Bản án số 68/2022/LĐ-PT ngày 24/01/2022 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 68/2022/LĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 68/2022/LĐ-PT ngày 24/01/2022 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 68/2022/LĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/01/2022
Lĩnh vực: Lao động
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 68/2022/-PT
Ngày: 24-01-2022
V/v Tranh chấp đơn phương
chấm dứt hợp đồng lao động
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Giang
Các Thẩm phán: Ông Bùi Liên Minh
Bà Lê Thị Hoàng Hoa
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Thanh Nga - Thư Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: Ông Tôn Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.
Vào các ngày 29 tháng 12 năm 2021 và ngày 24 tháng 01 năm 2022 tại phòng
xử án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án
lao động thụ số 23/2021/TLPT-ngày 04 tháng 6 năm 2021 về việc: “Tranh
chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”.
Do bản án lao động thẩm số 21/2021/LĐ-ST ngày 15 tháng 4 năm 2021
của Tòa án nhân dân Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4980/2021/QĐPT-
ngày 28 tháng 12 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Trần Uyên D, sinh năm 1976. Trú tại: Phường H, quận
K, thành phố N. (có mặt)
- Bị đơn: Công ty C. Trụ sở: Phường A, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị V Chức vụ: Giám đốc
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Đỗ Đặng Hồng T hoặc/và ông Vi
Văn T1. Cùng địa chỉ liên lạc: Đường G, Khu phố X, phường E, thành phố Z,
Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo Giấy ủy quyền ngày 9/3/2021). (ông T1 mặt,
ông T vắng mặt).
- Người kháng cáo: Trần Lê Uyên D, là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, các bên đương sự trình bày nội
dung thống nhất như sau: Ngày 01/9/2018, bà Trần Lê Uyên D chính thức vào làm
2
việc tại Công ty C (sau đây gọi tắt là Công ty), vị trí công việc: quản lý, mức lương
bản 15.000.000 đồng/tháng (Mười lăm triệu đồng), địa điểm làm việc tại số 12
I, phường L, Quận M. Quan hệ lao động được các bên thỏa thuận bằng lời nói,
không giao kết hợp đồng bằng văn bản. Ngày 01/12/2019, D đơn xin nghỉ
việc. Ngày 09/12/2019, Công ty ban hành Quyết định điều động nhân sự đối với
D đến làm việc tại 209 O, Phường Q, quận P. Ngày 11/12/2021, Công ty ban hành
Quyết định giải quyết thôi việc đối với D. Trong thời gian bà D làm việc tại
Công ty thì Công ty không tham gia BHXH, BHYT, BHTNLĐ-BNN cho bà D.
- Về yêu cầu khởi kiện, quan điểm, ý kiến của nguyên đơn: Quá trình làm việc
D đã nhiều lần yêu cầu Công ty kết hợp đồng lao động thực hiện đóng
bảo hiểm hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động -
bệnh nghề nghiệp nhưng Công ty không thực hiện. Mặc dù không hợp đồng lao
động, nhưng thời gian thực tế làm việc tại Công ty tính đến ngày 09/12/2019
15 tháng, nên hợp đồng giữa Công ty được xem là hợp đồng không xác định
thời hạn. Ngày 01/12/2019, do bận việc gia đình nên bà D có nộp đơn xin thôi việc
từ ngày 12/12/2019. Đến ngày 09/12/2019, Công ty ban hành quyết định về việc
điều động nhân sự, cụ thể điều động về làm việc tại địa chỉ số 209 O, Phường
Q, quận P. Theo nguyên đơn, việc điều động nhân sự không báo trước trước 03
ngày m việc trái với quy định pháp luật nên không đồng ý. Nay đnghị
Tòa án giải quyết các yêu cầu sau: Nhận bà trở lại làm việc phải trả lại tiền
lương trong những không được làm việc (tạm tính từ ngày 09/12/2019 đến ngày
25/12/2019), cụ thể số tiền là: (15.000.000đ : 24 ngày) x 15 ngày = 9.375.000
đồng; cộng với hai tháng tiền lương theo hợp đồng lao động, cụ thể số tiền là:
30.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền trên là: 39.375.000 đồng. Trường hợp Công ty
không muốn nhận bà lại làm việc thì phải bồi thường thêm 02 tháng tiền lương, số
tiền là: 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng). Buộc Công ty phải đóng bảo hiểm
hội cho từ ngày 01/9/2018 tới ngày 09/12/2019 thực hiện đóng BHXH bổ
sung, thực hiện chốt sổ BHXH, trả lại sổ BHXH trong trường hợp Công ty không
muốn nhận D lại làm việc. Bồi thường cho bà 03 tháng tiền lương trợ cấp thất
nghiệp do hành vi vi phạm pháp luật BHXH dẫn đến việc D không được nhận
trợ cấp thất nghiệp theo quy định của pháp luật với số tiền 27.000.000 đồng.
Tại đơn khởi kiện bổ sung ngày 16/01/2020 D bsung thêm những yêu
cầu sau: Buộc Công ty phải thanh toán 0.3% tiền hoa hồng tạm tính từ ngày
01/12/2019 đến ngày 09/12/2019 trên tổng doanh thu (321.152.000 đồng) tại sở
12 I, Quận M cụ thể số tiền 963.456 đồng trả lại cho D số tiền đã quỹ,
đồng phục với số tiền 11.000.000 đồng.
- Ý kiến quan điểm của bị đơn: Công ty xác định thời gian D bắt đầu
làm việc tại Công ty ngày 01/9/2018 nhưng 05 tháng đầu học nghề th
việc. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Công ty chỉ đồng ý trả cho D
tiền hoa hồng 963.456 đồng tiền quỹ trang phục 11.000.000 đồng, tổng
cộng 11.963.456 đồng, đối với các yêu cầu còn lại của nguyên đơn, Công ty không
đồng ý do D đã có đơn xin nghỉ việc nên Công ty không có chấm dứt hợp đồng
lao động trái pháp luật.
3
- Tại phiên tòa, phía nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, cụ
thể trước đây yêu cầu Công ty trả tiền lương trong những ngày D không được
làm việc tính tngày 09/12/2019 đến ngày 25/12/2019, số tiền 9.375.000 đồng.
Tại phiên tòa, phía nguyên đơn yêu cầu trả tiền lương từ ngày 09/12/2019 đến
ngày 12/12/2019 (ngày ng ty ban hành Quyết định thôi việc) 03 ngày, tương
đương số tiền 1.875.000 đồng và giữ nguyên các yêu cầu còn lại.
Phía bị đơn đồng ý thanh toán cho nguyên đơn số tiền 11.963.456 đồng mà
không yêu cầu điều kiện gì khác.
Tại bản án lao động thẩm số 21/2021/LĐ-ST ngày 15 tháng 4 năm 2021
của Tòa án nhân dân Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
Căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 32, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 1
Điều 147, Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Khoản 3 Điều 36, Điều 41 Bộ luật lao động;
Căn cứ vào Điều 43, Điều 49 Luật việc làm;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ Điều 13 Nghị quyết s01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của
Pháp luật về lãi, lãi suất, lãi phạt vi phạm.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Trần Lê Uyên
D buộc Công ty C thanh toán cho bà D gồm những khoản sau: Trả tiền hoa hồng,
tiền ký quỹ, đồng phục là 11.963.456 đồng (Mười một triệu chín trăm sáu mươi ba
nghìn bốn trăm m mươi sáu đồng); Trả tiền lương là 1.875.000 đồng (Một triệu
tám trăm bảy mươi lăm nghìn đồng); Bồi thường 03 tháng tiền lương trợ cấp thất
nghiệp số tiền 27.000.000 đồng (Hai mươi bảy triệu đồng). Tổng cộng là:
40.838.456 đồng (Bốn mươi triệu, tám trăm ba mươi tám nghìn, bốn trăm năm
mươi sáu đồng)
- Công ty C phải thực hiện việc khai đóng bổ sung bảo hiểm hội, chốt
sổ bảo hiểm hội từ ngày 01/9/2018 đến ngày 09/12/2019, trả lại sổ bảo hiểm xã
hội cho bà Trần Lê Uyên D.
Kể từ ngày 16/4/2021 cho đến khi thi hành án xong, Công ty C còn phải chịu
lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468
của Bộ luật dân sự.
2. Không chấp nhận u cầu của nguyên đơn vviệc buộc ng ty C nhận
Trn Uyên D trở lại làm vic và tr số tiền 60.000.000 đồng gồm tr02 tháng tin
lương là 30.000.000 đồng và bồi thường 02 tháng tiền lương.
3. Án phí lao động thẩm: Công ty C phải chịu án phí 1.225.154 đồng
(Một triệu hai trăm hai ơi lăm nghìn một trăm năm mươi bốn đồng). Trả lại số
tiền tạm ứng án phí mà bà Trần Lê Uyên D đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn
4
đồng) theo Biên lai thu s AA/2019/0029474 ngày 22/7/2020 của Chi cục Thi
hành án dân sự Quận M.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo quyền thi hành án của
các đương sự.
Sau khi xét xthẩm, ngày 29 tháng 4 năm 2021, nguyên đơn Trần
Uyên D đơn kháng cáo về việc: Không đồng ý với nhận định của Tòa thẩm
cho rằng: Công ty C ban hành quyết định cho thôi việc ngày 11/12/2019 là sự thỏa
thuận nghỉ việc ngày 01/12/2019 giữa các bên. Đây hành vi chấm dứt hợp đồng
lao động trái pháp luật của bị đơn chứ không phải xuất phát từ sự tự nguyện.
Tại đơn sửa đổi, bổ sung yêu cầu kháng cáo (nộp cùng ngày) nguyên đơn
xác định: kháng cáo một phần quyết định của bản án sơ thẩm; buộc bị đơn phải
nhận nguyên đơn trở lại công ty m việc theo thỏa thuận về lao động đã ký và trả
số tiền 60.000.000 đồng, bao gồm: trả 2 tháng tiền lương (30.000.000 đồng)
bi thường 2 tháng tiền lương (30.000.000 đồng).
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn xin rút lại phần kháng cáo về việc:
không yêu cầu bị đơn nhận trở lại làm việc theo thỏa thuận về việc làm, chỉ yêu
cầu bị đơn trả số tiền bồi thường do chấm dứt việc làm 60.000.000 (Sáu mươi
triệu) đồng.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn không đồng ý với kháng cáo như đã
trình bày của nguyên đơn cho rằng Tòa sơ thẩm Tòa án nhân dân Quận M,
Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết căn cứ, đề nghị giữ nguyên các quyết
định của bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa
phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc chấp hành pháp luật Tố tụng dân sự
trong quá trình giải quyết vụ án tại giai đoạn phúc thẩm như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn được làm trong thời hạn
luật định phù hợp với các quy định tại Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
hợp lệ; đơn kháng cáo của bị đơn nộp quá hạn luật định nên đã được giải quyết
theo quyết định số 33/2021/QĐ-PT ngày 19/11/2021 của Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, các thành viên Hội đồng xét xử,
thư ký Tòa án, các đương sự trong vụ án đã thực hiện đúng và đầy đủ quy định của
pháp luật về tố tụng dân sự, bảo đảm đúng thời hạn xét xử phúc thẩm.
- Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn rút lại một phầnu
cầu kháng cáo về việc không u cầu bị đơn phải nhận trở lại làm việc theo thỏa
thuận về lao động; cần đình chỉ xét xử phúc thẩm về phần này. Đối với 02 yêu cầu
kháng cáo n lại gồm trả 2 tháng tiền ơng (30.000.000 đồng) bồi thường 2
tháng tiền lương (30.000.000 đồng) do việc đơn phương chấm dứt việc làm không
đúng pháp luật. Thấy rằng không sở để chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn
nên đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
5
Sau khi nghiên cứu hồ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa căn
cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
I/ Về hình thức: Đơn kháng cáo của nguyên đơn Trần Lê Uyên D được làm
trong thời hạn luật định, thay đổi yêu cầu kháng cáo không trái quy định phù
hợp với các quy định tại Điều 272, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; D được
miễn nộp tiền tạm ứng án phí nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
II/ Xem xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Trần Lê Uyên D. Hội đồng
xét xử phúc thẩm xét thấy:
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn Trần Uyên D đã tự nguyện rút lại
một phần yêu cầu kháng cáo vnội dung: không yêu cầu bị đơn Công ty C phải
nhận trở lại làm việc theo thỏa thuận về lao động đã thực hiện và giữ nguyên hai
nội dung kháng cáo còn lại.
Xét, việc rút lại một phần yêu cầu kháng cáo tại phiên tòa phúc thẩm tự
nguyện, thể hiện đúng ý chí của nguyên đơn nên được Hội đồng xét xử chấp nhận
và đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với nội dung kháng cáo đã được rút.
Xem xét 02 yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn về việc:
- Tr02 tháng tiền lương theo thỏa thuận vlao động, stin 30.000.000 đồng.
- Bồi thường 02 tháng tiền lương do đơn phương chấm dứt việc làm, stiền
30.000.000 đồng. Tổng cộng hai khoản là 60.000.000 đồng.
Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Trần Uyên D vào làm việc tại
Công ty C từ ngày 01/9/2018 với công việc quản lý; tiền lương bản
15.000.000 đồng/tháng. Thỏa thuận về việc làm giữa các bên chỉ thể hiện qua lời
nói, không được lập thành văn bản. Quá trình làm việc kéo dài đến ngày
01/12/2019 thì D đơn xin nghỉ việc tại công ty tính tngày 09/12/2019. Mặt
khác, dù có thông tin này nhưng vào ngày 9/12/2019 giám đốc công ty lại ban hành
quyết định nội bộ về việc điều động nhân sự cử Trần Uyên D đến làm việc
tại địa chỉ số 209 O, Phường Q, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh, bà D không chấp
nhận phương án điều chuyển này nên vào ngày 12/12/2019, Công ty C đã ban hành
quyết định cho thôi việc đối với nguyên đơn.
Giải quyết quyền lợi về lao động theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tại
trang th 5 (dòng 13 từ trên xuống), bản án thẩm nhận định: Vào ngày
01/12/2019 bà Trần Lê Uyên D có đơn xin thôi việc gửi đến công ty, thời gian nghỉ
việc tính từ ngày 9/12/2019, điều này thể hiện ý chí của nguyên đơn muốn chấm
dứt việc làm tại đơn vị của bị đơn vào thời điểm này, sau khi bà D không chấp
hành việc điều động, vào ngày 12/12/2019 Công ty C đã ban hành quyết định chấm
dứt việc làm đối với D, việc chấm dứt quan hệ về lao động này là phù hợp với ý
chí của các bên tham gia quan hệ lao động trên stự nguyện, phù hợp với
quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật Lao động năm 2012, thế không sở
pháp lý để xác định bị đơn đã đơn phương chấm dứt thỏa thuận về lao động đối với
nguyên đơn, việc Trần Uyên D kháng cáo yêu cầu Công ty C phải bồi
thường thiệt hại bao gồm 02 tháng tiền lương do mất việc trả tiền lương của 02
tháng làm việc với tổng số tiền 60.000.000 (Sáu mươi triệu) đồng không
6
sở pháp để chấp nhận. Cần giữ nguyên quyết định của bản án thẩm như đề
nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa.
Tại điểm 2 phần 1 Quyết định của bản án sơ thẩm ghi: Công ty C phải thực
hiện việc khai đóng bổ sung BHXH, chốt sổ BHXH t ngày 01/9/2018 đến
ngày 09/12/2019, trả sổ BHXH cho Trần Uyên D chưa chính xác, lẽ ra
phần này cả người sử dụng lao động người lao động phải trích tỷ lệ phần trăm
theo mức lương (trả và nhận) theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội để cùng thực
hiện nộp cho quan BHXH tại địa phương để được hưởng quyền lợi; lẽ ra phải
sửa một phần quyết định của bản án thẩm vnội dung này. Tuy nhiên, tại phiên
tòa phúc thẩm, bị đơn đề nghị giữ nguyên quyết định của bản án thẩm, vậy
nội dung trên được giữ nguyên nhưng cấp sơ thẩm cần phải lưu ý, rút kinh nghiệm.
Án phí lao động phúc thẩm: nguyên đơn Trần Uyên D được miễn nộp,
bị đơn Công ty C không phải chịu.
các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng khoản 3 Điều 36; Điều 41Bộ luật Lao động;
Áp dụng Điều 43, Điều 49 Luật Việc làm;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của UBTVQH
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Áp dụng Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
I/ Đơn kháng cáo, yêu cầu kháng cáo bổ sung của nguyên đơn Trần
Uyên D được thực hiện trong thời gian luật định là hợp lệ nên được chấp nhận xem
xét theo trình tự thủ tục phúc thẩm.
II/ Chấp nhận việc rút một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn tại phiên
tòa. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc: Buộc
Công ty C phải nhận Trần Uyên D trở lại làm việc theo thỏa thuận về lao
động đã được xác lập.
III/ Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Trần Uyên D
về việc buộc bị đơn Công ty C phải trả 2 tháng tiền lương do mất việc làm
30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng bồi thường 2 tháng tiền lương là 30.000.000
(Ba mươi triệu) đồng. Tổng cộng hai khoản là 60.000.000 (Sáu mươi triệu) đồng.
Phần quyết định của bản án lao động thẩm số 21/2021/-ST ngày 15
tháng 4 năm 2021 của Tòa án nhân dân Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh được
giữ nguyên như sau:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Trần Lê Uyên
D buộc Công ty C thanh toán cho bà D gồm những khoản sau: Trả tiền hoa hồng,
7
tiền ký quỹ, đồng phục là 11.963.456 đồng (Mười một triệu chín trăm sáu mươi ba
nghìn bốn trăm m mươi sáu đồng); Trả tiền lương là 1.875.000 đồng (Một triệu
tám trăm bảy mươi lăm nghìn đồng); Bồi thường 03 tháng tiền lương trợ cấp thất
nghiệp số tiền 27.000.000 đồng (Hai mươi bảy triệu đồng). Tổng cộng là:
40.838.456 đồng (Bốn mươi triệu, tám trăm ba mươi tám nghìn, bốn trăm năm
mươi sáu đồng)
- Công ty C phải thực hiện việc khai đóng bổ sung bảo hiểm hội, chốt
sổ bảo hiểm hội từ ngày 01/9/2018 đến ngày 09/12/2019, trả lại sổ bảo hiểm xã
hội cho bà Trần Lê Uyên D.
Kể từ ngày 16/4/2021 cho đến khi thi hành án xong, Công ty C còn phải chịu
lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468
của Bộ luật dân sự.
2. Án phí lao động thẩm: Công ty C phải chịu án phí 1.225.154 đồng
(Một triệu hai trăm hai mươi lăm nghìn một trăm năm mươi bốn đồng). Trả lại số
tiền tạm ứng án phí mà bà Trần Lê Uyên D đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn
đồng) theo Biên lai thu số AA/2019/0029474 ngày 22/7/2020 của Chi cục Thi
hành án dân sự Quận M.
3. Án phí lao động phúc thẩm: Nguyên đơn Trần Uyên D được miễn
nộp, bị đơn Công ty C không phải chịu.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại c Điều 6, 7 9 Luật Thi hành án dân
sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành
án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Tòa án nhân dân Tối cao; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Tòa án nhân dân cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND cấp cao tại TP.HCM;
- Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM;
- Tòa án nhân dân Quận M;
- Cục Thi hành dân sự Thành phố Hồ Chí Minh;
- Chi cục Thi hành án dân sự Quận M;
- Các đương sự (để thi hành);
- Lưu. Đỗ Giang
Tải về
Bản án số 68/2022/LĐ-PT Bản án số 68/2022/LĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất