Bản án số 61/2022/HS-ST ngày 30/11/2022 của TAND huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh về tội môi giới mại dâm và chứa mại dâm
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 61/2022/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 61/2022/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 61/2022/HS-ST ngày 30/11/2022 của TAND huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh về tội môi giới mại dâm và chứa mại dâm |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Hải Hà (TAND tỉnh Quảng Ninh) |
| Số hiệu: | 61/2022/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 30/11/2022 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H
TỈNH QUẢNG NINH
Bản án số: 61/2022/HS-ST
Ngày: 30/11/2022
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Vương Thị Thanh
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. bà Đặng Thị Hạnh
2. ông Nguyễn Đức Hạnh
- Thư ký phiên tòa: ông Vũ Đức Thắng, thư ký Tòa án nhân dân huyện H
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa: bà Nguyễn
Thị Phượng, kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ
thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 60/2022/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm
2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2022/QĐXXST-HS ngày 17 tháng
11 năm 2022 đối với:
- Các bị cáo:
1. Nguyễn Hoàng T; tên gọi khác: không; sinh ngày 01/01/1975 tại huyện T,
tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú: ấp T, xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: lao
động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không;
quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn U và bà Nguyễn Thị S; vợ: Ngô Thị D
(đã ly hôn); con: có 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp ngăn
chặn giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 26/9/2022, hiện tạm giam tại nhà
tạm giữ Công an huyện H, có mặt.
2. Nguyễn Thị H; tên gọi khác: không; sinh ngày 01/10/1980 tại huyện Đ,
tỉnh Quảng Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn 3, xã M, huyện H, tỉnh
Quảng Ninh; nơi tạm trú: khu G, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; nghề
nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn
giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn N và bà Phạm Thị T;
chồng: Nguyễn Văn H (đã ly hôn); con: có 04 con; tiền án, tiền sự: không; nhân
thân: năm 2014 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 09 tháng tù về tội
“gây rối trật tự công cộng”, đã chấp hành xong; bị cáo bị tạm giữ từ ngày
26/9/2022 đến ngày 05/10/2022, hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi
khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cánh, có mặt.
- Những người làm chứng:
+ Anh Phan Văn T1; sinh ngày 02/5/1983;
Địa chỉ: khu M, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
+ Anh Cao Hữu V; sinh ngày 22/02/1991;
2
Địa chỉ: thôn 7, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
+ Chị Lò Thị V1; sinh ngày 01/4/1994;
Địa chỉ: thôn 3, xã C, huyện H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
+ Chị Lò Thị C; sinh ngày 20/5/1996;
Địa chỉ: thôn 3, xã C, huyện H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
+ Chị Đỗ Thị H1; sinh ngày 10/01/1987;
Địa chỉ: thôn 3, xã C, huyện H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
+ Chị Lò Thị N; sinh ngày 10/01/1993;
Địa chỉ: thôn 3, xã C, huyện H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu năm 2019, Nguyễn Thị H quản lý, kinh doanh nhà nghỉ Lan Anh
có địa chỉ tại khu G, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Đến khoảng đầu năm
2022, do thấy một số khách có nhu cầu mua dâm nên H đã nảy sinh ý định sử dụng
nhà nghỉ cho khách thực hiện mua bán dâm nhm kiếm lời. Do biết Nguyễn Hoàng
T có nhân viên phục vụ mại dâm nên H đã liên hệ với T, khi có khách hỏi thì H sẽ
gọi T để T chỉ đạo nhân viên đến nhà nghỉ của H bán dâm. Sau khi nhân viên bán
dâm cho khách thì nhân viên cầm tiền về cho T rồi cùng nhau chia tiền theo thỏa
thuận. Cụ thể như sau: việc bán dâm được chia thành hai trường hợp là đi “tàu
nhanh” (nghĩa là bán dâm một lần cho khách) và đi “qua đêm” (nghĩa là nhân viên
bán dâm ngủ với khách qua đêm, có thể quan hệ tình dục nhiều lần). Nếu H (chủ
nhà nghỉ) gọi T yêu cầu nhân viên bán dâm thì phải trả thêm cho H tiền sử dụng
phòng nghỉ của H để bán dâm, mức tiền tùy thuộc vào đi “tàu nhanh” hoặc đi “qua
đêm”. Nếu khách mua dâm trực tiếp gọi điện thoại cho T (không thông qua nhà
nghỉ) thì không phải chia thêm cho H. Khách tự trả tiền nhà nghỉ. T trực tiếp chỉ
đạo cho nhân viên đi bán dâm cho khách, sau khi đi bán dâm về thì nhân viên thu
tiền của khách và về chia tiền với T, mức chia là T lấy một nửa tiền và nhân viên
lấy một nửa tiền. Giá “tàu nhanh” thường khoảng 500.000 đồng/lượt, nếu H gọi
cho T thì phải trả thêm cho H 100.000 đồng/lượt/người, nếu khách gọi trực tiếp thì
thu của khách 400.000 đồng/lượt. Giá “qua đêm” giao động từ 2.000.000 đến
2.500.000 đồng/lượt và phải chia cho H 400.000 đồng/lượt/người nếu H gọi cho T.
Nếu khách gọi trực tiếp thì sẽ thu của khách khoảng 1.600.000 – 2.100.000
đồng/lượt.
Khoảng 23 giờ 15 phút ngày 25/9/2022, H đang đứng quầy quản lý nhà nghỉ
Lan Anh thì Cao Hữu V và Phan Văn T1 đến hỏi có nhân viên nữ phục vụ mại
dâm không, H bảo có thì V và T1 yêu cầu 02 người đến phục vụ V và T1. H báo
giá đi “tàu nhanh” thì một người hết 500.000 đồng và mất 100.000 đồng tiền nhà
nghỉ, hai người tng cộng hết 1.200.000 đồng. V và T1 đồng ý và trả cho H
1.200.000 đồng. Sau đó H gọi điện thoại cho T. T chỉ đạo cho hai nhân viên là Lò
3
Thị V1 (sinh năm 1994) và Lò Thị C (sinh năm 1996) đến nhà nghỉ Lan Anh để
bán dâm cho khách. Khi đến nơi thì C vào phòng số 2222 bán dâm cho V và V1
vào phòng số 3333 bán dâm cho T1. Đến khoảng 23 giờ 45 cùng ngày, lực lượng
Công an huyện H đến kiểm tra phát hiện những người có tên trên đang thực hiện
hành vi mua bán dâm nên đã lập biên bản, thu giữ vật chứng gồm: 02 chiếc bao
cao su cũ, đã qua sử dụng và 02 vỏ bao cao su đã xé một góc; 01 đầu thu camera
màu trắng thu giữ tại quầy lễ tân của nhà nghỉ Lan Anh; Số tiền 1.200.000 đồng,
01 chiếc điện thoại di động của H. Khám xét khẩn cấp tại nơi ở của Nguyễn Hoàng
T tại thôn 3, xã C, huyện H thu giữ 48 chiếc bao cao su, số tiền 1.500.000 đồng và
01 chiếc điện thoại di động của T. Ngày 26/9/2022, Cơ quan điều tra đã ra lệnh
Giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Thị H và Nguyễn Hoàng T.
Quá trình điều tra còn xác định được, khoảng 15 giờ ngày 25/9/2022, T đã
chỉ đạo cho hai nhân viên là Lò Thị N (sinh năm 1993) và Đỗ Thị H1 (sinh năm
1987) bán dâm cho 02 người khách (không xác định được lai lịch địa chỉ) tại nhà
nghỉ Minh Nghĩa thuộc thôn 3, xã C, huyện H, thu của khách tng số tiền 700.000
đồng, trong đó T thu lời số tiền 350.000 đồng.
Quá trình điều tra, Nguyễn Thị H, Nguyễn Hoàng T đã khai nhận toàn bộ
hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên (bt lục s 104,105,136,137).
Tại phiên tòa, Nguyễn Hoàng T khai: bị cáo thuê 04 nhân viên gồm Lò Thị
V1, Lò Thị C, Đỗ Thị H1 và Lò Thị N để phục vụ khách có nhu cầu mua dâm. Giá
mua dâm 01 lần “tàu nhanh” (nghĩa là bán dâm 01 lần) là 500.000 đồng, khách đi
“qua đêm” (nghĩa là nhân viên bán dâm cho khách, ngủ qua đêm với khách) thì giá
dao động từ 2.000.000 đồng đến 2.500.000 đồng. Thông thường, chủ nhà nghỉ trực
tiếp liên hệ với bị cáo để yêu cầu số lượng nhân viên đi bán dâm, nhà nghỉ thu tiền
phòng cho việc bán dâm là 100.000 đồng/lượt “tàu nhanh” và 400.000 đồng/lượt
“qua đêm”, số tiền còn lại nhân viên cầm về đưa cho bị cáo, bị cáo ăn chia với
nhân viên theo mức 50/50 (mỗi bên nhận một nửa tiền), còn tiền ăn ở, chi phí sinh
hoạt của nhân viên bị cáo lo. Khoảng 23 giờ ngày 25/9/2022, chị H gọi điện thoại
cho bị cáo hỏi có nhân viên không thì điều cho 02 nhân viên xuống nhà nghỉ Lan
Anh của chị H tại khu G để bán dâm cho khách. Bị cáo đồng ý và chỉ đạo Lò Thị
V1 và Lò Thị C đến nhà nghỉ Lan Anh bán dâm cho khách. Ngoài ra, trong ngày
25/9/2022, do có khách gọi nên bị cáo còn chỉ đạo N và H1 đến nhà nghỉ Minh
Nghĩa bán dâm cho khách.
Tại phiên tòa, Nguyễn Thị H có lời khai phù hợp với lời khai của Nguyễn
Hoàng T, theo đó, khoảng 23 giờ 15 phút ngày 25/9/2022, bị cáo đang trông tại
quầy của nhà nghỉ Lan Anh tại khu G, thị trấn Q thì có 02 thanh niên đến thuê
phòng nghỉ và có nhu cầu gọi nhân viên bán dâm. Bị cáo báo giá cho 02 người đó
là đi “tàu nhanh” 500.000 đồng/ lượt và 100.000 đồng tiền phòng nghỉ. 02 người
đó đồng ý và đưa cho bị cáo số tiền 1.200.000 đồng. Bị cáo liền gọi điện thoại cho
T bảo cho 02 nhân viên đến nhà nghỉ của bị cáo để bán dâm cho khách, T đồng ý.
Một lúc sau, 02 nhân viên của T đến, bị cáo hướng dẫn cho 02 người này đi lên
4
phòng nghỉ số 2222 và 3333 khách đã chờ sẵn để bán dâm cho khách. Khoảng 23
giờ 45 phút cùng ngày, Công an đến kiểm tra phát hiện tại 02 phòng nghỉ nói trên
các nhân viên đang bán dâm.
Những người làm chứng Phan Văn T1, Cao Hữu V, Lò Thị V1, Lò Thị C,
Đỗ Thị H1 và Lò Thị N vắng mặt tại phiên tòa có lời khai tại Cơ quan điều tra phù
hợp với lời khai của các bị cáo về thời gian, địa điểm các anh T1 và V mua dâm
đối với V1 và C tại nhà nghỉ Lan Anh thuộc khu G, thị trấn Q, còn H1 và N đến
nhà nghỉ Minh Nghĩa bán dâm cho khách, đều trong ngày 25/9/2022 theo sự chỉ
đạo của T.
Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành
khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật chứng, kết quả phù hợp với lời khai của các
bị cáo và người làm chứng về thời gian, địa điểm, diễn biến hành vi phạm tội của
các bị cáo.
Tại cáo trạng số 60/CT-VKSHH ngày 14/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân
huyện H đã truy tố Nguyễn Hoàng T về tội “Môi giới mại dâm” theo điểm d, đ
Điều 328 Bộ luật Hình sự, Nguyễn Thị H tội: "Chứa mại dâm" quy định tại khoản
1 Điều 327 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H vẫn giữ nguyên
quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo
trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- Điểm d, đ khoản 2 Điều 328; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử
phạt: Nguyễn Hoàng T từ 42 đến 48 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/9/2022.
- Khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều
65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Thị H từ 24 đến 30 tháng tù cho hưởng án
treo, thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, giao bị
cáo Nguyễn Thị H cho Ủy ban nhân dân thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh
giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Về vật chứng vụ án: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo thu giữ của bị
cáo H, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo thu giữ của bị cáo T, các bị cáo sử
dụng liên lạc phạm tội, số tiền 1.550.000 đồng các bị cáo hưởng lợi bất chính, cần
tịch thu nộp ngân sách nhà nước; số tiền 1.150.000 đồng là tiền riêng của T, không
liên quan hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo; 48 chiếc bao cao su thu giữ khi
khám xét tại nhà trọ của T, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: lời khai nhận tội của Nguyễn Hoàng
T và Nguyễn Thị H tại phiên tòa cơ bản rõ ràng, phù hợp với lời khai của những
người làm chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ
sở xác định: khoảng 15 giờ và 23 giờ 15 ngày 25/9/2022, tại thôn 3, xã C, huyện
H, Nguyễn Hoàng T có hành vi làm trung gian dẫn dắt để Lò Thị N, Đỗ Thị H1 đi
5
bán dâm tại nhà nghỉ Minh Nghĩa thuộc thôn 3, xã C, huyện H và Lò Thị V1, Lò
Thị C đi bán dâm cho Cao Hữu V và Phan Văn T1 tại nhà nghỉ Lan Anh thuộc khu
G, thị trấn Q, huyện H, trong đó T đã được hưởng lợi số tiền 350.000 đồng.
Nguyễn Thị H có hành sử dụng nhà nghỉ Lan Anh (thuộc quản lý của H) để Lò Thị
V1, Lò Thị C bán dâm cho Cao Hữu V và Phan Văn T1 nhm kiếm lời. Hành vi
của bị cáo Nguyễn Hoàng T đã phạm vào tội “Môi giới mại dâm”, với tình tiết
định khung “phạm tội 02 lần trở lên” và “đối với 02 người trở lên” quy định tại
điểm d, đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật Hình sự. Hành vi của Nguyễn Thị H phạm vào
tội “Chứa mại dâm” quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự. Do đó, cáo
trạng số 60/CT-VKSHH ngày 14/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H
truy tố đối với Nguyễn Hoàng T và Nguyễn Thị H là đúng người, đúng tội, lời luận
tội có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều
tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy
tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng
hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại
về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó,
các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: hành vi phạm tội của các bị
cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự
trên địa bàn. Hành vi chứa mại dâm và môi giới mại dâm có thể dẫn đến các hệ lụy
nguy hiểm cho xã hội như sử dụng trái phép chất ma túy, gia tăng các bệnh lây lan
qua đường tình dục, phá vỡ hạnh phúc gia đình… Các bị cáo trong vụ án này đều ý
thức được việc làm của mình là sai trái nhưng vẫn bất chấp pháp luật, chứa chấp và
dẫn dắt cho người khác bán dâm nhm thu lời bất chính. Do đó, cần thiết phải đưa
ra xét xử nghiêm minh, lấy đó làm bài học cho các bị cáo.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên
tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của
mình, do đó các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy
định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo H đã ly hôn, hiện tại một
mình nuôi 02 con nhỏ, hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của chính quyền địa
phương nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ
luật Hình sự.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
[6] Về hình phạt đối với bị cáo: các bị cáo chứa chấp và môi giới mại dâm, do
đó phải chịu mức hình phạt tương ứng với quy định của pháp luật, cần thiết cách ly
bị cáo T khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo thành công dân có ích. Đối
với bị cáo H mặc dù có nhân thân xấu, năm 2014 bị xét xử về tội “Gây rối trật tự
công cộng” đã được xóa án tích, tuy nhiên hiện tại bị cáo đã ly hôn, đang một mình
nuôi 02 con nhỏ, trong đó 01 cháu là nạn nhân của tội phạm “Dâm ô với trẻ em”,
sau khi sự việc xẩy ra, cháu có biểu hiện tâm lý hoang mang, không n định, Hội
6
phụ nữ thị trấn Q, huyện H đã có đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo
hưởng án treo để có điều kiện chăm sóc con nhỏ. Hội đồng xét xử thấy, bị cáo H có
từ khi chấp hành xong hình phạt năm 2014 trở về địa phương chấp hành tốt chính
sách pháp luật của nhà nước, không có hành vi vi phạm nào khác, có nơi cư trú rõ
ràng, trong vụ án này số tiền thu lợi bất chính không lớn, không cần thiết cách ly
mà để bị cáo H được cải tạo tại địa phương cũng đủ sức răn đe, phòng ngừa tội
phạm, đồng thời thể hiện sự nhân đạo của pháp luật, giúp bị cáo yên tâm cải tạo,
đồng thời có thời gian chăm lo cho các con. Đối với Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú
và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh đang áp dụng đối với bị cáo H cần được hủy bỏ.
[7] Về vật chứng vụ án: quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an
huyện H đã thu giữ:
- 01 đầu thu camera màu trắng thu tại quầy lễ tân nhà nghỉ Lan Anh, Cơ quan
điều tra đã trả lại cho bị cáo H; 02 chiếc bao cao su cũ, đã qua sử dụng và 02 vỏ
bao cao su đã xé một góc, Cơ quan điều tra đã xử lý tiêu hủy; Hội đồng xét xử
không đề cập.
- 01 chiếc điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu OPPO màu xanh dương thu
giữ của Nguyễn Thị H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh đen thu
giữ của Nguyễn Hoàng T là công cụ phương tiện phạm tội nên tịch thu sung ngân
sách nhà nước.
- Số tiền 1.200.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thị H và 350.000 đồng thu giữ
của Nguyễn Hoàng T là tiền do phạm tội mà có, cần tịch thu sung ngân sách nhà
nước. Số tiền 1.150.000 thu giữ của T không liên quan đến hành vi phạm tội nên
trả lại cho bị cáo.
- 48 chiếc bao cao su màu trắng xanh thu giữ của T, một mặt có in chữ “HA
ULTRA THIN”, bao cao su chưa qua sử dụng, T khai đã mua từ lâu, hết hạn sử
dụng và 04 sim điện thoại không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[8] Về hình phạt b sung: không áp dụng hình phạt b sung là phạt tiền với
các bị cáo vì không có việc làm và thu nhập n định.
[9] Trong vụ án có Cao Hữu V và Phan Văn T1, Lò Thị C, Lò Thị V1, Lò
Thị N, Đỗ Thị H1 có hành vi mua, bán dâm, Công an huyện H đã xử phạt vi phạm
hành chính. Đối với chủ nhà nghỉ Minh Nghĩa (do anh Đỗ Quang Đ, sinh năm
1992, trú tại thôn 3, xã C, huyện H) làm chủ không biết gì về việc mua bán dâm,
không tham gia thu tiền, gọi nhân viên nên không đề cập xử lý.
[10] Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
[11] Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Nguyễn Hoàng T phạm tội “Môi giới mại dâm”, Nguyễn Thị H
phạm tội “Chứa mại dâm”.
7
Áp dụng: điểm d, đ khoản 2 Điều 328; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình
sự.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Hoàng T 45 (bốn mươi lăm) tháng tù, thời hạn tù
tính từ ngày 26/9/2022.
Áp dụng: khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1,
khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị H 24 (hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án
treo, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm
(30/11/2022).
Giao bị cáo Nguyễn Thị H cho Ủy ban nhân dân thị trấn Q, huyện H, tỉnh
Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Nguyễn
Thị H có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát,
giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo
thay đi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa
vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể
buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Hủy Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 62/LC-CQCSĐT và Quyết định tạm hoãn
xuất cảnh số 63/QĐ-CQCSĐT ngày 05/10/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra
Công an huyện H, tỉnh Quảng Ninh đối với bị cáo Nguyễn Thị H.
Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;
điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động cảm ứng
nhãn hiệu OPPO màu xanh dương; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu
xanh đen; số tiền 1.200.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thị H và 350.000 đồng thu
giữ của Nguyễn Hoàng T.
+ Tịch thu tiêu hủy 48 chiếc bao cao su màu trắng xanh, một mặt có in chữ
“HA ULTRA THIN” và 04 sim điện thoại lắp trong 02 điện thoại di động nhãn
hiệu OPPO.
+ Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hoàng T số tiền 1.150.000 đồng.
(Tất c các vật chứng tình trạng như Biên bn giao vật chứng s
07/CCTHADS ngày 21/11/2022 gia Cơ quan Cnh sát điều tra Công an huyện H
và Chi cục Thi hành án dân s huyện H).
Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1
Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về chế độ thu,
miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Toà án: mỗi bị cáo phải nộp 200.000
(hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.
Về quyền kháng cáo: áp dụng khoản 1 Điều 331, khoản 1, khoản 3 Điều 333
Bộ luật Tố tụng hình sự: các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án.
8
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Quảng Ninh;
- VKSND tỉnh Quảng Ninh;
- Cơ quan CSĐT Công an huyện Hải Hà;
- Cơ quan THAHS Công an huyện Hải Hà;
- Nhà tạm giữ Công an huyện Hải Hà;
- Cơ quan hồ sơ nghiệp vụ cảnh sát Công an
huyện Hải Hà;
- Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hà;
- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
- Ủy ban nhân dân thị trấn Quảng Hà;
- Bị cáo;
- Những người tham gia tố tụng khác;
- Lưu: VP, hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vương Thị Thanh
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 11/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 08/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 03/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Bản án số 33/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Bản án số 34/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 26/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm