Bản án số 65/2020/HS-ST ngày 29/09/2020 của TAND tỉnh Điện Biên về tội mua bán trái phép chất ma túy và tội vận chuyển trái phép chất ma túy

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 65/2020/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 65/2020/HS-ST ngày 29/09/2020 của TAND tỉnh Điện Biên về tội mua bán trái phép chất ma túy và tội vận chuyển trái phép chất ma túy
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Điện Biên
Số hiệu: 65/2020/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/09/2020
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐIỆN BIÊN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 65/2020/HS-ST
Ngày: 29-9-2020
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hằng.
Thẩm phán: Ông Văn Lịch.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Sần Tải Vần.
Hà Thị Thanh Thủy.
Lò Thị Thúy Hà.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Tuấn Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Điện
Biên.
- Đi din Viện kim sát nhân n tỉnh Điện Biên tham gia phiên a: Ông
Phan Văn K - Kim sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên đã tiến
hành xét xthẩm công khai vụ án hình sự thụ số 66/2020/TLST-HS ngày
10 tháng 9 năm 2020, theo Quyết định đưa ván ra xét xsố 65/2020/QĐXXST-
HS ngày 16 tháng 9 năm 2020 đối với các bị cáo:
1. Giàng Thị T (tên gọi khác: Không) sinh ngày 01/01/1967 tại huyện m,
tỉnh y. Nơi trú: Bản P, N, huyện Z, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng;
Trình độ văn hóa: Không; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Giàng Nủ T1 (đã chết) và bà Chai Thị S (đã chết); có chồng Mùa Sống
S1 (đã chết) 05 người con, con lớn nhất sinh năm 1990, con nhỏ nhất sinh năm
2003; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử vi phạm
hành chính; Bị cáo tạm gi từ ngày 25/5/2020 đến ngày 03/6/2020 bị tạm giam
cho đến nay. Có mặt.
2. Giàng Thị P (tên gọi khác: Không) sinh ngày 28/5/1981 tại M, tỉnh Y.
Nơi trú: Bản P, N, huyện Z, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình
độ văn hóa: Không; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không; quốc tch: Việt Nam; Con
ông Giàng NC (đã chết) và Mùa Thị S1 (đã chết); chồng Mùa A L (sinh
năm 1980) và 04 người con, con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm
2009; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bxử vi phạm
hành chính; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/5/2020 đến ngày 03/6/2020 bị tạm giam
cho đến nay. Có mặt.
2
- Ni bào chữa cho bị cáo Giàng Thị T: Triệu Thị H - Luật thực hiện
trợ giúp pháp của Trung tâm trợ giúp pháp nhà nước tỉnh Điện Biên. mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Giàng Thị P: Thị Thúy A - Trợ giúp viên
pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, tỉnh Điện Biên. Có mặt.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Mùa A L, sinh năm 1980. Địa
chỉ: Bản P, xã N, huyện Z, tỉnh Điện Biên
- Người phiên dịch tiếng dân tộc Mông cho các bị cáo: Ông Sùng A C, sinh
năm 2000. Địa chỉ: Tổ X, phường Y, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 25/5/2020, Giàng Thị T đến bãi thả trâu của gia đình
khu vực mốc 53 biên giới Việt - Lào thuộc bản P, xã N, huyện Z, tỉnh Điện Biên
thì gặp một người đàn ông, T không biết tên, tuổi địa chỉ cụ thể, chỉ biết khoảng
30 tuổi là người dân tộc Hà Nhì và đang sống bên Lào. Tại đây, T đã đổi một con
trâu gtrtừ 14 đến 20 triệu đồng của gia đình để lấy 03 gói thuốc phiện
12 túi Methamphetamine của người đàn ông trên, mục đích mang về n kiếm lời.
Sau khi trao đổi xong, T cho ma túy vào chiếc túi thổ cẩm màu đen mang theo từ
trước và nhặt túi nilon màu xanh bọc bên ngoài, rồi khoác lên người. Khoảng 30
phút sau, có Hạng Thị C là người cùng bản với T đi bộ đến, rồi cùng nhau đi bộ
về. Trên đường về T bị đau chân nên mượn điện thoại của C gọi cho Giàng Thị P
là em dâu T đi về khu vực mốc 53 đón T, gọi xong T trả điện thoại cho C để C đi
về trước, còn T mang ma túy đi sau, khi T về đến khe suối thuộc bản P thì gặp P
điều khiển xe máy hiệu YAMAHA, biển kiểm soát 27S1 - 003.76 đến. Lúc đó, T
thấy trên lưng P đang địu một cháu nhỏ khoảng 01 tuổi, nên bảo P mang túi ma
túy này về nhà trước, còn T về sau. P nhất trí, đồng thời cất dấu túi ma túy trong
cốp xe máy rồi đi về. Khoảng 18 giờ 05 phút cùng ngày, P về đến trạm kiểm dịch
khu vực bản Pa, xã N, huyện Z thì bị tổ công tác đồn Biên phòng N phát hiện
thu giữ vật chứng 03 gói thuốc phiện tổng khối lượng 75,80 gam 12 túi
Methamphetamine tổng khối lượng 237,72 gam. Sau khi P đi về được một
lúc thì T gặp Mùa A V người cùng bản với T đang điều khiển xe máy, nên T
xin đi nhờ, khi qua trạm kiểm dịch của đồn Biên Phòng N thấy P đang bị giữ, nên
T xuống xe quay lại chỗ P đồng thời thừa nhận s ma túy vừa thu giữ là của T, do
T nhP mang về. Nên tổ công tác đồn Biên phòng N đã lập biên bản bắt người
phạm tội quả tang đối với T và P, đồng thời niêm phong vật chứng.
Tại Bản Kết luận giám định số 471/GĐ-PC09 ngày 03/6/2020 của Phòng kỹ
thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận:
- 12 (mười hai) mẫu viên nén màu hồng trích ra từ vật chứng thu giữ của
Giàng Thị T, Giàng Thị P gửi giám định là chất ma túy: Loại Methamphetamine.
3
- 03 (ba) mẫu chất dẻo màu nâu đen trích ra từ vật chứng thu giữ của Giàng
Thị T, Giàng Thị P gửi giám định là chất ma túy: Loại thuốc phiện.
- Khối lượng vật chứng thu giữ của Giàng Thị T, Giàng Thị P gồm: 237,72
gam viên nén màu hồng và 75,80 gam chất dẻo màu nâu đen.
- Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 323, mục
IIC, Danh mc II, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018.
- Thuốc phiện nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 398, mục IID,
Danh mục II, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018.
Bản cáo trạng số 57/CT-VKS-P1 ngày 08/9/2020 của Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Điện Biên truy tố ra trước Toà án nhân dân tỉnh Điện Biên để xét xử bị
cáo Giàng Thị T vtội Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4
Điều 251 Bộ luật Hình sự bị cáo Giàng Thị P vtội “Vận chuyển trái phép
chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên giữ quyền
công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo đề nghị Hội đồng xét
xử:
- Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251, điểm s, điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ
luật hình sự xphạt bị cáo Giàng Thị T 20 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất
ma túy”.
- Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 250, điểm s khoản 1 Điều 51 Bluật Hình
sự xphạt bị cáo Giàng Thị P 20 năm tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma
túy”.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 250,
khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để xử
lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
- Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều
12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ
Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo
trạng bản luận tội của Kiểm sát viên. Thực hiện lời nói sau cùng các bị cáo
Giàng Thị T và Giàng Thị P không đề nghị gì đối với Hội đồng xét xử.
Người bào chữa cho các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì về tội danh và
điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên đã truy tố các bị cáo bản
luận tội của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét
đến điều kiện sinh sống của các bị cáo: Các bcáo do hiểu biết pháp luật còn nhiều
hạn chế, không được đi học, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã
thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải nên Đề nghị
Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sđối với
các bị cáo; riêng bị cáo Giàng Thị T khi thấy Giàng Thị P bị quan chức năng
bắt giữ đã tự nguyện xuống xe quay lại chỗ P đồng thời thừa nhận số ma túy vừa
4
thu giữ là của T nên cần áp dụng thêm nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy
định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo T. Những người
bào chữa đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt các bị cáo mức thấp nhất
của khung hình phạt đ bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội. Người bào chữa
cho bị cáo Giàng Thị P đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc xe máy cho
gia đình bị cáo Giàng Thị P để làm phương tiện đi lại cho gia đình bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT X
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Lời khai của các bị cáo Giàng Thị T và Giàng Thị P trong quá trình điều tra
tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người hành vi
phạm tội quả tang; Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong h
sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:
Khoảng 12 giờ ngày 25/5/2020, tại khu vực mốc 53 biên giới Việt Lào
thuộc Bản P, N, huyện Z, tỉnh Điện Biên, Giàng Thị T đã hành vi trao đổi
một con trâu giá trị từ 14 đến 20 triệu đồng của gia đình đlấy 03 gói thuốc
phiện và 12 túi Methamphetamine với một người đàn ông T không biết tên, tuổi
địa chỉ, mc đích mang về bán kiếm lời. Sau khi trao đổi xong, T cho ma túy vào
chiếc túi thổ cẩm màu đen mang theo từ trước nhặt túi nilon màu xanh bọc bên
ngoài, rồi khoác lên người. Trên đường về T mượn điện thoại của một người về
cùng đường tên C ở cùng bản với T, gọi cho Giàng Thị P là em dâu T đi về khu
vực mốc 53 đón T, khi T về đến khe suối thuộc bản P thì gặp P điều khiển xe máy
hiệu YAMAHA, biển kiểm soát 27S1 - 003.76 đến. T bảo P mang túi ma túy này
về nhà trước, còn T về sau. P nhất trí, đồng thời cất dấu túi ma túy trong cốp xe
máy rồi đi về. Khoảng 18 giờ 05 phút cùng ngày, P về đến trạm kiểm dịch ở khu
vực bản P, N, huyện Z thì bị tổ công tác đồn Biên phòng N phát hiện thu giữ
vật chứng là 03 gói thuốc phiện có tổng khối lượng 75,80 gam 12 túi
Methamphetamine có tổng khối lượng là 237,72 gam. Khi về qua trạm kiểm dịch
của đồn Biên Phòng N, thấy P đang bị giữ, nên T quay lại chỗ P nhận số ma túy
vừa thu giữ là của T, do T nhờ P mang về. Nên tổ công tác đồn Biên phòng N đã
lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T P, đồng thời niêm phong
vật chứng.
Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận bị cáo Giàng Thị T đã phạm vào tội
“Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự;
bị cáo Giàng Thị P đã phạm vào tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo
điểm h khoản 4 Điều 250 Bluật Hình sự.
[2] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bcáo Giàng Thị T
Giàng Thị P đặc biệt nguy hiểm cho hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản
của Nhà nước về các chất ma y, m phạm trật tự an toàn hội, gây mất trật
tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác, ma túy là nguyên nhân
5
phát sinh các tệ nạn xã hội tội phạm khác. Hành vi mua bán, vận trái phép chất
ma tuý của bị cáo Giàng Thị T và Giàng Thị P là đăc biệt nghiêm trọng. Mc đích
mua bán ma túy của bị cáo Giàng Thị T để bán lẻ kiếm lời, còn mục đích vận
chuyển ma túy của Giàng Thị P là giúp đỡ Giàng Thị T mang số ma túy về nhà T.
Về tình tiết định khung hình phạt:
Đối với bị cáo Giàng Thị Tđã có hành vi mua bán trái phép 75,80 gam thuốc
phiện và 237,72 gam Methamphetamine, cấu thành tình tiết định khung quy định
tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo Giàng Thị P đã hành vi vận chuyển trái phép 75,80 gam
thuốc phiện 237,72 gam Methamphetamine, cấu thành tình tiết định khung quy
định tại điểm h khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự.
Do đó, bản cáo trạng 57/CT-VKS-P1 ngày 08/9/2020 của Viện kiểm sát nhân
tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Giàng Thị T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
theo điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự; truy tbị cáo Giàng Thị P về tội
“Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình
sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, các bị cáo không oan sai.
Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên tham gia
phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù thời hạn đối với các bị
o phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, phù hợp với
quy định của pháp luật, cần chấp nhận.
Đối với đề nghị của những người bào chữa về việc áp dụng điểm s khoản 1
Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với cả 2 bị cáo và áp dụng thêm điểm r khoản 1 Điều
51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Giàng Thị T để xử phạt các bị cáo ở mức thấp
nhất của khung hình phạt, xin miễn hình phạt bổ sung, miễn án phí hình sự
thẩm cho các bị cáo, là có căn cứ chấp nhận. Đối với đề nghị của người bào chữa
cho bị cáo Giàng Thị P về việc trả lại chiếc xe máy bị cáo Giàng Thị P dùng làm
phương tiện để vận chuyển ma túy cho gia đình bị cáo là không căn cứ chấp
nhận.
[3] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 và khoản 5
Điều 250 Bộ luật hình sự năm 2015 thì Người phạm tội còn thể bị phạt tiền
từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành
nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần
hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các
bị cáo tại phiên tòa cho thấy nghề nghiệp của các bị cáolàm nông nghiệp, thu
nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị nên Hội đồng xét xử không
áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[4] Xét về nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự của các bị cáo, thấy rằng:
Các bị cáo không tình tiết tăng nặng chưa bkết án, chưa bị xử vi
phạm hành chính. Quá trình điều tra tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai
báo về hành vi phạm tội của mình, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy
định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Giàng Thị T được
6
áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r khoản 1
Điều 51 Bộ luật Hình sự do khi biết P bị quan chức năng bắt giữ T đã xuống
xe quay lại chỗ P đồng thời thừa nhận với cơ quan chức năng số ma túy vừa thu
giữ là của T, do T nhờ P mang về.
[5] Về hành vi, quyết định tố tụng của quan điều tra ng an tỉnh Điện
Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Điện Biên, Kiểm sát viên trong
quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo đúng quy định về thẩm quyền, trình
tự, thủ tục, các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra tại
phiên tòa, bị cáo không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành t tụng. Do đó, các hành vi, quyết định t
tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp
pháp, phù hợp với các quy định của pháp luật.
[6] Về vật chứng vụ án: Theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự
khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, số vật chứng đã thu giữ của các bị
cáo cần xử lý như sau:
- Đối với 227,76 gam Methamphetamine 72,49 gam thuốc phiện thu giữ
của Giàng Thị T, Giàng Thị P là những vật chứng của vụ án còn lại sau khi giám
định và 01 chiếc túi nilon màu xanh, đã qua sử dụng bị cáo dùng đđựng ma túy,
cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động loại n phím, hiệu GIONEE L800 màu đen
đỏ, số IMEL: 865552025572813 đã thu giữ của Giàng Thị P, không liên
quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo P.
- Đối với 01 điện thoại di động loại bàn phím, hiệu GIONEE N130 màu
đen đỏ, số IMEL: 357722000536217 đã số tiền 965.000 đồng thu giữ của
Giàng Thị T, không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo T.
- Đối với chiếc xe máy hiệu YAMAHA, loại xe Taurus, màu trắng đen,
số khung: RLCS16S20BY154744, số máy: 16S2-154742, mang BKS 27S1-
003.76, đã thu giữ của Giàng Thị P. Quá trình điều tra tại phiên tòa, anh
Mùa A L bị cáo P đều khai chiếc xe máy y tài sản chung của vchồng,
được mua bằng nguồn tiền chung của gia đình, bị cáo P đã dùng xe này đvận
chuyển ma túy, do đó cần tịch thu ½ giá trị chiếc xe máy để sung vào ngân sách
Nhà nước và trả lại cho anh Mua A L ½ giá trị chiếc xe máy trên.
[7] Vcác vấn đliên quan khác: Đối với người đàn ông đổi ma túy cho T,
nhưng T không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, chỉ biết người n tộc Nhì, sống
bên Lào, nên quan điều tra không đủ sở để làm rõ. Hội đồng xét xử
không xem xét.
Giàng Thị T khai mượn điện thoại của Hạng Thị C để gọi cho Giàng Thị P;
Mùa A V người đã cho T đi nhờ. Quá trình điều tra đã tiến nh xác minh nhưng
C V không mặt tại nơi trú, nên không đủ sở để làm , Hội đồng
xét xử không xem xét trong vụ án.
[8] Ván phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, các bị cáo
phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, nhưng do các bị cáo đang sinh sống tại vùng có
điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định miễn
7
án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12
NghQuyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc
hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 250, điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố:
- Bcáo Giàng Thị T (tên gọi khác: Không) phạm tội “Mua bán trái phép
chất ma túy”.
- Bị cáo Giàng Thị P (tên gọi khác: Không) phạm tội “Vận chuyển trái phép
chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
2.1 Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s, điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ
luật Hình sự, xphạt bị cáo Giàng Thị T 20 (Hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính
từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (Ngày 25/5/2020).
2.2 Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật nh
sự, xử phạt bị cáo Giàng Thị P 20 (Hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày b
cáo bị bắt tạm gi(Ngày 25/5/2020).
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình skhoản 2
Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
* Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) hộp niêm phong dạng hình hộp chữ nhật được dán kín bằng giấy
trắng băng dính trong suốt. Trong đó chứa 227,76 gam Methamphetamine
và 72,49 gam thuốc phiện là vật chứng vụ án còn lại sau khi gửi mẫu giám định.
- 01 Chiếc túi vải thổ cẩm màu đen có dây đeo.
* Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: ½ giá trị 01 chiếc xe máy hiệu
YAMAHA, loại xe Taurus, màu trắng - đen, số khung: RLCS16S20BY154744,
số máy: 16S2 154742, mang BKS 27S1- 00376, đã cũ thu giữ của Giàng Thị P.
* Tr lại cho bị cáo Giàng Thị P: 01 chiếc điện thoại di động loại bàn phím,
hiệu GIONEE L800 màu đen đỏ, có số IMEL: 865552025572813 đã cũ.
* Trả lại cho bị cáo Giàng Thị T:
- 01 chiếc điện thoại di động loại bàn phím, hiệu GIONEE N130 màu đen
đỏ, có số IMEL: 357722000536217 đã cũ.
- Số tiền ngân ng Nhà nước Việt Nam đang lưu hành 965.000 đồng (Chín
trăm sáu mươi năm nghìn đồng) đựng trong 01 (một) gói niêm phong bằng phong
bì công văn của Công an huyện N được dán kín.
8
* Trả lại cho anh Mùa A L: ½ giá trị 01 chiếc xe máy hiệu YAMAHA, loại
xe Taurus, màu trắng - đen, số khung: RLCS16S20BY154744, số máy: 16S2
154742, mang BKS 27S1- 00376, đã cũ thu giữ của Giàng Thị P.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công
an tỉnh Điện Biên và Cục thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên ngày 08/9/2020).
4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật ttụng hình sự; điểm đ
khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí lệ phí Tòa án; miễn án phí hình sự thẩm cho các bị cáo
Giàng Thị T, Giàng Thị P.
5. Về quyền kháng cáo đối với bản án:Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật
tố tụng hình sự, các bcáo được quyền kháng cáo Bản án, người quyền lợi
nghĩa vụ liên quan quyền kháng cáo phần phần Bản án hoặc Quyết định liên
quan đến mình lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Nội trong hạn 15 ngày ktừ
ngày tuyên án (ngày 29/9/2020)./.
Nơi nhận:
- Vụ GĐKT I - TAND tối cao;
- VKSND Cấp cao tại Hà Nội;
- VKSND tỉnh Điện Biên;
- Công an tỉnh Điện Biên;
- Trại tạm giam CA tỉnh Điện Biên;
- Cục THADS tỉnh Điện Biên;
- Phòng HCTP-Sở Tư pháp;
- Các bị cáo;
- Người bào chữa;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- UBND xã N, huyện Z, tỉnh Điện Biên;
- Lưu HS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Bùi Thị Thu Hằng
Tải về
Bản án số 65/2020/HS-ST Bản án số 65/2020/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất