Bản án số 602/2023/HS-PT ngày 15-09-2023 của TAND cấp cao về tội gá bạc

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 602/2023/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 602/2023/HS-PT ngày 15-09-2023 của TAND cấp cao về tội gá bạc
Tội danh: 322.Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND cấp cao
Số hiệu: 602/2023/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/09/2023
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Vũ Tuấn A tội gá bạc
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI
Bản án số: 602/2023/HS-PT
Ngày 15 - 9 - 2023
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Thái Duy Nhiệm;
Các Thẩm phán:
Ông Phạm Đình Khánh;
Lê Thị Mai.
- Thư phiên tòa: Ông Phan Nhật Phong - ThưTòa án nhân dân cấp cao
tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa:
Đoàn Thị Bình - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 15/9/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên toà
công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ số: 644/2023/TLPT-HS ngày
21/6/2023 do có kháng cáo của bị cáo Vũ Tuấn A, đối với Bản án hình ssơ thẩm
số: 45/2023/HS-ST ngày 28/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
* Bị cáo có kháng cáo:
Vũ Tuấn A, tên gọi khác: Không; sinh năm 1978 tại Phú Thọ;
Hộ khẩu thường trú: Khu F, B, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; nơi hiện nay:
Tổ dân phố A, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự
do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc
tịch: Việt Nam; con ông Đình T, con Thị T1 (đều đã chết); vợ: Hoàng
Biên T2, có 01 con sinh năm 2016; tiền sự: Không; tiền án: Tại Bản án số
20/2010/HSST ngày 29/6/2010 của TAND huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái đã xử
phạt Tuấn A 02 năm 06 tháng phạt tiền 5.000.0000đ về tội Mua bán trái
phép chất ma túy”. Ngày 10/5/2012 bị cáo Tuấn A đã chấp hành xong hình
phạt tù, nhưng ngày 30/01/2023 bị cáo mới chấp hành xong hình phạt bổ sung
phạt tiền và án phí.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/12/2022 đến ngày 04/12/2022 được thay đổi
biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay, có mặt.
* Ngoài ra trong vụ án còn có: Các bị cáo Nguyễn Đức T3, Đỗ Chí H,
A1 Nguyễn Hùng S không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên
Tòa án không triệu tập.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Tuấn A thuê ngôi nhà số H đường P, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh
Phúc của anh Mạnh T4, sinh năm 1976 phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh
Phúc mquán bia hơi để kinh doanh, đặt tên quán Thùy A2. Khoảng 20 giờ 00
phút ngày 02/12/2022, A1, Nguyễn Hùng S, Đỗ Chí H, Nguyễn Đức T3
đều bạn của Tuấn A đến ngồi chơi uống nước. Trong khi uống nước, A1, S,
H, T3 rủ nhau đánh bạc bằng hình thức đánh chắn” thì tất cả đều đồng ý. Lúc này
Tuấn A cũng đang ngồi uống nước cùng cả nhóm nên A1, S, H, T3 xin phép
Tuấn A cho đánh bạc tại quán bia do Tuấn A quản thỏa thuận quá trình
đánh bạc nếu ai thắng “Ù 8 đỏ 2 lèo” sẽ để ra chiếu 100.000 đồng cho Tuấn A thì
Tuấn A đồng ý. Sau đó, Tuấn A đóng khóa toàn bộ cửa ra vào quán, lấy đĩa, bài
chắn sẵn tại quán bia, đồng thời lấy thảm nỉ trải xuống nền nhà để cho các đối
tượng đánh bạc. Sau khi Tuấn A chuẩn bị xong, A1, S, H, T3 cùng nhau đánh
bạc dưới hình thức đánh chắn ăn tiền. Các đối tượng đánh bạc thỏa thuận về cách
thức chơi như sau: Người chơi sử dụng 01 bộ bài chắn gồm 100 quân bài được
chia làm 03 chất gồm: Sách, V, V1 mỗi bộ gồm 08 hàng bài gồm: Nhị, T5, T6, N,
L, T7, B, C và quân bài Chi Chi; khi bắt đầu chơi bài sẽ được chia đều thành 5
phần bài, mỗi phần 19 quân sẽ còn thừa lại 05 quân dùng để bắt cái; chia bài xong
người chia bài sẽ gộp 05 quân bài thừa vào 01 phần bài bất để làm nọc; sau đó
tiến hành rút 01 quân tnọc rồi lật ngửa cho vào 01 phần bài bất trong 04 phần
bài còn lại rồi dùng quân bài để tính người được làm cái (được đánh đầu tiên);
người được làm cái sẽ lấy phần bài vừa bốc cái rồi những người còn lại slấy các
phần bài còn lại lần lượt theo thứ tự, kể từ ván bài thứ hai thì hai người thua ngồi
bên cạnh sẽ chia bài; sau khi lên bài người chơi sẽ phải sắp xếp bài thành các tổ
hợp Chắn (là 02 quân bài giống hệt nhau cả về hàng, chất), C1 (là 02 quân bài
giống nhau về hàng nhưng khác về chất), Ba đầu (là 03 quân bài cùng hàng nhưng
khác chất), Q (quân bài thừa ra của chắn, cạ); khi đánh mỗi người chơi sẽ chỉ cầm
trên tay 19 quân bài, riêng người làm cái sẽ có 20 quân bài và sẽ đánh quân bài đầu
tiên, người tiếp theo thể ăn bài hoặc bốc nọc nhưng mọi lúc trên tay đều phải
giữ 19 quân bài; ván bạc sẽ kết thúc khi có người ù, người bài ù khi 19 quân
bài của người chơi kết hợp với 01 quân bài bốc nọc hoặc ăn hợp thành 10 tổ hợp
cạ, chắn trong đó phải có từ 6 chắn trở lên; trường hợp không có người ù thì tính
hòa sđánh ván mới; mỗi người chơi sẽ phải trả cho người ù 200.000 đồng,
tuy nhiên nếu người ù có các đặc điểm bài đặc biệt thì sẽ được ăn thêm tiền cụ thể
“Ù xuông” là dạng ù cơ bản trong bài không có cạ hay chắn gì đặc biệt; “Ù tôm” là
dạng ù trên bài bộ ba tam vạn, tam sách, thất văn; “Ù lèo” trên bài bộ ba
cửu vạn, bát sách, chi chi; “ù tám đhai lèo” bài lèo trên bài tám quân
đỏ, …; mức cược “Ù xuông” 200.000 đồng, “Ù tôm” 400.000 đồng, “Ù
lèo” 500.000 đồng, “Ù 8 đỏ 2 lèo” 1.500.000 đồng. Khi các đối tượng đánh
3
bạc, Tuấn A ngồi ới thảm nỉ quan sát qua camera an ninh được kết nối với điện
thoại di động để cảnh giới cho các đối tượng đánh bạc. A1, S, H, T3 đánh bạc
liên tục đến khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an tỉnh V phát
hiện, bắt quả tang; thu giữ trên chiếu bạc số tiền 72.800.000 đồng, 100 quân bài
chắn, 01 đĩa nhựa, 01 thảm nỉ, 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung
Galaxy wide 2 của Vũ Tuấn A sử dụng để xem camera.
Với nội dung trên, tại Bản án hình sự thẩm số: 45/2023/HS-ST ngày
28/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định: Tuyên bố bị cáo
Tuấn A phạm tội “Gá bạc”.
Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1
Điều 52 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Tuấn A 02 (Hai) năm tù, thời hạn
chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt đi thi hành án (được trừ thời gian tạm giữ
từ ngày 02/12/2022 đến ngày 04/12/2022) và phạt tiền 10.000.000 đồng sung ngân
sách Nhà nước.
Ngoài ra bản án thẩm n quyết định xử phạt các bị cáo khác về tội
“Đánh bạc” với mức hình phạt 03 năm tù cho hưởng án treo; bản án còn buộc
nghĩa vụ nộp án phí, xử lý vật chứng và tuyên quyền kháng cáo theo quy định.
Sau khi xét xthẩm, ngày 09/5/2023 bị cáo Tuấn A có đơn kháng cáo
xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị o
giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Bị cáo trình bày: Thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản án thẩm
quy kết. Tuy nhiên, với mức hình phạt như bản án thẩm đối với bị cáo quá
nghiêm khắc. Bởi vì, bị cáo người khuyết tật được hưởng trợ cấp vợ phải
chăm sóc, hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ đang mang thai; quá trình điều tra
tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nơi trú ràng, nên
đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được cải tạo
tại địa phương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Nội phát biểu quan điểm:
Sau khi phân tích đánh giá chứng cứ cho rằng: Tòa án cấp thẩm xét xử quy kết
về hành vi phạm tội của bị cáo như bản án thẩm căn cứ, đúng pháp luật.
Khi xét xử cấp thẩm đã đánh giá đúng tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo
nhưng xử phạt bị cáo mức án như bản án thẩm phần nghiêm khắc. Tại
phiên tòa phúc thẩm bị cáo xuất trình biên lai thể hiện đã nộp 200.000 đồng án phí
thẩm, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm nh
phạt cho bị cáo. vậy, đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ
luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án thẩm giảm
cho bị cáo mức án từ 03 tháng đến 06 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
4
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Tuấn A thừa nhận nh vi phạm tội
của mình như bản án thẩm đã quy kết. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc
thẩm phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, tại phiên tòa thẩm; phù hợp
với lời khai của các bị cáo khác trong vụ án, phù hợp với các chứng cứ khác được
thu thập trong quá trình điều tra. Đặc biệt là biên bản bắt người phạm tội quả tang.
vậy, Hội đồng xét xử đủ sở để kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 02/12/2022,
tại quán B1 số H, đường P, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc do Vũ Tuấn
A làm chủ; Tuấn A đã đồng ý cho A1, Nguyễn Hùng S, Đỗ Chí H và
Nguyễn Đức T3 đánh bạc được thu bằng tiền với mục đích để thu tiền hồ; trong
quá trình các đối tượng đang đánh bạc thì bị cáo Tuấn A ngồi theo dỏi camera
an ninh để cảnh giới, đề phòng các quan chức năng phát hiện; khoảng 23 giờ
cùng ngày, khi các đối tượng đang đánh bạc thì bị phát hiện bắt giữ, thu giữ tại
chiếu bạc số tiền 72.800.000 đồng và dụng cụ dùng để đánh bạc. Hành vi đó của bị
cáo đã phạm o tội “Gá bạc”; tội phạm được quy định tại Điều 322 Bộ luật Hình
sự. Bản án thẩm quy kết đối với bị cáo với tội danh nêu trên căn cứ, đúng
pháp luật, bị cáo không bị oan.
[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho hội, bị cáo sử dụng
địa điểm, chuẩn bị công cụ phương tiện dùng để đánh bạc để cho các đối tượng
khác đánh bạc nhằm mục đích thu tiền hồ. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự
coi thường pháp luật, xâm phạm đến hoạt động đúng đắn, bình thường của xã hội;
gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần xử nghiêm, tương xứng với hành vi
phạm tội của mình; Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo theo khoản 1 Điều 322 Bộ
luật Hình sự là có căn cứ.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Tuấn A, thấy: Khi xét xử Tòa án cấp
thẩm đã đánh giá đúng tính chất hành vi phạm tội, đã phân hóa đúng vai trò của bị
cáo; đã xem xét đến tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là bị cáo khai báo thành
khẩn, ăn năn hối cải; người khuyết tật. Nhưng bản thân bcáo người nhân
thân xấu, đã từng bị đưa ra xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” bằng
hình phạt nghiêm khắc, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học đ tu chí, làm
ăn; mặc dù bị cáo đã chấp hành xong hình phạt vào 10/5/2012, nhưng bị cáo
không chấp hành hình phạt bổ sung hình phạt tiền và án phí, nên chưa được xóa
án tích, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm. Do đó, bị cáo không đủ điều
kiện để được cải tạo tại địa phương, cũng như với tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự thì Tòa án cấp thẩm xử phạt bị cáo 02 năm là có căn cứ,
phù hợp với pháp luật; tại cấp phúc thẩm bị o xuất trình biên lai thể hiện đã nộp
200.000 đồng án phí sơ thẩm, tuy là tình tiết mới nhưng không đáng kể làm căn cứ
giảm nhẹ hình phạt, nên không căn cứ chấp nhận kháng o của bị cáo, nhưng
cần ghi nhận cho bị cáo đã nộp án phí sơ thẩm.
[4] Về án phí: Bị cáo không được chấp nhận kháng cáo phải chịu án phí hình
sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
5
[5] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, không bị
kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; không
chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tuấn A; giữ nguyên Bản án hình sự thẩm
số: 45/2023/HS-ST ngày 28/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc:
Tuyên bố bị cáo Vũ Tuấn A phạm tội “Gá bạc”;
Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1
Điều 52 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Vũ Tuấn A 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp
hành hình phạt tính tngày bắt đi thi hành án (được trừ thời gian tạm giữ từ
ngày 02/12/2022 đến ngày 04/12/2022) phạt tiền 10.000.000 đồng sung công
quỹ Nhà nước.
Về án phí: Bị cáo Vũ Tuấn A phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc
thẩm. Ghi nhận bị cáo Tuấn A đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
theo biên lai thu tiền số 0000004, ngày 10/7/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh
Vĩnh Phúc.
Các quyết định khác của Bản án thẩm số: 45/2023/HS-ST ngày 28/4/2023
của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc không kháng cáo, kháng nghị đã hiệu
lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSNDCC tại Hà Nội;
- Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
- TAND tỉnh Vĩnh Phúc (02 bản);
- Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ;
- Cục THADS tỉnh Vĩnh Phúc;
- Cơ quan THA HS Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
- Bị cáo (theo địa chỉ);
- Lưu: HSVA, HCTP.
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Thái Duy Nhiệm
Tải về
Bản án 602/2023/HS-PT Bản án 602/2023/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án 602/2023/HS-PT Bản án 602/2023/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất