Bản án số 66/2023/DS-PT ngày 22/02/2023 của TAND cấp cao tại TP.HCM về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 66/2023/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 66/2023/DS-PT ngày 22/02/2023 của TAND cấp cao tại TP.HCM về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND cấp cao tại TP.HCM
Số hiệu: 66/2023/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/02/2023
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Sửa bản án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 66/2023/DS-PT
Ngày: 22 - 02 - 2023
V/v Tranh chấp quyền sử dụng
đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ ta phn tòa: Ông Vũ Ngọc Huynh
Các Thẩm phán: Ông Phan Văn Yên
Ông Phan Tô Ngọc
- Thư phiên tòa: Ông Phạm Phú Cường - Thư Tòa án nhân dân cấp
cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp
cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thành Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành
phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số:
424/2022/TLPT-DS ngày 03 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp quyền sử
dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm s 17/2022/DS-ST ngày 20 tháng 4 năm 2022
của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 392/2023/QĐ-PT ngày
07 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ơng Thị Yến S, sinh năm 1972 (vng mt).
Nơi cư trú: tổ 11, p Long Q, xã B, huyn C, tnh An Giang
Người đại din theo y quyn ca S: ông Văn P, sinh năm 1954 (có
mt).
Nơi trú: s 32 đường Trn Nht D, khóm 7, phưng M, thành ph X,
tnh An Giang
(Văn bản y quyn ngày 20/12/2022)
- B đơn: ông Nguyễn Văn P1, sinh năm 1963 (có mt).
2
Nơi cư trú: số 288, t 11, p Long Q, xã B, huyn C, tnh An Giang
Người đại din theo y quyn ca ông P1: ông Nguyễn Văn T, sinh năm
1968 (có mt).
Nơi cư trú: ấp Long Q, xã B, huyn C, tnh An Giang
(Văn bản y quyn ngày 11/11/2020).
Người bo v quyn và li ích hp pháp cho b đơn: Luật sư Lương Tường
H Công ty lut An Gia, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh An Giang (có mt)
Địa ch: 355 Quc l 91, th trn D, huyn P, tnh An Giang
- Người có quyn li, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1967; nơi trú: p Long Q, B,
huyn C, tnh An Giang (có mt).
Người đại din theo y quyn ca ông C1: ông Văn P, sinh năm 1954
(có mt).
Nơi trú: s 32 đường Trn Nht Nht D, khóm 7, phưng M, thành ph
X, tnh An Giang
(Văn bản y quyn ngày 20/12/2022).
2. Nguyn Th H, sinh năm: 1965; nơi trú: p Long Q, B, huyn
C, tnh An Giang (vng mt).
Người đại din theo y quyn ca bà H: ông Nguyễn Văn T, sinh năm
1968 (có mt)
Nơi cư trú: ấp Long Q, xã B, huyn C, tnh An Giang
(Văn bn y quyn ngày 07/05/2021)
3. y ban nhân dân huyn C, tỉnh An Giang; địa ch: p Th, th trn Ch
Mi, huyn Ch Mi, tnh An Giang
Người đại din theo y quyn: Ông Vũ Minh Thao (xin vng mt).
- Người kháng cáo: Nguyên đơn Dương Thị Yến S người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn C1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn - Dương Thị Yến S, ông Nguyễn Văn C1 người đại
diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Văn P1 trình bày:
S chồng là ông Nguyễn Văn C1 được sử dụng phần đất diện tích
373,5m
2
thuộc tờ bản đồ số 25, số thửa 96, loại đất ở nông thôn theo giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số H0839Cb ngày 27/6/2008. Nguồn gốc
đất của cha ông Nguyễn Văn H1 để lại cho ông Nguyễn Văn T1, ông T1
chuyển nhượng cho vợ chồng bà. Đến năm 2008, vợ chồng ông C1, S được
3
Ủy ban nhân dân huyện C cấp GCNQSDĐ. Đến tháng 7/2019, bà phát hiện ông
P1 sử dụng lấn qua đất của bà ngang 02m, dài 35mông P1 có trồng 06 trụ đá.
Bà S yêu cầu ông P1 trả lại diện tích đất mà ông P1 đã lấn chiếm.
Tại phiên tòa thẩm, ông P ại diện của nguyên đơn) thay đổi yêu cầu
khởi kiện, chỉ yêu cầu bị đơn ông P1 trả lại phần đất diện ch 45,1m
2
các
điểm 8, 15, 16, 17, 4, 5 theo đ hin trạng khu đất ngày 12/8/2020 của Văn
phòng đăng ký đất đai – Chi nhánh Ch Mới, đồng thi phi tháo d, di di toàn
b vt kiến trúc, cây trồng trên đt theo biên bn xem xét, thm định ti ch
ngày 03/3/2022 ca Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đ tr li nguyên trạng đất
cho ông C1, bà S.
Đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất yêu cầu phản
tố xin công nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 335m
2
của ông P1, H,
nguyên đơn không đồng ý.
Bị đơn ông Nguyễn Văn P1 người đại diện theo ủy quyền ông
Nguyễn Văn T trình bày:
Nguồn gốc đất tranh chấp của cha - ông Nguyễn Văn M (chết ngày
19/01/2002) để lại cho ông P1. Ông P1 quản lý và sử dụng ổn định từ lúc ông M
còn sống năm 1986 cho đến nay.
Phần đất hiện tại ông P1 đang sử dụng giáp ranh với phần đất của gia đình
ông H1, sau này ông H1 sang tên chuyển quyền cho ông Nguyễn Văn T1 (con
ông H1, anh ruột ông C1). Hai bên có thống nhất ranh giới đất nên bên phía ông
H1 cắm 12 trụ đá (cắm trước năm 1975) và giữ hiện trạng đến hiện nay. Phần
cuối của trụ đá số 12 có giáp đầu bờ kè do ông H1 xây dựng để chống lở đất.
Đến năm 2008 thì S nhận chuyển quyền sử dụng đất từ phía ông T1
làm thủ tục chuyển quyền thì gia đình S không tranh chấp về phần ranh
đất này. Tuy nhiên, thời gian ông H1, ông T1 làm thủ tục chuyển quyền sử dụng
đất thì phía gia đình ông P1 không hay biết, trong biên bản đo đạc xác định ranh
giới quyền sử dụng đất ngày 29/10/2002 có chữ tcận ghi tên ông “Nguyễn
Văn M1” nhưng theo giấy chứng tử thì cha ông P1 là ông M chết ngày
19/01/2002 tkhông thể nào ký giấy tứ cận vào ngày 29/10/2002 được. Ngoài
ra, trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà UBND huyện Chợ Mới cấp cho
ông H1 ngày 07/9/1999 tổng diện tích 658m
2
, ngày 05/12/2003 ông H1
chuyển nhượng đất cho ông T1 373,5m
2
thì phần diện tích còn lại phải
284,5m
2
nhưng phần diện tích còn lại được ghi trong giấy tại trang 4 542,5m
2
sự khai thêm. Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông
P1 không đồng ý và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho
S ông C1. Ngoài ra, ông P1 yêu cầu phản tyêu cầu Tòa án công nhận
toàn bộ diện tích đất 335m
2
(gồm 289,9m
2
+ 45,1m
2
) thuộc các điểm 7, 8, 5, 6,
15, 16, 17, 4, 5 theo đồ hin trạng khu đt ngày 12/8/2020. Tuy nhiên tại
phiên tòa sơ thẩm thì ông P1 tự nguyện rút lại yêu cầu này.
4
Tại Công văn số 2633/UBND-NC ngày 02/12/2020 của UBND huyện Chợ
Mới trả lời cho Tòa án với nội dung: “…Việc cấp GCNQSDĐ cho ông Nguyễn
Văn C1 Dương Thị Yến S là đúng trình tự, thủ tục theo quy định” đề
nghị được vắng mặt trong tất cả các thủ tục tố tụng dân stại Tòa án nhân dân
tỉnh An Giang.
Tại Bản án dân sự thẩm số 17/2022/DS-ST ngày 20 tháng 4 năm
2022 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đã quyết định:
1. Đình chỉ mt phn yêu cu khi kin ca bà Dương Thị Yến S và yêu cầu
độc lập của ông Nguyễn Văn C1 v vic yêu cu ông Nguyễn Văn P1 tr li
phần đất có din tích 24,9m
2
.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Dương Thị Yến S yêu cầu
độc lập của ông Nguyễn Văn C1 về việc buộc ông Nguyễn Văn P1 phải di dời 06
trụ đá để trả cho ông, bà phần đất có diện tích 45,1m
2
.
3. Hy giy chng nhn quyn s dụng đất s H0839cB ngày 27/06/2008,
do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Nguyễn Văn C1 và bà Dương Thị Yến
S.
4. Đình chỉ yêu cu phn t ca b đơn ông Nguyễn Văn Phúc về vic yêu
cu Tòa án công nhận toàn bộ diện tích đất 335m
2
(gồm 289,9m
2
+ 45,1m
2
)
thuộc các điểm 7, 8, 5, 6, 15, 16, 17, 4, 5 theo đồ hiện trạng khu đất do
Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh Chợ Mới lập ngày 12/8/2020.
Ngoài ra, bản án thẩm còn quyết định vchi phí tố tụng, án phí, quyền
kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 27/4/2022, nguyên đơn là Dương Thị Yến S và người quyền
lợi, nghĩa vụ là ông Nguyễn Văn C1 kháng cáo bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Nguyễn Văn C1 ông Văn P trình bày: Nguồn gốc đất là của
ông Nguyễn Văn H1 để lại cho ông Nguyễn Văn T1, ông T1 chuyển nhượng cho
vợ chồng S, ông C1 và liên tục sử dụng. Đến năm 2008, vợ chồng ông C1,
S được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau
đó bị ông P1 lấn chiếm dời trụ ranh. Không đồng ý yêu cầu của ông Nguyễn
Văn P1 về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s H0839cB ngày
27/06/2008 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Nguyễn Văn C1 và
Dương Thị Yến S. Thống nhất rút một phần yêu cầu khởi kiện yêu cầu độc
lập về việc buộc gia đình ông Nguyễn Văn P1 trả lại phần đất có diện tích 9,4m
2
,
giới hạn bởi các điểm 19, 20, 21, 22, trên đó một phần n nhà của gia đình
ông P1 xây dựng. Chỉ kháng cáo yêu cầu Tòa án giải quyết buộc gia đình ông
Nguyễn Văn P1 trả lại phần đất giới hạn bởi các điểm 8, 20, 19 và phần đất giới
hạn bởi các điểm 21, 16, 17, 4, 5, 22 diện tích 35,7m
2
(45,1m
2
- 9,4m
2
), theo
đồ hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng đất đai chi nhánh Chợ Mới lập
5
ngày 12/8/2020, đồng thời phải di dời toàn bộ vật kiến trúc trên phần đất này
để trả lại nguyên trạng đất cho ông C1, bà S.
Ông Nguyễn Văn P1 ông Nguyễn Văn T trình bày: Tha nhn toàn
b s cc do c Nguyễn Văn H1 cm ranh t trước đến nay hin vn còn cm ti
ranh hai bên. S cc này ca c Nguyễn Văn H1. Đồng ý vic rút mt phn
yêu cu khi kin bà S yêu cầu độc lp ca ông C1. Không xác định được c
th diện tích đất trước đây gia đình ông P1 s dng bao nhiêu; t trước đến
nay vẫn chưa đăng ký kê khai và chưa được cp giy chng nhn quyn s dng
đất; không chng c nào chng minh việc gia đình ông P1 đã đăng ký, kê
khai đối vi phần đất đang sử dụng cũng như phần đất tranh chp. Không đồng
ý tr li diện tích đất 35,7m
2
phần đất này ca gia đình ông Nguyễn Văn
P1. Yêu cầu Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông C1, bà S.
Luật Lương Tường H trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ
một phần yêu cầu khởi kiện yêu cầu độc lập mà S, ông C1 đã rút. Đối với
yêu cầu kháng cáo của ông C1 S, đnghị Hội đồng xét xkhông chấp nhận
khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T1, người chuyển
nhượng quyền sử dụng đất cho nguyên đơn, đã không đảm bảo về trình tự, thủ
tục theo quy định, phía bị đơn không ai tên với cách người ranh tứ
cận. Trong hcó chữ của ông Nguyễn Văn M1 nhưng cha của bị đơn tên
Nguyễn Văn M, đã chết trước đó vào ngày 19/01/2002, không thể tên
giáp ranh được. Do đó, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C1,
S với cách người nhận chuyển nhượng từ ông T1 đương nhiên không
đúng điều này đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bị đơn với cách
người đất giáp ranh với nguyên đơn. Hơn nữa, theo giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông H1 ngày 07/9/1999, diện
tích đất được cấp 658m
2
, ngày 05/12/2003 ông H1 chuyển nhượng đất cho
ông T1 là 373,5m
2
thì phần diện tích còn lại phải là 284,5m
2
, nhưng lại được ghi
trong giấy tại trang 4 542,5m
2
có ssai lệch, gây ảnh hưởng đến quyền lợi
của ông P1. Ngoài ra, bà S xác định ông P1 tự ý di dời các trụ ranh nhưng không
chứng cứ chứng minh. Đồng thời, theo đồ hiện trạng khu đất do Văn
phòng đăng đất đai chi nhánh Chợ Mới lập ngày 12/8/2020 thì các trụ đá
hoàn toàn ranh thẳng chứ không phải hình chữ Z nên không sở xác
định bị đơn dời trụ ranh. vậy, đề nghị Hội đồng xét xử sửa một phần bản án
sơ thẩm theo hướng phân tích trên.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm t nhân dân cấp cao tại Thành
phố Hồ Chí Minh:
Về thủ tục: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện theo đúng quy định
của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sthực hiện quyền, nghĩa vụ theo đúng
quy định pháp luật.
Vnội dung: giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông H1 diện
tích 658m
2
, ngày 05/12/2003 ông H1 chuyển nhượng đất cho ông T1 373,5m
2
6
thì phần diện tích còn lại phải 284,5m
2
nhưng lại được ghi trong giấy chứng
nhận tại trang 4 là 542,5m
2
là đã sự nhầm lẫn tính toán không chính xác
diện tích đất mà các bên đang sử dụng. Khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cho ông T1, các cơ quan chuyên môn đã thc hin việc đo đạc xác định ranh
gii mốc đất vào ngày 28/11/2002 có ch ký với tư cách là người có ranh t cn
ca ông Nguyễn Văn M1. Tuy nhiên, theo chng c do b đơn cung cấp giy
chng t do y ban nhân dân xã Long Điền B, huyn Ch Mi lp ngày
16/9/2019 thì cha ông P1 tên Nguyễn Văn M và đã chết vào ngày 19/01/2002
nên không th ký vào h sơ này vào ngày 28/11/2002 được. Do đó, sở xác
định các quan chuyên môn đã không thc hiện đúng trình t, th tc vic
cp giy chng nhn cho ông T1 không đúng quy định ca pháp lut, t đó
dẫn đến vic hợp đồng chuyển nhượng quyn s dụng đt gia ông T1 vi ông
C1 S là không đúng. Nguyên đơn cho rằng b đơn tự ý di tr ranh nhưng
không cung cp đưc chng c chứng minh không đưc b đơn thừa nhn
nên yêu cu của nguyên đơn không có căn c.
Đối vi yêu cu hy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s H0839cB ngày
27/06/2008 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Nguyễn Văn C1 và
Dương Thị Yến S, giy chng nhn này được cp không đúng pháp lut, gây
ảnh hưởng đến phần diện tích đất còn lại của các hộ ranh tứ cận của ông H1,
trong đó có ông P1 và bà H. Do đó, yêu cầu này của bị đơn là có căn cứ.
Như vậy, Tòa án cấp thẩm đã xét xử đúng quy định. Ông C1 S
kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ nào mới chứng minh nên
không sở chấp nhận. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn và người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, yêu cầu độc
lập về việc buộc ông Nguyễn n P1 trả lại phần đất có diện tích 9,4m
2
giới hạn
bởi các điểm 19, 20, 21, 22, trên đó một phần căn nhà của gia đình ông P1
xây dựng. Việc rút yêu cầu nêu trên do đương sự tự nguyện, không trái pháp
luật, được bị đơn đồng ý nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đề nghị Hội đồng xét xử hủy đình chỉ một phần bản án thẩm đối với
phần yêu cầu đã rút nêu trên không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của S và
ông C1.
NHẬN ĐỊNH CA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Viện
kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tung:
[1.1] Đơn kháng cáo, nghĩa vụ đóng tạm ứng án phí, đương sự đã thực hiện
đúng theo quy định của pháp luật.
7
[1.2] Tòa án triệu tập hợp lệ, ông Minh T1 đại diện theo ủy quyền
của người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện C xin xét xử
vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[1.3] Tại phiên tòa thẩm, đại diện theo ủy quyền của Dương Thị Yến
S ông Nguyễn Văn C1 đã rút một phần yêu cầu khởi kiện yêu cầu độc lập
v vic buc ông Nguyễn Văn P1 tr li phần đất din tích 24,9m
2
. B đơn
ông Nguyễn Văn P1 rút li yêu cu phn t v vic yêu cu Tòa án công nhận
toàn bộ diện tích đất 335m
2
(gồm 289,9m
2
+ 45,1m
2
) thuộc các điểm 7, 8, 5, 6,
15, 16, 17, 4, 5 theo đồ hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai
chi nhánh Chợ Mới lập ngày 12/8/2020. Việc rút yêu cầu của đương sự nêu trên
tự nguyện, không trái pháp luật nên Tòa án cấp thẩm đình chỉ giải quyết
đối với các yêu cầu này là đúng quy định tại Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.4] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Văn P (đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn Dương Thị Yến S người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Nguyễn n C1) tự nguyện rút một phần yêu cầu khởi kiện yêu cầu độc lập
về việc buộc ông Nguyễn Văn P1 trả lại phần đất 9,4m
2
, giới hạn bởi các điểm
19, 20, 21, 22, trên đó một phần căn nhà của gia đình ông P1 xây dựng, chỉ
yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn P1 trả lại phần đất giới hạn bởi
các điểm 8, 20, 19 phần đất giới hạn bởi các điểm 21, 16, 17, 4, 5, 22, diện
tích 35,7m
2
(45,1m
2
- 9,4m
2
) theo đồ hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng
đất đai chi nhánh Chợ Mới lập ngày 12/8/2020; đồng thời yêu cầu vợ chồng
ông Nguyễn Văn P1 phải di dời toàn bộ vật kiến trúc có trên phần đất này để trả
lại nguyên trạng đất cho ông C1, S. Đại diện theo ủy quyền của bị đơn bị
đơn tự nguyện đồng ý việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
một phần yêu cầu độc lập của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Do đó,
Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy một phần bản án thẩm và đình chỉ giải quyết
vụ án đối với phần yêu cầu khởi kiện và yêu cầu độc lập đã rút này.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét yêu cầu của ông Nguyễn Văn C1, Dương Thị Yến S về việc
buộc ông Nguyễn Văn P1 trả lại phần đất 35,7m
2
, giới hạn bởi các điểm 8, 20,
19 phần đất giới hạn bởi các điểm 21, 16, 17, 4, 5, 22 theo đồ hiện trạng
khu đất do Văn phòng đăng đất đai chi nhánh Chợ Mới lập ngày 12/8/2020
yêu cầu di dời toàn bộ vật kiến trúc, trả lại nguyên trạng đất cho ông C1, bà
S:
Phần đất tranh chấp được Tòa án cấp thẩm giải quyết v trí ti các
đim 8, 15, 16, 17, 4, 5, theo đồ hin trạng khu đt ngày 12/8/2020 của Văn
phòng đăng ký đất đai Chi nhánh Ch Mi là 45,1m
2
, hin nay thuộc thửa 96,
tờ bản đồ số 25, tọa lạc tại Long Điền B, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Phần đất 45,1m
2
này nằm trong tng din tích 373,5m
2
(257m
2
đất
th và
116,5m
2
đất LNK), đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giy chng nhn
quyn s dụng đất s H0839Cb ngày 27/6/2008 cho ông Nguyễn Văn C1
8
Dương Thị Yến S. Ngun gc đất này trước đây ca ông Nguyễn Văn H1, đã
đưc Ủy ban nhân dân huyện C cp giy chng nhn quyn s dụng đất s
02672QSDĐ/Cb ngày 07/9/1999. Năm 2002, ông H1 chuyển nhượng 373,5m
2
đất này cho v chng ông Nguyễn Văn T1, Nguyn Th Ê. Ông T1, bà Ê đã
đưc cp giy chng nhn quyn s dụng đất s 04002QSDĐ/cB ngày
05/12/2003, sau đó tng cho toàn b din tích này cho ông Nguyễn Văn C1
Dương Thị Yến S vào ngày 30/5/2008.
Ti giy chng nhn quyn s dụng đất s 02672QSDĐ/Cb ngày
07/9/1999 th hin, tng din tích đất ông H1 đưc cp là 658m
2
đất thổ cư. Quá
trình ông H1 s dụng đất không ai tranh chp, khiếu ni. Sau khi chuyển nhượng
373,5m
2
cho ông T1, phần đất ông H1 còn li 542,5m
2
, tăng 258m
2
[542,5m
2
-
(658m
2
- 373,5m
2
) = 258m
2
]. Phần diện ch
tăng thêm này được giải đất
LNK (HLSR), đã được ghi nhận cho ông H1 sử dụng. Đến ngày 13/5/2008, ông
H1 làm hợp đồng tặng cho ông C1 S diện tích 542,5m
2
này, trong đó
401m
2
đất thổ cư và 141,5m
2
đất LNK. Như vậy, phần đất bà S ông C1 đưc cp
giy chng nhn quyn s dụng đất diện tích không thay đi so vi din tích
ông H1 được nhà nước công nhn quyn s dng thc tế. Do đó, vic Tòa án
cấp thẩm nhận định: “đã sự nhầm lẫn tính toán không chính xác diện
tích đất mà các bên đang sử dụng, gây ảnh hưởng đến phần diện tích đất còn lại
của các hộ ranh tứ cận của ông H1, trong đó ông P1 H không
có cơ sở.
Mt khác, b đơn cho rằng ngun gốc đất tranh chp do ông Nguyễn Văn M
(cha ông Nguyễn Văn P1 s dng), nhưng không cung cấp được bt c tài liu
nào chng minh ngun gốc đt hp pháp. Phần đất tranh chp b đơn không
khai, đăng với quan nhà nước có thm quyn. Ti biên bn hòa gii ngày
13/9/2019 ca Ủy ban nhân dân Long Điền B, ông Nguyễn Văn P1 cũng
không xác định được din tích đất c th ông đang sử dng là bao nhiêu. Ti
phiên tòa phúc thẩm, ông Tha (đại din theo y quyn ca ông P1) ông P1
đều trình bày không xác định được c th diện tích đt t trước đây gia đình ông
P1 s dng là bao nhiêu; t trước đến nay vẫn chưa đăng ký khai, chưa được
cp giy chng nhn quyn s dụng đất tha nhn không chng c nào
chng minh vic gia đình ông P1 đã đăng , khai đi vi phần đất đang sử
dng cũng như phần đất tranh chp. vy, yêu cu ca b đơn không
s chp nhn.
Ngoài ra, tại Công văn số 6233/UBND-NC ngày 02/12/2020, UBND huyn
Ch Mới đã xác định vic cp giy chng nhn quyn s dụng đất cho ông C1
S đúng trình tự, th tc theo quy định. Tuy hồ cấp giy chng nhn
quyn s dụng đất thhiện phần đất của cụ Hoánh chuyển nhượng cho ông T1
giáp ranh với phần đất do cụ Nguyễn Văn M (cha ông P1) đang sử dụng tại
biên bản giáp ranh ngày 28/11/2002 sai sót về người giáp ranh, nhưng
9
sai sót này không căn cứ để cho rằng phần đất tranh chấp của ông M hoặc
của ông Nguyễn Văn P1.
Do đó, không đủ sở để xác định phần đất tranh chấp thuộc quyền sử
dụng hợp pháp của ông Nguyễn Văn P1, mà cần xác định S ông C1 có quyền
sử dụng hợp pháp đối với diện tích đất này. Tòa án cấp thẩm không chấp
nhận yêu cầu của ông C1 S, đồng thời hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số H0839cB ngày 27/06/2008 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông C1
và bà S là không có căn cứ.
[2.2] Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 03/3/2022 thể hiện trên
phần đất tranh chấp tính từ hướng bờ sông ra lộ một cây me tây (còng) do
ông P1 trồng không xác định được thời gian; cây lồng mức do ông P1 trồng
khoảng 10 năm tuổi; phần phía sau của căn nhà ông P1 với hiện trạng cuốn
nền, bê tông, mái che phía trên lợp tol, cây gỗ, chiều dài khoảng 8,5m.
Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đều thống nhất thừa
nhận: Các vị trí đất vị trí mốc theo đồ hin trạng khu đất ngày 12/8/2020
của Văn phòng đăng đất đai Chi nhánh Ch Mi đúng với thc tế mc
ranh của 02 khu đất của các bên đương s đang sử dụng đúng với v trí, din
tích mc ranh trên phần đất tranh chp. Din tích mc ranh trên phần đt tranh
chp thuộc các điểm 8, 15, 16, 18, 4, 5 45,1m
2
. Trong đó phần đất gii hn
bởi các điểm 19, 20, 21, 22 din tích 9,4m
2
, trên đó có một phần căn nhà của gia
đình ông P1 xây dng. Phần đất gii hn bởi các điểm 8, 20, 19 và phần đt gii
hn bởi các điểm 21, 16, 17, 4, 5, 22 không có công trình xây dựng, mà trên đt
này ch cây lng mt và cây me tây (còng). Ti ranh tranh chp có mt s tr đá
là tài sn ca c Hoánh, ch không phi của gia đình ông P1. Như vy, qua xem
xét biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ thì nội dung biên bản ghi chưa cụ thể,
nhưng tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự đã trình bày ràng, cụ thể hiện
trạng ranh mốc thực tế tài sản trên đất nên Hội đồng xét xử căn cứ vào hiện
trạng thực tế này để giải quyết vụ án.
[2.3] Xét yêu cầu của ông Nguyễn Văn P1 về việc hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số H0839cB ngày 27/06/2008 do Ủy ban nhân dân huyện C
cấp cho ông C1 và bà S: Như đã nhận định tại mục [2.1] nên không có cơ sở hủy
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H0839cB ngày 27/06/2008 do Ủy ban
nhân dân huyện C cấp cho ông C1 S. Do đó, yêu cầu này của ông P1
không được chấp nhận.
[2.4] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng
cáo của Dương Thị Yến S ông Nguyễn Văn C1, sửa một phần bản án
thẩm; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của S yêu cầu độc lập của ông C1,
buộc ông Nguyễn Văn P1 và Nguyễn Thị H phải di dời các tài sản của ông
P1 H (nếu có) trên phần đất diện ch 35,7m
2
, thuộc thửa 96, tờ bản đồ số
25, tọa lạc tại Long Điền B, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang đtrả lại cho
Dương Thị Yến S và ông Nguyễn Văn C1; phần đất giới hạn bởi các điểm 8, 20,
10
19 phần đất giới hạn bởi các điểm 21, 16, 17, 4, 5, 22, tổng diện tích 35,7m
2
theo Sơ đồ hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh Chợ Mới
lập ngày 12/8/2020.
[2.5] Xét vnghĩa vụ án phí: Tại phiên tòa thẩm, bị đơn đã rút yêu cầu
phản tố. Tòa án cấp thẩm đã đình chỉ yêu cu phn t ca b đơn nhưng lại
buộc bị đơn phải chịu án phí 300.000 đồng không đúng quy định tại khoản 3
Điều 18 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vQuốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử
dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuy nhiên, như nhận định tại mục [2.4], do sửa bản
án thẩm, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan nên bị đơn vẫn phải chịu án phí sơ thẩm.
[3] V chi phí t tng và án phí:
[3.1] V chi phí t tng: Do yêu cu khi kin ca bà S đưc chp nhn
nên b đơn ông Nguyễn Văn P1 phi chu tiền chi phí đo đạc, xem xét thm
định ti ch là 2.000.000 đồng theo Danh sách chi ngày 23/6/2020, Biên bn
quyết toán ngày 20/5/2020 Biên nhn chi phí t tng ngày 02/3/2022. Bà S và
ông P1 mỗi người đã nộp tm ứng 1.000.000đ nên buc ông P1 hoàn tr li cho
bà S 1.000.000 đồng.
[11.1] Án phí dân s sơ thm: bà Dương Thị Yến S và ông Nguyễn Văn C1
không phải chịu; ông Nguyễn Văn P1 phải chịu.
[11.2] Án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo được chấp nhận nên người
kháng cáo là bà ơng Thị Yến S và ông Nguyễn Văn C1 không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 244, Điều 299, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố
tụng dân sự.
Căn cứ Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết s
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn Dương Thị Yến S
và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn C1. Sửa một phần
Bản án dân sự thẩm số 17/2022/DS-ST ngày 20 tháng 4 năm 2022 của Tòa
án nhân dân tỉnh An Giang.
2. Đình chỉ mt phn yêu cu khi kin ca Dương Thị Yến S và yêu
cầu độc lập của ông Nguyễn Văn C1 v vic yêu cu ông Nguyễn Văn P1 tr li
phần đất có din tích 24,9m
2
.
3. Đình chỉ gii quyết đối vi yêu cu phn t ca b đơn ông Nguyễn Văn
Phúc v vic yêu cu Tòa án công nhận toàn bộ diện tích đất 335m
2
(gồm
11
289,9m
2
+ 45,1m
2
) thuộc các điểm 7, 8, 5, 6, 15, 16, 17, 4, 5 theo đồ hiện
trạng khu đất do n phòng đăng đất đai chi nhánh Ch Mới lập ngày
12/8/2020.
4. Hủy một phần bản án thẩm đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu
cầu khởi kiện của bà Dương Thị Yến S yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn
C1 v vic buộc ông Nguyễn Văn P1 trả lại phần đất có diện tích 9,4m
2
, giới hạn
bởi các điểm 19, 20, 21, 22 (trên đó một phần căn nhà của gia đình ông P1
xây dựng), theo đồ hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng đất đai chi
nhánh Chợ Mới lập ngày 12/8/2020.
5. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Dương Thị Yến S yêu cầu độc
lập của ông Nguyễn Văn C1.
Buộc ông Nguyễn Văn P1 và Nguyễn Thị H phải di dời các tài sản của
ông Nguyễn Văn P1Nguyễn Thị H (nếu có) để trả lại cho bà Dương Thị Yến
S ông Nguyễn Văn C1 phần đất giới hạn bởi các điểm 8, 20, 19 phần đất
giới hạn bởi các điểm 21, 16, 17, 4, 5, 22, diện tích 35,7m
2
, theo đhiện
trạng khu đất do Văn phòng đăng đất đai chi nhánh Chợ Mới lập ngày
12/8/2020. Phần đất trả lại thuộc thửa 96, tờ bản đồ số 25, tọa lạc tại Long
Điền B, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. (Có sơ đồ kèm theo)
6. Không chp nhn yêu cu ca ông Nguyễn Văn P1 v vic hy giy
chng nhn quyn s dụng đt s H0839cB ngày 27/06/2008, do Ủy ban nhân
dân huyện C cấp cho ông Nguyễn Văn C1 và bà Dương Thị Yến S.
7. Về chi phí tố tụng và án phí:
7.1. Chi phí xem xét thẩm định ti ch: Ông Nguyễn Văn P1 phi chu
2.000.000 đồng. Ông Nguyễn Văn P1 đã nộp 1.000.000 đồng. Ông Nguyễn Văn
P1 có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Dương Thị Yến S 1.000.000 đồng.
Nếu bên phải thi hành án không thanh toán đủ số tiền phải thi hành án
cho bên được thi hành án thì bên phải thi hành án phải trả tiền lãi cho bên được
thi hành án theo quy định của pháp luật.
7.2. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Dương Thị Yến S ông Nguyễn Văn C1 không phải chịu. Hoàn trả
cho S, ông C1 mỗi người 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự thẩm
đã nộp theo các biên lai thu số 0007732 ngày 23/12/2019 biên lai thu số
0008620 ngày 24/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.
- Ông Nguyễn Văn P1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự thẩm,
nhưng được cấn trừ vào số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số
0009366 ngày 07/01/2021 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
7.3. Án phí dân sự phúc thẩm: Dương Thị Yến S ông Nguyễn Văn
C1, không phải chịu. Hoàn trả cho Dương Thị Yến S và ông Nguyễn Văn C1
12
mỗi đương sự 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng tạm ứng án phí phúc thẩm mỗi
người đã nộp theo các biên lai thu s 0000122 và số 0000123 cùng ngày
19/5/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
8. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tnguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
Thi hành án dân sự.
9. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao (1);
- VKSND cấp cao tại TP.HCM (1);
- TAND tỉnh An Giang (1);
- VKSND tỉnh An Giang (1);
- Cục THADS tỉnh An Giang (1);
- Các đương sự (5);
- Lưu HSVA (1), VP (5), 16b (PPC);
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vũ Ngọc Huynh
Tải về
Bản án số 66/2023/DS-PT Bản án số 66/2023/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất