Bản án số 68/2019/DS-PT ngày 05/11/2019 của TAND tỉnh Đắk Nông về tranh chấp bồi thường thiệt hại sức khỏe

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 68/2019/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 68/2019/DS-PT ngày 05/11/2019 của TAND tỉnh Đắk Nông về tranh chấp bồi thường thiệt hại sức khỏe
Quan hệ pháp luật: Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Nông
Số hiệu: 68/2019/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 05/11/2019
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp bồi thường thiệt hại về sức khỏe
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK NÔNG
Bản án số: 68/2019/DS-PT
Ngày 05 - 11 - 2019
V/v Tranh chấp bồi thường thiệt
hại về sức khỏe.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tài Sử
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thuyên và ông Lê Quốc Hương
- Thư ký phiên a: Ông Nguyễn Trí Thư ký Tòa án nhân dân tnh
Đắkng
- Đi din Viện kiểm sát nhân n tỉnh Đắk Nông tham gia phn toà: Ông
Trần Mạnh Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 11 m 2019 tại trụ sở Tòa án nhânn tỉnh Đắk Nông xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 82/2019/TLST-DS ngày 11 tháng 10 m
2019 về Tranh chấp bồi thường thit hại vsức khỏe”.
Do Bản án dân sự thẩm số: 26/2019/DS-ST ngày 04-9-2019 của Tán
nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 90/2019/QĐ-PT ngày
22-10-2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Dương Văn T; địa chỉ: Bản Đ, N, huyện Đ, tỉnh
Đắk Nông - mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Phương Ngọc D; địa
chỉ: Số Z, đường C, phường N, thị xã G, tỉnh Đắk Nông - Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Bùi Văn Th; địa chỉ: Thôn X, N, huyện Đ, tỉnh Đắk
Nông - Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Nguyễn Thị H; địa chỉ: Thôn
X, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông - Có mặt.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H; địa chỉ: Thôn
X, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông - Có mặt.
4. Người kháng cáo: Ông Phương Ngọc Dngười đại diện theo ủy quyền
của nguyên đơn.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện các văn bản trong quá trình giải quyết vụ án cũng
như tại phiên tòa, nguyên đơn người đại diện theo y quyền của nguyên đơn
trình bày:
Ngày 23-12-2016, anh Bùi Văn Th, địa chỉ: Thôn X, N, huyn Đ điều
khiển xe ô tô biển kiểm soát 48A-045.17 lưu thông trên đường tỉnh lộ Q đến khu
vực cầu Thác thuộc địa phận thôn X, N, huyện Đ thì chiếc xe đạp điện do
cháu Dương Hoàng H, sinh năm 2005 điều khiển chở theo sau cháu Dương Thị
Thu V, sinh ngày 17-3-2003 (con gái anh Dương Văn T) đi xuống dốc, lấn
đường bên trái xảy ra va chạm với xe ô do anh Th điều khiển. Hậu quả cháu
H chết trong quá trình cấp cứu, điều trị tại Thành phố Hồ Chí Minh; cháu V bị
thương tích ở phần bụng và chân, phải đưa đi cấp cứu ở bệnh viện điều trị.
Thiệt hại về sức khỏe bị xâm hại của cháu V gồm các khoản:
- Tiền viện p tại Bnh vin N2, Thành phố H C Minh 93.408.688 đồng;
- Tiền chi phí điều trị tại Bệnh viện T là 599.000 đồng;
- Tiền thuốc điều trị theo đơn thuốc của bác sĩ là: 140.000 đồng;
- Chi phí đi lại để chở cháu V đi điều trị 7.170.000 đồng, gồm: thuê xe dịch
vụ của Bệnh viện N2 về xã N 4.000.000 đồng; thuê xe taxi từ Bản Đ đi Bệnh
viện T quay về 1.700.000 đồng; thuê xe taxi tBản Đ đi ra Trung tâm Y tế
huyện Đ 320.000 đồng; tiền xe khách tái khám 03 người đi Bệnh viện N2,
Thành phố Hồ C Minh về xã N và tiền taxi 1.150.000 đồng;
- Tiền ăn 03 người tại Bệnh viện N2, Thành phố Hồ Chí Minh Bệnh
viện T 6.500.000 đồng;
- Tiền công chăm sóc cháu V tại Bệnh viện 180.000 đồng/ngày x 76 ngày =
13.680.000 đồng;
- Chi phí hợp khác gồm tiền bỉm 30.000 đồng/ngày x 30 ngày =
900.000 đồng;
Thit hi v tinh thn: 50 tháng lương cơ s x 1.300.000 đng = 65.000.000 đng.
V chứng cchứng minh cho yêu cu của mình: Bên nguyên đơn đơn cung cấp:
- 01 hóa đơn bán hàng đề ngày 10-4-2017 của Bệnh viện đa khoa huyện Đ
711.942 đồng;
- Hóa đơn bán hàng của Bệnh viện N2 ngày 25-01-2017 (bản gốc) số tiền
93.408.688 đồng.
- Hóa đơn bảng kê viện phí đề ngày 25-01-2017.
Theo bảng dẫn dãi đề ngày 25-01-2017 của Bệnh viện N2 tổng viện phí
180.934.079 đồng, trong đó bảo hiểm thanh toán 87.525.391 đồng, bệnh nhân
thanh toán số còn lại 93.408.688 đồng (trong đó bên gia đình anh Th đóng
khoản viện phí trên thay cho bệnh nhân là 56.000.000 đồng, số còn lại bên anh T
đóng là 37.433.688 đồng).
Ngoài ra bên gia đình anh Th đã bồi thường các khoản khác như: Thuê xe
mua các khoản khác để điều trị cho cháu V khoảng hơn 16.000.000 đồng. Tổng
các khoản viện phí và khoản chi phí hợp lý khác gần 72.152.949 đồng.
3
Q trình giải quyết vụ án bên nguyên đơn yêu cầu anh Th bồi thường tổng
số tiền là 186.989.000 đồng. Nay bên nguyên đơn thống nhất với bên bị đơn đã
bồi thường tổng các khoản chi phí hợp là 72.152.949 đồng, sn lại bên
nguyên đơn tiếp tục yêu cầu bị đơn anh Th bồi thường số tiền còn lại là
114.000.000 đồng tiền điều trị, viện phí, các chi phí hợp lý, sau khi trừ đi các
khoản chi phí hợp lý do bên bị đơn bỏ ra.
Bị đơn anh Bùi Văn Th trình bày:
Sau khi tai nạn xảy ra thì tôi đã bồi thường cho cháu Dương Th Thu V các
khoản chi phí hợp lý sau:
- Đóng tiền viện phí cho cháu V tổng là 56.000.000 đồng.
- Tiền thuê xe của anh Vũ Thanh H để chở cháu V đi cấp cứu từ Bệnh viện
đa khoa tỉnh Đ đi Bệnh viện N2, Thành phố Hồ Chí Minh số tiền 3.500.000
đồng (có giấy biên nhận tiền thuê xe giấy viết tay);
- Nộp viện phí tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Đ 4.707.949 đồng ngày 23-12-
2016 (có biên lai thu phô tô);
- Ngày 28-12-2016 đưa ông Bùi Đức C đưa cho anh T số tiền 3.000.000
đồng (có giấy biên nhận tiền bản gốc);
- Các chi phí hợp khác như mua bỉm, khăn ướt, khăn giấy vệ sinh, m
kẹp tay cho cháu V, mua thuốc lá số tiền 1.450.000 đồng.
- Tiền mua bảo hiểm cho cháu V 495.000 đồng;
- Đưa tiền mặt 3.000.000 đồng tại Bệnh viện N2 cho anh T;
Tại phiên tòa, anh Th bổ sung thêm số tiền 11.000.000 đồng các khoản tiền
ăn lo cho gia đình anh T, tiền thuê xe đi lại của gia đình anh đi chăm cháu V,
tiền ngày công của anh đi chăm cháu V.
Tổng số tiền anh Th đã chi ra để hỗ trợ tiền viện phí và các khoản khác cho
cháu V 83.152.949 đồng.
Anh Th đồng ý thống nhất với bên anh T số tiền bồi thường tổng các
khoản chi phợp là 72.152.949 đồng. Scòn lại bên nguyên đơn yêu cầu
anh Th bồi thường số tiền còn lại là 114.000.000 đồng thì anh Th không đồng
ý, anh Th chỉ đồng ý hỗ trợ thêm cho cháu 15.000.000 đồng vì tai nạn xảy ra
anh không có lỗi.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H trình bày: Sau khi
tai nạn xảy ra thì tôi đi cùng gia đình cháu V vào bệnh viện giúp anh Th con
tôi lo các chi phí tại bệnh viện cho cháu Dương Thị Thu V, tiền của con
trai tôi.
Bản án Dân sự thẩm số: 26/2019/DS-ST ngày 04-9-2019 của Tán
nhân dân huyện Đắk Song, quyết định: Căn cứ khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1
Điều 35; điểm d khoản 1 Điều 40; khoản 2 Điều 143; khoản 1 Điều 147; khoản
1 Điều 157; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng c Điều 584, 585,
590, 601 của Bộ luật n sự năm 2015; Điều 609, 623 của Bộ luật Dân sự năm
2005; Nghị quyết số: 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08-7-2006 của Hội đồng Thẩm
4
phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14
ngày 30-12-2016 quy định về án phílệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Dương Văn T.
2. Buộc anh Bùi Văn Th nghĩa vụ phải bồi thường tiếp cho cháu Dương
Thị Thu V con anh Dương Văn T số tiền còn lại 29.149.000 đồng sau khi đã
trừ đi số tiền đã bồi thường mà các bên đã thống nhất là 72.152.949 đồng.
Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí dân sự
thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 19-9-2019, ông Phương Ngọc D là người đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn kháng cáo toàn bộ bản án.
Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyênu cầu khởi kiện; nời đại
diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ ngun nội dung yêu cầu như tại phn tòa
thẩm nội dung đơn kháng cáo. Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn
người quyn lợi, nghĩa vụ liên quan giữ nguyên nội dung yêu cầu như tại phiên
tòa thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận đơn kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, áp
dụng khoản 3 Điều 308; Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự hủy bản án
thẩm, giao hồ về Tòa án cấp thẩm giải quyết lại với do không đưa cha
mẹ của cháu Dương Hoàng H quan bảo hiểm vào tham gia tố tụng bỏ
sót người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; vi phạm khoản 4 Điều 68 của Bộ luật
Tố tụng dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án, kết quả xét hỏi,
tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận đnh:
[1]. Về hình thức: Đơn kháng cáo của ông Phương Ngọc D người ủy
quyền của nguyên đơn kháng cáo trong thời hạn luật định.
[2]. Xét nội dung kng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn
thì thấy: Vào khoảng 16 giờ ngày 23-12-2016, anh i Văn Th có giấy phép lái xe
hạng B1, điều khiển xe ô biển kiểm soát 48A-045.17 lưu thông trên tỉnh lộ 6, đi
n phải phần đường của mình với vận tốc khoảng 45 km/giờ, khi đến khu vực cầu
Thác thuộc thôn X, N, huyn Đ, đây là đoạn đường n dốc cong về bên phải,
anh Th thấy phía trên đầu dốc phương tiện xe đạp điện do cu ơng Hng
H, sinh ngày 01-2- 2005 điều khiển chở phía sau cháuơng Thị Thu V, sinh năm
2003 đi với tốc độ khoảng 30 - 40 km/giờ đi xuống dốc. Khi xe anh Th bắt đầu lên
dốc khoảngch giữa xe đạp điện khoảng 30m, anh Th chủ động giảm tốc độ đồng
thời đánh i vào sát lề phải theo hướng mình đi để gi khoảng cách an toàn với xe
đạp điện nhưng xe cháu H xuống dốc bất ngờ lao sang trái ng vào đầu n phải
xe ô của anh Th y tai nạn. Hậu quả cháu H chết trong quá trình điu trị; cu
V bị tơng vùng bụng chân, hai xe hỏng nặng.
Điều 623: Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra:
5
3. Chủ shữu, người được chủ sở hũu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn
nguy hiểm cao độ phải bồi thương thiệt hại cả khi không lỗi, trừ trường hợp
sau đây:
a. Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị hại.
b. Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết,
trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Căn cứ điểm 1 mục I Nghị quyết số: 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08-7-2006
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, về nguyên tắc chung thì trách
nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi đủ các yếu tố sau đây: “Phải
thiệt hại xảy ra, phải hành vi trái pháp luật, phải mối quan hệ nhân quả
giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật, phải có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý cuả
người gây thiệt hại”.
t thấy xe ô biển kiểm soát 48A-045.17 do anh Th điều khiển đang
tham gia giao thông theo đúng quy định của pháp luật khi thấy cháu H đi xe
đạp điện ngược chiều xuống dốc, anh Th đã giảm tốc độ và đánh lái vào sát lề
đường bên phải nhưng cháu H đi xe đạp điện chở theo cháu V vẫn tông vào
bên phải xe ô của anh Th. Hậu quả cháu H chết, cu V phải nằm viện điều
trị. Thiệt hại của cháu V nh vi trái pháp luật của cháu H y ra. Anh Th
điều khiển xe không lỗi, không gây thiệt hại cho cháu V. Do đó, anh Th
không phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho cháu V.
Người gây ra tai nạn, gây thiệt hại cho cháu V do cháu H. Cháu H gây thiệt
hại khi gần 11 tuổi, người chưa thành niên dưới 15 tuổi gây thiệt hại; căn cứ
Điều 606 của Bộ luật Dân sự năm 2005; khoản 3 Điều 31 của Luật Chăm sóc
giáo dục trẻ em năm 2004 thì cha - mẹ phải bồi thường.
Án thẩm xác định anh Th điều khiển xe không lỗi nhưng tuyên xử
anh Th trách nhiệm bồi thường thiệt hại gây ra cho cháu V số tiền còn lại
29.149.000 đồng sau khi đã trừ đi số tiền đã bồi thường các bên đã thống
nhất 72.152.949 đồng nộp án phí dân sự thẩm hiểu không đúng quy
định Điều 623 của Bộ luật Dân sự năm 2005 Nghị quyết số: 03/2006/NQ-
HĐTP ngày 08-7-2006 của Hội đng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Tuy nhiên, anh Th không kháng cáo Viện kiểm sát không kháng nghị
nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không căn cứ pháp chấp nhận nội
dung kháng cáo của ông Phương Ngọc D đối với bản án sơ thẩm.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông thì thấy: Đơn khởi
kiện của nguyên đơn, khởi kiện yêu cầu anh Th bồi thường thiệt hại số tiền
186.989.000 đồng, số tiền này ngoài phạm vi của số tiền quan bảo hiểm đã
thanh toán. Quá trình giải quyết cấp thẩm thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ
chứng minh người gây tai nạn cháu Dương Hoàng H sinh năm 2005, cha mẹ
của cháu Hông Dương Văn H bà Bùi Thị H. Tuy nhiên, nguyên đơn không
yêu cầu ông Dương Văn H Bùi Thị H phải liên đới bồi thường nên không
6
cần đưa vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa liên quan
không cần thiết phải hủy án đgiải quyết lại, nguyên đơn quyền khởi
kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với ông Dương Văn H, Bùi Thị H bằng
vụ kiện dân sự khác theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự,
1. Không chấp nhận khángo của ông Phương Ngọc D. Giữ nguyên Bản án
n sự thẩm số: 26/2019/DS-ST ngày 04-9-2019 của Tán nhân dân huyện
Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.
Căn cứ khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 2 Điều 143,
khoản 1 Điều 147 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng Điều 609
623 của Bộ luật Dân snăm 2005; Nghị quyết số: 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08-
7-2006; Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 về
án phí, lệ phí Tòa án:
Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Dương n T.
2. Buộc anh Bùi n Th phải bồi thường cho cháu Dương Thị Thu V, con
của anh ơng Văn T số tiền còn lại 29.149.00 (Hai mươi chín triệu một
trăm bốn mươi chín nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn u cầu thi nh án của người được thi nh án cho đến
khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng n thi hành án còn phải
chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại
khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
3. Về án phí: Buộc anh Bùi Văn Th phải nộp 1.457.000đ (Một triệu bốn trăm
năm mươi bảy nghìn đồng) án phí dân sự thẩm.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đắk Nông;
- TAND huyện Đắk Song;
- VKSND huyện Đắk Song;
- Chi cục THADS huyện Đ;
- Các đương sự;
- Lưu: HSVA, Tổ HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký và đóng dấu)
Nguyễn Tài Sử
Tải về
Bản án số 68/2019/DS-PT Bản án số 68/2019/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất