Bản án số 65/2021/HNGĐ-ST ngày 27/08/2021 của TAND huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 65/2021/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 65/2021/HNGĐ-ST ngày 27/08/2021 của TAND huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Sơn Dương (TAND tỉnh Tuyên Quang)
Số hiệu: 65/2021/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/08/2021
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T và Trần Văn C mâu thuẫn vợ chồng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SƠN DƯƠNG
TỈNH TUYÊN QUANG
Bản án số: 65/2021/HN- ST
Ngày 27/8/2021
V/v tranh chp ly hôn, nuôi con khi ly hôn
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Đc lập - T do - Hạnh phúc
NN DANH
NƯỚC CNG HOÀ XÃ HI CH NGHĨA VIT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phn Hi đng xét xsơ thm gm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Tuấn Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ma Quốc Thể
2. Ông Nguyễn Văn Quang
Thư phiên toà: Thị Vân Anh - Thư Toà án nhân dân huyện Sơn
Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang tham
gia phiên tòa: Nguyễn Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 27/8/2021, tại trụ sToà án nhân dân huyện Sơn Dương mở phiên toà
xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 238/2021/TLST- HNGĐ, ngày 24 tháng 3
năm 2021 về việc Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn, theo quyết định đưa vụ án
ra xét xử số 72/2021/QĐXXST- HNGĐ, ngày 29/7/2021, quyết định hoãn phiên tòa
số 46/2021/QĐST-HNGĐ ngày 09/8/2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1983.
- Bị đơn: Anh Trần Văn C, sinh năm 1983.
Cùng trú tại: Thôn V, xã S, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
( Chị Nguyễn Thị T và anh Trần Văn C đều có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện các lời khai, biên bản hòa giải trong qtrình giải
quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:
Về quan hhôn nhân: Chị anh Trần Văn C kết hôn trên sở tự nguyện,
đăng kết hôn vào ngày 04/01/2010 tại Uỷ ban nhân dân (UBND) S, huyện
Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang theo đúng quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn
hai vchồng cùng làm ăn sinh sống tại thôn V, S, huyện Sơn Dương. Thời gian
đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng đến năm 2012 vợ chồng anh chị phát
sinh mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng
bất đồng quan điểm sống, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Nay ch
xác định tình cảm không còn, không thể đoàn tụ được nên đề nghị Tòa án giải quyết
cho chị được lyn với anh C.
2
Về con chung: Anh chị 02 con chung cháu Trần Việt Q, sinh ngày
07/12/2010 cháu Trần Quang H, sinh ngày 05/10/2017. Khi ly n chị đề nghị
được quyền nuôi dưỡng, giáo dục cả hai cháu, chị không yêu cầu anh C cấp dưỡng
nuôi con chung.
Về tài sản, đất đai, công nợ chung: Chị xác định tự thỏa thuận, không đề nghị
Toà án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải tại phiên tòa anh Trần Văn C
trình bày:
Về thời gian kết hôn quá trình chung sống giữa anh chị T như chị T
trình bày đúng. Về nguyên nhân dẫn đến ly hôn anh C xác định vợ chồng anh chị
phát sinh mâu thuẫn vào năm 2021. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm
sống dẫn đến thường xuyên cãi chửi không nhường nhịn nhau, cuộc sống chung
luôn trong tình trạng căng thẳng. Quan điểm của anh C tình cảm vchồng vẫn
còn, anh không nhất trí ly hôn với chị T.
Về con chung: Anh C xác định quá trình chung sống vợ chồng anh chị có 02
con chung cháu Trần Việt Q, sinh ngày 07/12/2010 cháu Trần Quang H, sinh
ngày 05/10/2017. Trường hợp ly hôn anh nhất trí giao cháu H, cháu Q cho chị T
nuôi dưỡng, giáo dục. Anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản, đất đai, nợ chung: Anh C xác định tự thỏa thuận, không đề nghị
Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương phát biểu
quan điểm: Toà án đã thụ lý, giải quyết vụ án ly hôn sơ thẩm về việc “Tranh chấp ly
hôn, nuôi con khi ly hôn” đúng thẩm quyền, đúng nội dung tranh chấp. Quá trình
thụ lý, giải quyết vụ án tại phiên tòa, thẩm phán Hội đồng xét xử (HĐXX) đã
thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; quyền nghĩa vụ của
đương sự được đảm bảo. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn c chấp nhận.
Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 28, 39, 147, 235, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng
dân sự; Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định
về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T, x
cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Trần Văn C. Giao cháu Trần Việt Q,
sinh ngày 07/12/2010 và cháu Trần Quang H, sinh ngày 05/10/2017 cho chị Nguyễn
Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Trần Văn C quyền nghĩa vụ đi lại
thăm nom con chung không ai được cản trở. Về tài sản, đất đai, công nợ chung: Chị
T và anh C đều c định tự thỏa thuận nên không xem xét. Chị Nguyễn Thị T phải
chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1] Về quan hpháp luật tranh chấp: Chị Nguyễn Thị T anh Trần Văn C
kết hôn tự nguyện, đăng kết n, vậy đây quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Chị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và giao nuôi con chung khi ly hôn,
3
do vậy quan hệ pháp luật tranh chấp xác định là: Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly
hôn theo quy định tại khoản 1, Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Chị Nguyễn Thị T và anh Trần Văn
C đều đăng hộ khẩu thường tvà hiện đang sinh sống tại thôn V, S, huyện
Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. vậy, căn cứ khoản 1, Điều 39 Bộ luật Tố tụng
dân sự, Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án là Tòa án nhân dân huyện Sơn
Dương.
[3] Về yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị T, HĐXX nhận định: Căn cứ kết
quả xác minh tại chính quyền địa phương nơi trú của chT anh C xác định:
Chị T và anh C kết hôn vào năm 2010. Sau khi kết hôn, anh chị làm ăn sinh sống tại
thôn V, xã S, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Đến năm 2021 vợ chồng anh
chị phát sinh mâu thuẫn cãi chửi nhau. Bản thân chị T xác định vợ chồng không còn
tình cảm, không thể quay lại đoàn tụ được. Quá trình giải quyết vụ án, anh C cũng
thừa nhận việc mâu thuẫn giữa hai vợ chồng.
Từ những căn cứ trên xác định, tình trạng n nhân giữa chị T anh C đã
thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt
được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của chị T chính đáng và có căn cứ cần chấp nhận
theo quy định tại khoản 1, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về việc giao nuôi con chung khi ly hôn, HĐXX nhận định: Qúa trình giải
quyết ly hôn chị Nguyễn Thị T quan điểm muốn được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo
dục cả hai con chung, chị không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung. Tại
phiên tòa chị T, anh C cùng có quan điểm nhất trí thỏa thuận chị T được quyền nuôi
dưỡng, giáo dục 02 con chung cháu Trần Việt Q, sinh ngày 07/12/2010 cháu
Trần Quang H, sinh ngày 05/10/2017. Chị T không yêu cầu anh C nghĩa vụ cấp
dưỡng nuôi con chung. Căn cứ Điều 81, 82, 83 - Luật HN&GĐ, Hội đồng xét xử
công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, giao cháu Trần Việt Q, sinh ngày
07/12/2010 cháu Trần Quang H, sinh ngày 05/10/2017 cho chị Nguyễn Thị T
trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Trần Văn C không phải cấp dưỡng
nuôi con và có quyền, nghĩa v thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
[5] Về tài sản, đất đai, công nợ chung: Chị T anh C đều xác định tự thỏa
thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[6] Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo
quy định của pháp luật. Anh Trần Văn C không phải nộp án phí.
[7] Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 39, 147, 235, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân gia đình; Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
quy định về án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Trần Văn
C.
4
2. Về nuôi con chung: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, giao con
chung là cháu Trần Việt Q, sinh ngày 07/12/2010 và cháu Trần Quang H, sinh ngày
05/10/2017 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.
Anh Trần Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con và quyền, nghĩa vụ đi lại
thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án
phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ
(Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003817 ngày
24 tháng 3 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên
Quang. Anh Trần Văn C không phải nộp án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Về giao nuôi con chung khi ly hôn có hiệu lực pháp
luật ngay sau khi được ban hành không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục
phúc thẩm.
Chị T, anh C được quyền kháng cáo phần còn lại của bản án trong thời hạn
15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận
- TAND tỉnh Tuyên Quang;
- VKSND huyện Sơn Dương;
- Chi cục THADS huyện Sơn Dương;
- UBND xã S;
- Các đương sự;
- Lưu VT- HS.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ to phiên toà
(đã ký)
Lê Tuấn Linh
5
6
Tải về
Bản án số 65/2021/HNGĐ-ST Bản án số 65/2021/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất