Bản án số 61/2018/HNGĐ ngày 24/07/2018 của TAND TX. Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 61/2018/HNGĐ
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 61/2018/HNGĐ
| Tên Bản án: | Bản án số 61/2018/HNGĐ ngày 24/07/2018 của TAND TX. Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TX. Phú Mỹ (TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) |
| Số hiệu: | 61/2018/HNGĐ |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 24/07/2018 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | ly hôn |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN TÂN THÀNH Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH BÀ RỊA –VŨNG TÀU
Bản án số: 61/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 24 -7-2018
V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THÀNH, TỈNH BÀ RỊA –VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phan Thị Hải
2. Ông Đinh Công Trường
- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thu Hiền – Thư ký Tòa án
Ngày 24 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Thành,
tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử công khai vụ án thụ lý số: 198/2018/TLST-
HNGĐ ngày 15/5/2018 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số: 56/2018/QĐXX-ST ngày 28/6/2018 và quyết định hoãn
phiên tòa số 46/2017/QĐST – HNGĐ ngày 11/7/2018 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phùng Thị Thúy O, sinh năm: 1974.
Địa chỉ: Tổ 13, khu phố P, phường M, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa –
Vũng Tàu (Có mặt).
Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1974.
Địa chỉ: Tổ 13, khu phố P, phường M, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa –
Vũng Tàu (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án nguyên đơn
bà Phùng Thị Thúy O trình bày: Bà và ông Nguyễn Ngọc T qua một thời gian
tìm hiểu thì đi đến hôn nhân, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới và đăng
ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai vào
ngày 15/7/2002.
Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh
nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã,
ông T không tin tưởng bà, nhiều lần đánh bà gây thương tích dẫn đến vợ chồng
mất hạnh phúc khi chung sống. Bà đã nhiều lần khuyên bảo, ông T cũng hứa
hẹn là không đánh vợ nữa nhưng không có kết quả. Hiện nay bà và ông T đang
chung sống không ai quan tâm đến nhau.
2
Nay bà nhận thấy không còn tình cảm với ông T nên yêu cầu Tòa án giải
quyết cho bà được ly hôn.
Về con chung: Bà và ông T có 02 con chung là Nguyễn Ngọc L, sinh
ngày 01/5/1996 và Nguyễn Ngọc Gia L, sinh ngày 27/9/2012. Cháu L đã
trưởng thành, bà có nguyện vọng trực tiếp nuôi cháu L đến tuổi trưởng thành
(đủ 18 tuổi), không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà O không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án bị đơn ông Nguyễn Ngọc T
trình bày:
Ông T thống nhất với thời gian kết hôn và điều kiện kết hôn như bà O đã
trình bày.
Ông xác nhận vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đôi khi cũng xãy
ra mâu thuẫn do bà O có nhiều mối quan hệ bạn bè bên ngoài nên ông ghen
tuông, không tin tưởng bà O, có vài lần ông gây gỗ với bà O. Tuy nhiên ông
biết hành vi của mình là sai nên đã xin lỗi. Nay bà O yêu cầu ly hôn thì ông
không đồng ý vì ông còn yêu thương bà O, không muốn gia đình đỗ vỡ ảnh
hưởng đến cuộc sống của con cái. Ông mong được đoàn tụ gia đình với bà O.
Về con chung: Ông và bà O có 02 con chung như bà O đã trình bày.
Trường hợp ly hôn ông đồng ý giao cháu L cho bà O trực tiếp nuôi dưỡng đến
tuổi trưởng thành (đủa 18 tuổi), ông tự cấp dưỡng nuôi con theo khả năng tài
chính của mình.
Về tài sản chung: Ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]Về tố tụng: Bà Phùng Thị Thúy O khởi kiện yêu cầu được ly hôn với
ông Nguyễn Ngọc T, được nuôi dưỡng các con chung nên đây là vụ án “Tranh
chấp về ly hôn, con chung”.
Bị đơn ông Nguyễn Ngọc T có địa chỉ tại huyện Tân Thành (nay là thị
xã Phú Mỹ), tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nên theo quy định tại Điều 28, 35, 39 Bộ
luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
nhân dân huyện Tân Thành.
Ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để tham dự phiên
tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt ông T theo quy
định của pháp luật.
[2] Về nội dung: Bà Phùng Thị Thúy O và ông Nguyễn Ngọc T đều xác
định ông bà tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn vào ngày 15/7/2002 tại
xã P, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai nên quan hệ hôn nhân giữa các bên là
hợp pháp.
Ông bà chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn do
bất đồng quan điểm sống, ông T ghen tuông vô cớ, không tin tưởng bà O,
3
thường xuyên gây gỗ đánh đập bà O làm cho bà O mất niềm tin đối với ông T.
Tại phiên tòa bà O vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông T.
Ông T xác nhận vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng cũng có mâu
thuẫn do bà O có nhiều mối quan hệ bạn bè bên ngoài mà không cho ông biết.
Đôi khi ông có kiếm chuyện gây gỗ với bà O nhưng ông biết sai và đã xin lỗi
bà O. Nay bà O yêu cầu ly hôn thì ông không đồng ý ly hôn vì cho rằng còn
tình cảm và việc ly hôn sẽ ảnh hưởng đến tâm lý cũng như sự phát triển bình
thường của các con chung.
Xét ý kiến của bị đơn thấy: ông T không đồng ý ly hôn, trong quá trình
giải quyết vụ án Tòa án đã mở phiên hòa giải hướng các đương sự hòa giải
đoàn tụ với nhau nhưng ông T cố tình vắng mặt, không có động thái nào hàn
gắn tình cảm với bà O. Tại phiên tòa bà O vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly
hôn. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng bà O, ông T đã
trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt
được. Áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu
cầu khởi kiện về việc ly hôn của bà O đối với ông T.
Về con chung: Bà O và ông T có là 02 con chung là Nguyễn Ngọc L,
sinh ngày 01/5/1996 và Nguyễn Ngọc Gia L, sinh ngày 27/9/2012. Cháu L đã
trưởng thành. Bà O có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu L đến tuổi
trưởng thành (18 tuổi), trường hợp ly hôn ông T cũng có nguyện vọng giao
cháu L cho bà O nuôi dưỡng. bà O không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Xét đây là sự thỏa thuận của các đương sự nên công nhận.
Về tài sản chung: Bà O không yêu cầu Tòa án giải quyết vì vậy Tòa án
không xem xét.
Về nợ chung: Không có.
[3] Về án phí: Bà Phùng Thị Thúy O tự nguyện nộp án phí hôn nhân gia
đình là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, 58 Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/10/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc: “Tranh chấp ly hôn,
nuôi con” của bà Phùng Thị Thúy O đối với ông Nguyễn Ngọc T.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phùng Thị Thúy O được ly hôn với ông
Nguyễn Ngọc T.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Gia L, sinh ngày 27/9/2012 cho
bà Phùng Thị Thúy O trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Ông Nguyễn Ngọc T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Các bên được quyền đến trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con
chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích mọi mặt của các con, khi cần
thiết có thể thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con, người trực tiếp nuôi con hoặc có
sự thay đổi khác.
4
Tài sản chung, nợ chung: Không xem xét
2. Về án phí: Bà Phùng Thị Thúy O nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng)
án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ
(Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002617 ngày
15/5/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa –
Vũng Tàu. Bà Phùng Thị Thúy O đã nộp đủ án phí.
3. Trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có
quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu xét xử
phúc thẩm. (Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong
hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công
khai).
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận: THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện Tân Thành;
- Chi cục THADS thị xã Phú Mỹ;
- UBND xã P;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Hồng Thái
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 11/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Bản án số 34/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Bản án số 33/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 24/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 21/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 19/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm