Bản án số 60/2026/HS-ST ngày 09/09/2026 của TAND tỉnh Sơn La

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 60/2026/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 60/2026/HS-ST ngày 09/09/2026 của TAND tỉnh Sơn La
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Sơn La
Số hiệu: 60/2026/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/09/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Tòng Văn Q, Giàng A S tội mua bán trái phép chất ma túy
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 60/2026/HS-ST Bản án số 60/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 60/2026/HS-ST Bản án số 60/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH SƠN LA
Bản án số: 60/2026/HS-ST
Ngày 09 - 9 - 2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Tuấn Long.
Thẩm phán: Bà Tòng Thị Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Quản Thị Dung;
2. Ông Nguyễn Hồng Sơn;
3. Bà Trần Thị Nga.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Nhật Mai - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn
La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Lò
Thị Hồng Thắm - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La, xét xử
công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 63/2026/TLST-HS ngày 13 tháng 8
năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2026/QĐXXST-HS ngày
25 tháng 8 năm 2026 đối với các bị cáo:
1. Tòng Văn Q, tên gọi khác không, sinh ngày 20 tháng 11 năm 1987, sinh
tại xã M, tỉnh Điện Biên; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Bản T, xã M, tỉnh Điện
Biên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Thái; Giới
tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ đảng phái, đoàn thể:
Không; Căn cước công dân số ************, cấp ngày 24/4/2021, nơi cấp: Cục
C2 về TTXH - Bộ C3; Con ông Tòng Văn Đ, sinh năm 1967; Con bà Đèo Thị H,
sinh năm 1967; Bị cáo có vợ là Đèo Thị C, sinh năm 1991; Bị cáo có 02 con (con
lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2016); Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 137/2007/HSST của Tòa án nhân
dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt Tòng Văn Q 12 tháng tù về tội: Tội
trộm cắp tài sản. (Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/3/2008; đã thi
2
hành án phí hình sự sơ thẩm, án phí hình sự phúc thẩm, án phí dân sự sơ thẩm và
khoản bồi thường cho bị hại).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 11/8/2025 cho đến nay “có mặt”.
Người bào chữa cho bị cáo Tòng Văn Q: Ông Cầm Văn T - Luật sư thuộc
Văn phòng L1, Đoàn Luật sư tỉnh S “có mặt”.
2. Giàng A S, tên gọi khác không, sinh ngày 06 tháng 9 năm 1992, sinh tại
xã S, tỉnh Điện Biên; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Bản H, xã N, tỉnh Điện
Biên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 04/12; Dân tộc: Mông;
Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ đảng phái, đoàn
thể: Không; Căn cước công dân số ************, cấp ngày 16/8/2022, nơi cấp:
Cục C2 về TTXH - Bộ C3; Con ông Giàng Nhìa S1, con bà Sùng Thị L (đều đã
chết); Bị cáo có vợ là Và Thị Cá B, sinh năm 1998; Bị cáo có 04 con (Con lớn
nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2022); Tiền án, tiền sự: Không. Bị
cáo bị giữ, bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam kể từ
ngày 06/4/2026 cho đến nay “có mặt”.
Người bào chữa cho bị cáo Giàng A S: Ông Đàm Mạnh H1 - Luật sư thực
hiện Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sơn La “có mặt”.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Tòng Văn Đ, sinh năm 1967; địa chỉ: Bản T, xã M, tỉnh Điện Biên “có
đơn xin xét xử vắng mặt”.
- Chị Và Thị Cá B, sinh năm 1998; địa chỉ: Bản H, xã N, tỉnh Điện Biên “có
mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 14 giờ 00 phút ngày 11/8/2025, Tổ công tác Đoàn Đặc nhiệm phòng,
chống ma túy và tội phạm miền B - Bộ đội Biên phòng phối hợp với lực lượng
chức năng làm nhiệm vụ tại bản Tỉa, xã P, tỉnh Sơn La. Phát hiện, bắt quả tang
Tòng Văn Q đang có hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ gồm: 10 bánh hình chữ nhật, bên trong chứa chất bột nén
màu trắng (nghi là Heroine); 01 ba lô vải màu đen, trắng, xanh; 01 điện thoại di
động nhãn hiệu SAMSUNG màu đen; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển kiểm
soát 27A-134.42.
Ngày 12/8/2025, Đ1 Đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm miền B
thành lập Hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu gửi giám
3
định. Kết quả: Chất bột nén màu trắng trong 10 bánh hình chữ nhật có tổng khối
lượng 2.964,53 gam; trích 15,54 gam làm mẫu trưng cầu giám định, ký hiệu từ
Q1 đến Q10.
Tại Bản kết luận giám định số: 963/KL-KTHS ngày 13/8/2025 của Phòng K
Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu ký hiệu từ Q1 đến Q10 gửi giám định là ma túy;
loại Heroine (H, có tên khoa học là D). Khối lượng của mẫu gửi giám định là Q1
= 1,55 gam; Q2 = 2,47 gam; Q3 = 1,85 gam; Q4 = 1,54 gam; Q5 = 0,96 gam;
Q6 = 1,11 gam; Q7 = 1,69 gam; Q8 = 1,44 gam; Q9 = 1,30 gam; Q10 = 1,63
gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 2.964,53 gam, loại Heroine”. Sau khi
trích mẫu giám định còn lại 2.948,99 gam Heroine.
Căn cứ vào lời khai của Tòng Văn Q, ngày 06/4/2026 Cơ quan Cảnh sát điều
tra (PC04) Công an tỉnh S ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối
với Giàng A S tại bản Huổi Hua, xã N, tỉnh Điện Biên; Thu giữ 01 điện thoại di
động nhãn hiệu REDMI, vỏ màu xám, lắp 02 thuê bao 0396002231 và
0332330462.
Quá trình điều tra, bị cáo Tòng Văn Q khai nhận: Khoảng tháng 5/2025, khi
Q đang ở nhà thì có người phụ nữ tự giới thiệu tên H2, trú tại bản Lụm, xã C,
thành phố S gọi điện qua ứng dụng WhatsApp, đặt vấn đề nhờ Q tìm mua Heroine
với giá 150.000.000 đồng/01 bánh; Quí nhất trí. Ngày 08/8/2025, H2 gọi điện đặt
mua 10 bánh Heroine. Do quen Giàng A S và biết S sinh sống ở khu vực giáp biên
giới với Lào, Q gọi điện cho S nhờ tìm mua 10 bánh Heroine; S đồng ý. Sau đó S
báo lại cho Quí giá mua 90.000.000 đồng/01 bánh. Quí báo cho H2 đã tìm được
nguồn ma túy; H2 yêu cầu được trao đổi trực tiếp với người bán nhưng không gặp
mặt. Ngày 10/8/2025, Q hẹn gặp S tại xã N, tỉnh Điện Biên để xác thực thông tin
người mua và bàn việc dẫn đường. Tại đây, Q gọi điện qua ứng dụng WhatsApp
cho H2 rồi đưa điện thoại cho S nói chuyện; H2 khẳng định có nhu cầu mua 10
bánh Heroine. Tối cùng ngày H2 hẹn sáng 11/8/2025 Q mang 10 bánh Heroine
đến khu vực gần Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Sơn La, H2 sẽ đi xe ô tô màu đỏ đến
kiểm tra và giao tiền. Sáng 11/8/2025, Q điều khiển xe mô tô đến gặp S tại bản
Pú Hồng, sau đó cùng S đi đến khu vực bản S, xã P. Sá đi lấy 01 bao tải màu xanh,
bên trong có 01 ba lô chứa 10 bánh Heroine giao cho Q. Quí nhận ma túy, điều
khiển xe đi xuống trung tâm xã P để giao cho H2. Khoảng 14 giờ cùng ngày, tại
khu vực bản T, xã P, Q gặp chiếc xe ô tô màu đỏ, Q mang ba lô chứa 10 bánh
Heroine vào xe đưa cho H2 kiểm tra thì bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt quả
tang; H2 và người nam giới điều khiển xe ô tô bỏ chạy.
Quá trình điều tra, bị cáo Giàng A S khai nhận: Khoảng tháng 12/2024, S
đến bản N, xã S, tỉnh Điện Biên chơi tết truyền thống của dân tộc Mông, quen một
người đàn ông tự giới thiệu tên N, trú tại nước C Lào. N nói nếu S có nhu cầu mua
4
ma túy thì liên hệ qua mạng xã hội Facebook. Ngày 08/8/2025, sau khi Q gọi điện
nhờ tìm mua 10 bánh Heroine, S gọi điện qua M cho N hỏi mua. Nhìa đồng ý, báo
giá 90.000.000 đồng/01 bánh và hứa sau khi mua bán xong sẽ trả công cho S
10.000.000 đồng; đồng thời cung cấp cho S một số điện thoại đầu số quốc tế 0085
để liên lạc. Sá thông báo lại giá mua cho Q. Ngày 10/8/2025, S gặp Q tại xã N để
xác thực người mua; Sá trực tiếp nói chuyện với H2 qua điện thoại của Q và được
H2 xác nhận nhu cầu mua 10 bánh Heroine. Sau đó S liên lạc với N thống nhất
việc sáng 11/8/2025 giao ma túy cho Q lấy đi bán trước, khi nhận được tiền sẽ
quay lại thanh toán. Nhìa chỉ dẫn S đến khu vực ngã ba dốc bản S, xã P nhận ma
túy và dặn khi nhận tiền phải chia thành 02 phần 100.000.000 đồng và
800.000.000 đồng; người của N sẽ đến nhận tiền và trả công cho S 10.000.000
đồng. Sáng 11/8/2025, S cùng Q đi đến khu vực bản S. Sá đi trước, gặp Vàng A
P là người quen từ trước; theo lời khai của S, P chỉ vị trí gốc cây cách khoảng 03
mét nơi cất giấu ma túy. Sá lấy 01 bao tải màu xanh, bên trong có 01 ba lô chứa
10 bánh Heroine mang giao cho Q; dặn Q sau khi bán được ma túy phải quay lại
trả tiền theo cách N đã hướng dẫn. Sá sau đó di chuyển xuống hướng xã P, cách
vị trí cũ khoảng 02 km để chờ Q mang tiền về. Sau khi Q bị bắt, S nhận được điện
thoại của N thông báo Quí và số ma túy đã bị lực lượng chức năng bắt quả tang
nên Sá quay về nơi cư trú; đến ngày 06/4/2026 thì bị giữ, bắt trong trường hợp
khẩn cấp.
Tại bản Cáo trạng số: 102/CT-VKS-P1 ngày 10/8/2026, của Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Tòng Văn Q và bị cáo Giàng A S về tội:
Tội mua bán trái phép chất ma túy, theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình
sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.
* Tại phiên tòa, các bị cáo Tòng Văn Q, Giàng A S khai nhận toàn bộ hành
vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã
truy tố và không khai báo gì thêm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Tòng Văn Đ thông
qua đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho ông
xe máy nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 27A-134.42 bị thu giữ là tài sản của
ông, không liên quan đến vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Và Thị Cá B, xe mô
tô Honda Wave alpha màu đen, biển kiểm soát 27B1-639.46, xe đăng ký tên chị,
chị là chủ sở hữu hợp pháp, chị không biết S sử dụng xe vào việc phạm tội. Sau
khi thực hiện hành vi phạm tội, do xe hỏng, S đã bán cho người thu mua sắt vụn
khoảng tháng 11/2025 với giá 3.000.000 đồng. Nay chị đề nghị giải quyết theo
quy định của pháp luật.
5
* Tranh luận tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La giữ
nguyên quyết định truy tố, trình bày lời luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Tòng Văn Q, bị cáo Giàng A S phạm tội: Tội mua bán trái
phép chất ma túy.
Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 39; Điều
58 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025; Đề nghị xử phạt bị cáo Tòng Văn
Q: Tù chung thân
Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 39; Điều
58 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025; Đề nghị xử phạt bị cáo Giàng A S:
Tù chung thân.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Tòng Văn Q,
Giàng A S được quy định tại khoản 6 Điều 251 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung
năm 2025.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố
tụng hình sự:
Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và vỏ gói niêm
phong ban đầu, 01 ba lô không có giá trị.
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu
SAMSUNG, của bị cáo Tòng Văn Q, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi của
bị cáo Giàng A S, đều là công cụ phương tiện, liên lạc dùng vào việc phạm tội.
Đề nghị tuyên trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án
ông Tòng Văn Đ 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 27A-134.42.
Về án phí: Các bị cáo là dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc
biệt khó khăn, đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo theo quy định.
- Lời bào chữa cho bị cáo Tòng Văn Q, Luật sư Cầm Văn T: Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Sơn La Quyết định truy tố đối với bị cáo Tòng Văn Q về tội: Tội
mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự là
có căn cứ đúng quy định của pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai. Nhất
trí với lời luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo Tòng Văn Q,
không có tranh luận và đối đáp, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với
bị cáo, miễn án phí hình sự sơ thẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tuyên trả
lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Tòng Văn Đ 01 chiếc
xe máy do cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo Tòng Văn Q.
- Lời bào chữa cho bị cáo Giàng A S, Luật sư Đàm Mạnh H1: Viện kiểm
sát nhân dân tỉnh Sơn La Quyết định truy tố đối với bị cáo Giàng A S về tội: Tội
6
mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự là
có căn cứ đúng quy định của pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai. Nhất
trí với lời luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo Giàng A S, không
có tranh luận và đối đáp.
- Các bị cáo Tòng Văn Q, Giàng A S đều nhất trí với lời bào chữa của người
bào chữa, không bổ sung lời bào chữa gì thêm. Các bị cáo nhận tội và đều đề nghị
Hội đồng xét xử xem xét giảm mức hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên trong
quá trình điều tra; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình truy tố đã thực
hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình
sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo, người bào chữa cho các
bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp theo
quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa phù hợp với
nhau, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang và bản ảnh kèm theo hồi 14
giờ 10 phút ngày 11/8/2025 và biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ hồi
15 giờ 10 phút ngày 11/8/2025 đối với Tòng Văn Q; Biên bản kiểm tra thông tin
điện thoại hồi 15 giờ 25 phút ngày 11/8/2025 đối với Tòng Văn Q kèm bản ảnh;
Biên bản mở niêm phong và kiểm tra thông tin lưu trữ trong điện thoại di động
ngày 06/4/2026 đối với Giàng A S kèm bản ảnh; Biên bản mở niêm phong và
kiểm tra điện thoại, khai thác thông tin dữ liệu điện tử và niêm phong lại vật chứng
ngày 09/4/2026 ; Biên bản khám phương tiện ngày 11/8/2025; Lệnh khám xét
khẩn cấp ngày 11/8/2025 và Biên bản khán xét ngày 12/8/2025 đối với Giàng A
S; Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và Biên bản giữ người trong trường
hợp khẩn cấp ngày 06/4/2026 đối với Giàng A S; Tài liệu thu giữ, Biên bản niêm
phong, mở niêm phong và xác định khối lượng ngày 12/8/2025; Bản kết luận giám
định số 963/KL-KTHS ngày 13/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh S; vật chứng
thu giữ.
Có đủ cơ sở xác định: Tòng Văn Q sau khi nhận yêu cầu mua 10 bánh
Heroine từ người phụ nữ tên H2 với giá 150.000.000 đồng/ 01 bánh, Quí đã chủ
động liên hệ với Giàng A S để tìm nguồn ma túy bán lại cho H2. Giàng A S liên
hệ với người đàn ông tên N tại Lào, thỏa thuận giá 90.000.000 đồng/01 bánh để
nhận tiền công 10.000.000 đồng, xác thực người mua, trực tiếp đi nhận và lấy ba
lô chứa 10 bánh Heroine theo chỉ dẫn rồi giao cho Q; Quí tiếp nhận, vận chuyển
đến khu vực bản T, xã P để giao cho H2 với mục đích bán kiếm lời thì bị bắt quả
7
tang. Tổng khối lượng Heroine mà các bị cáo cùng phải chịu trách nhiệm hình sự
là 2.964,53 gam.
Hành vi của Tòng Văn Q và Giàng A S là cùng cố ý thực hiện tội phạm; giữa
các bị cáo có sự thống nhất về việc tìm nguồn, nhận, chuyển giao và bán 10 bánh
Heroine. Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời
khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập hợp pháp có
trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở đó có đủ cơ sở căn cứ kết luận các bị cáo Tòng Văn
Q, Giàng A S phạm tội: Tội mua bán trái phép chất ma túy. Quyết định truy tố
của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La truy tố các bị cáo Tòng Văn Q, Giàng A
S theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 là có
căn cứ, đúng người, đúng tội theo quy định của pháp luật.
[3] Về khung hình phạt:
Các bị cáo Tòng Văn Q và Giàng A S thực hiện mua bán trái phép chất ma
tuý 2.964,53 gam Heroine, thuộc tình tiết định khung hình phạt được quy định tại
điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 quy định:
“Heroine, C1, Methamphetamine, A, Ketamine, F, MDMA hoặc XLR-11 có khối
lượng từ 100 gam đến dưới 03 kilogam” có khung hình phạt tù 20 năm hoặc tù
chung thân.
[4] Về tính chất, vai trò, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:
Các bị cáo Tòng Văn Q và Giàng A S thực hiện mua bán trái phép chất ma
tuý 2.964,53 gam Heroine, tội phạm do các bị cáo thực hiện thuộc trường hợp đặc
biệt nghiêm trọng, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các
chất ma túy, gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội và là nguồn phát sinh nhiều loại
tội phạm, tệ nạn khác. Các bị cáo nhận thức rõ việc mua bán H3 là bị pháp luật
nghiêm cấm nhưng vì mục đích vụ lợi vẫn cố ý thực hiện với khối lượng ma túy
lên đến 2.964,53 gam.
Các bị cáo phạm tội trong vai trò đồng phạm, áp dụng Điều 17 Bộ luật Hình
sự để đánh giá tính chất đồng phạm và mức độ tham gia của từng bị cáo. Bị cáo
Tòng Văn Q là người tiếp nhận yêu cầu mua 10 bánh Heroine từ H2, chủ động
tìm nguồn qua Sá, trực tiếp nhận toàn bộ ma túy, vận chuyển đến điểm giao và
đưa cho H2 kiểm tra để thực hiện việc bán. Bị cáo Giàng A S là người tích cực
thực hiện tội phạm, giữ mắt xích thiết yếu: Sá có mối liên hệ với nguồn N, trực
tiếp hỏi mua và báo giá, xác thực người mua, nhận chỉ dẫn giao ma túy, trực tiếp
lấy ba lô 10 bánh Heroine từ vị trí cất giấu và giao cho Q, truyền đạt phương thức
thanh toán và chủ động thay đổi điểm chờ nhận tiền để tránh bị phát hiện. Các bị
cáo Tòng Văn Q, Giàng A S phải chụi trách nhiệm hình sự về khối lượng 2.964,53
gam Heroine mua bán trái phép chất ma túy.
[5] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ, trách nhiệm hình sự:
Nhân thân: Bị cáo Tòng Văn Q có nhân thân xấu. Bản án hình sự sơ thẩm số
137/2007/HSST của Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt
12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày
28/3/2008; Bị cáo đã thi hành án phí hình sự sơ thẩm, án phí hình sự phúc thẩm,
8
án phí dân sự sơ thẩm và khoản bồi thường cho bị hại, đương nhiên được xóa án
tích, là người am hiểu pháp luật nhưng do hám lợi cố tình thực hiện tội phạm đặc
biệt nghiêm trọng.
Nhân thân bị cáo Giàng A S phạm tội lần đầu chưa có tiền án, tiền sự. Song
do hám lợi cố tình thực hiện tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Tòng Văn Q, Giàng A S
không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa
các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình
là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo
Tòng Văn Q tích cực hợp tác với cơ quan điều tra phát hiện tội phạm là tình tiết
giảm nhẹ đối với bị cáo Tòng Văn Q được quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51
Bộ luật Hình sự. Bị cáo Tòng Văn Q, Giàng A S là người dân tộc thiểu số, sinh
sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn là tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ vào nhân thân các bị cáo Tòng Văn Q, Giàng
A S. Tính chất, mức độ hành vi phạm tội, vai trò phạm tội của từng bị cáo, tình
tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ, đặc biệt là khối lượng mua, bán ma túy của các
bị cáo. Các bị cáo phạm tội trong vai trò đồng phạm, cần xem xét áp dụng quy
định tại Điều 58 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo. Xét
thấy cần tuyên một mức án tương xứng nghiêm khắc với hành vi phạm tội của
từng bị cáo, áp dụng chế tài hình sự bằng hình thức tù không có thời hạn cách ly
các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo, giáo dục tương xứng với vai trò phạm
tội của bị cáo, áp dụng Điều 39 Bộ luật Hình sự. Mới đảm bảo tính nghiêm minh,
của pháp luật, giáo dục và phòng ngừa chung.
[6] Các bị cáo đang bị tạm giam, thời hạn tạm giam còn trên 45 ngày, duy trì
Quyết định tạm giam số 197/2026/HSST- QĐTG ngày 13/8/2026 đối với bị cáo
Tòng Văn Q, Quyết định tạm giam số 198/2026/HSST- QĐTG ngày 13/8/2026
đối với bị cáo Giàng A S của Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La, vận dụng
khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[7] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính các bị cáo còn có thể phải
chịu hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 6 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy
định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành
nghề hoặc làm công việc nhất định hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo làm lao động tự do; không có tài sản, không
có thu nhập ổn định bảo đảm thi hành, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với
các bị cáo.
[8] Về nguồn gốc ma túy và các đối tượng có liên quan trong vụ án:
Đối với người đàn ông tên N ở Lào, S khai là người bán 10 bánh Heroine
nhưng không biết họ tên, địa chỉ cụ thể; ngoài lời khai của bị cáo chưa có căn cứ
khác để điều tra mở rộng, nên chưa xem xét xử lý trong vụ án này.
9
Đối với người phụ nữ tên H2 khoảng 30-40 tuổi, theo Q khai là người đặt
mua ma túy và đến điểm hẹn bằng xe ô tô màu đỏ. Cơ quan điều tra đã xác minh
các số thuê bao 0973320410 và 0392406107, thu thập ảnh những người có tên H2
để Q nhận dạng nhưng không xác định được người theo mô tả. Người nam giới
lái xe ô tô màu đỏ đi cùng H2 chưa xác định được nhân thân. Ngoài lời khai của
Q chưa có tài liệu khác đủ xác định cụ thể các đối tượng này; do đó chưa có căn
cứ xử lý trong vụ án này, khi có căn cứ sẽ xem xét theo quy định của pháp luật.
Đối với Vàng A P, sinh năm 1997, trú tại bản P, xã P, tỉnh Điện Biên: S khai
Pó chỉ vị trí cất giấu ma túy; P thừa nhận quen Sá từ trước nhưng không thừa nhận
tham gia mua bán ma túy và không biết người tên N. Cơ quan Cảnh sát điều tra
Công an tỉnh S đã sao chuyển tài liệu liên quan đến cơ quan Công an có thẩm
quyền tại tỉnh Điện Biên để tiếp tục quản lý, xác minh, xử lý khi có căn cứ; Hội
đồng xét xử không xem xét trách nhiệm hình sự của Pó trong vụ án này.
[9] Về xử lý vật chứng vụ án và tài sản bị thu giữ:
Đối với 2.948,99 gam Heroine còn lại sau khi đã trích 15,54 gam làm mẫu
giám định cùng hộp giấy cát tông niêm phòng, 10 túi nilon màu trắng kí hiệu từ
Q1A đến Q10A cùng các mảnh nilon màu trắng, các mảnh giấy sáp màu vàng,
các mảnh nilon màu vàng và mảnh giấy niêm phong đã bóc mở: đây là vật Nhà
nước cấm lưu hành hoặc vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 ba lô thu giữ cùng ma túy, xác định được sử dụng để chứa, vận
chuyển số Heroine phạm tội không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, lắp SIM
0345318899 và 0359653830 thu giữ của Tòng Văn Q cùng 01 vỏ phong bì niêm
phong ban đầu; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, vỏ màu xám, lắp 02 SIM
0396002231 và 0332330462 thu giữ của Giàng A S cùng 01 vỏ phong bì niêm
phong ban đầu: quá trình điều tra xác định đây là tài sản các bị cáo sử dụng để
liên lạc thực hiện hành vi phạm tội, cần tịch thu sung nộp ngân sách nhà nước.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 27A-134.42 thu giữ
của Tòng Văn Q: Xét thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa, xác định đăng ký xe
mang tên Tòng Văn Q, bị cáo sử dụng xe máy là công cụ phương tiện dùng vào
việc thực hiện tội phạm, cần tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Không chấp
nhận yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Tòng Văn Đ, nếu
phát sinh tranh chấp ông Tòng Văn Đ có quyền khởi kiện Tòng Văn Q theo quy
định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Đối với xe mô tô Honda Wave alpha màu đen, biển kiểm soát 27B1-639.46:
Quá trình điều tra xác định xe đăng ký tên chị Và Thị Cá B là chủ sở hữu hợp
pháp; chị B không biết S sử dụng xe vào việc phạm tội. Sau khi thực hiện hành vi
phạm tội, do xe hỏng, S đã bán cho người thu mua sắt vụn khoảng tháng 11/2025
với giá 3.000.000 đồng, không nhớ người mua, không có giấy tờ mua bán nên Cơ
quan điều tra không truy tìm, tạm giữ được. Không có căn cứ cơ sở xem xét tịch
thu truy thu trong vụ án.
[10] Về án phí: Xét thấy các bị cáo Tòng Văn Q, Giàng A S đều là người dân
10
tộc thiểu số sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc
đối tượng được miễn án phí. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo. Vận
dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản
6 Điều 15, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[11] Các bị cáo Tòng Văn Q, Giàng A S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định, vận dụng Điều 331, Điều
333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều
51; Điều 39; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Tuyên bố bị cáo Tòng Văn Q phạm tội: Tội mua bán trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Tòng Văn Q: Tù chung thân (thời hạn chấp hành hình phạt tù
được tính từ ngày bị bắt, tạm giữ tạm giam là ngày 11/8/2025).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Tòng Văn Q được quy định
tại khoản 6 Điều 251 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025.
2. Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
39; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Tuyên bố bị cáo Giàng A S phạm tội: Tội mua bán trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Giàng A S: Tù chung thân (thời hạn chấp hành hình phạt tù
được tính từ ngày bị bắt, tạm giữ tạm giam là ngày 06/4/2026).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Giàng A S được quy định
tại khoản 6 Điều 251 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật
Tố tụng hình sự:
- Tịch thu, tiêu hủy: 2.948,99 gam Heroine còn lại sau giám định và toàn bộ
bao gói, mảnh nilon, giấy sáp, vỏ niêm phong kèm theo; 01 ba lô.
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung
màu đen, gắn SIM 0345318899 và 0359653830 thu giữ của Tòng Văn Q; 01 điện
thoại di động nhãn hiệu Redmi, vỏ màu xám, gắn SIM 0396002231 và
0332330462 thu giữ của Giàng A S; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát
27A-134.42 thu giữ của Tòng Văn Q.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ
khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày
11
30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Tòng Văn Q, Giàng A S.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các bị cáo Tòng Văn Q, Giàng A S có quyền kháng cáo bản án trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 09/9/2026).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Và Thị Cá B có mặt
tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án phần bản án
đối với những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Tòng Văn Đ vắng mặt
tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản
án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật về phần bản án
đối với những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
Nơi nhận:
- Toà phúc thẩm TANDTC tại Hà Nội;
- Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm
tại Hà Nội;
- VKSND tỉnh Sơn La;
- Phòng PC04 Công an tỉnh Sơn La;
- Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La;
- Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Sơn
La;
- Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La;
- Phòng GĐ, KT, TT và THA;
- Bị cáo;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu HS-AV.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Tuấn Long
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
Trần Thị Nga Quản Thị Dung
THẨM PHÁN
Tòng Thị Hiền
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Tuấn Long
12
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 60/2026/HS-ST Bản án số 60/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 60/2026/HS-ST Bản án số 60/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất