoản 3 Điều 208 của Bộ luật Tố
tụng Dân sự. Tòa án đã ra thông báo về việc lấy ý kiến con chưa thành niên nhưng
anh K và chị T không đưa con đến Tòa để lấy ý kiến theo quy định. Theo hướng
dẫn tại mục 8 phần I Giải đáp số 01/GĐ-TANDTC ngày 05/01/2018 của Tòa án
nhân dân tối cao thì nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên chỉ là một trong
những yếu tố Tòa án phải xem xét trong quá trình giải quyết vụ án, việc quyết định
giao con cho bên nào trực tiếp nuôi phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặc của con.
Mặt khác, theo quy định tại Điều 214, 217 của Bô luật Tố tụng Dân sự năm 2015
thì việc không lấy được lời khai của con không phải là căn cứ để đình chỉ hay tạm
đình chỉ giải quyết vụ án. Vì vậy, Tòa án tiếp tục tiến hành giải quyết vụ án theo
thủ tục chung mà không cần phải lấy ý kiến con chưa thành niên là phù hợp. Hiện
nay, cháu N, cháu K đang sinh sống ổn định với chị T và anh K cũng đồng ý để
chị T được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung. Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích
về mọi mặt của cháu N, cháu K, tránh làm xáo trộn cuộc sống hiện nay của 02 cháu,
cần giao cháu N, cháu K cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.
4
Về cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên
tòa anh K tự nguyện cấp dưỡng nuôi 02 con, mỗi con mỗi tháng là 5.000.000
đồng. Đây là sự tự nguyện của anh K, phù hợp với quy định của pháp luật nên
được Hội đồng xét xử chấp nhận. Buộc anh K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con,
mỗi con mỗi tháng là 5.000.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng được tính từ khi tuyên
án cho đến khi cháu N, cháu K đủ 18 tuổi.
[2.3] Về tài sản chung: Anh K tự thỏa thuận, không có tranh chấp nên Hội
đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.4] Về nợ chung: Anh K khai không có nên Hội đồng xét xử không xem
xét giải quyết.
[3] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm anh K phải chịu 300.000 đồng
nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà anh đã nộp là 300.000 đồng
theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0002748 ngày 09/01/2024
của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm.
Án phí cấp dưỡng nuôi con anh K phải chịu 300.000 đồng.
[4] Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng
Trôm phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Các
Điều 147, 227, 228, 273, 278 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 27 của Nghị quyết
số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội
quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn
Thiện K đối với chị Hoàng Thị T.
Anh Nguyễn Thiện K được ly hôn với chị Hoàng Thị T.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thiện N, sinh ngày 18/10/2016 và
Nguyễn Thiên K, sinh ngày 15/11/2022 cho chị Hoàng Thị T được tiếp tục trực
tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Buộc anh Nguyễn Thiện K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi
con mỗi tháng là 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng được tính từ
khi tuyên án cho đến khi cháu N, cháu K đủ 18 tuổi.
Anh Nguyễn Thiện K được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo
dục con chung, không ai được cản trở anh thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con
một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Toà án giải quyết thay đổi mức cấp dưỡng
nuôi con.
5
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc của cá nhân, tổ chức được
quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết
định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản chung: Anh Nguyễn Thiện K tự thỏa thuận, không có tranh
chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung: Anh Nguyễn Thiện K khai không có nên Hội đồng xét xử
không xem xét giải quyết.
5. Về án phí hôn nhân, gia đình sơ thẩm: Anh Nguyễn Thiện K phải chịu
300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí
mà anh đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí,
lệ phí Tòa án số 0002748 ngày 09/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện
G, tỉnh Bến Tre.
Án phí cấp dưỡng nuôi con anh Nguyễn Thiện K phải chịu 300.000đ (Ba
trăm nghìn đồng).
Quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm
sát cùng cấp có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
Tòa án tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được
thông báo, niêm yết.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện Giồng Trôm; (Đã ký)
- Chi cục THADS huyện G;
- TAND tỉnh Bến Tre;
- UBND phường P, quận B, TP.HCM;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Khắc Giang
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm