Bản án số 59/2018/HS-ST ngày 10/04/2018 của TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình về tội mua bán trái phép chất ma túy

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 59/2018/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 59/2018/HS-ST ngày 10/04/2018 của TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình về tội mua bán trái phép chất ma túy
Tội danh: 251.Tội mua bán trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Thái Bình (TAND tỉnh Thái Bình)
Số hiệu: 59/2018/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/04/2018
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 59/2018/HS-ST
Ngày 10 - 4 - 2018
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Việt Hưng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Chu Thị Hồng Nhật
Bà Hoàng Thị Phụng
- Thư phiên tòa: Ngô ThHạnh Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái
Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hiền – Kiểm sát viên
Ny 10 tháng 4 năm 2018 tại tr sởa án nhân dân thành phố Thái Bình,
tỉnh Thái Bình xét x thẩm ng khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:
50/2018/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
số: 55/2018/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn P, sinh ngày 05 tháng 3 năm 1993 tại Thái Bình;
nơi đăng hộ khẩu thường trú: Thôn P, Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình; nơi
trú: Phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình
độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không;
quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh B1 bà Đặng Thị Th; tiền án:
Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị bắt, tạm giữ ngày 15 tháng 12 năm
2017 đến ngày 18 tháng 12 năm 2017 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an
thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; có mặt.
- Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Phạm Văn B,
sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn Ô, xã T2, huyện V, tỉnh Thái Bình; vắng mặt
- Người chứng kiến:
+ Anh Đỗ Văn C, sinh năm 1990; nơi trú: Thôn V1, V2, huyện V,
tỉnh Thái Bình; vắng mặt
+ Anh Nguyễn Đình T, sinh năm 1984; nơi trú: Phường Đ, thành phố
T3, tỉnh Thái Bình; vắng mặt.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồvụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 15 tháng 12 năm 2017, Nguyễn Văn P điều
khiển xe mô nhãn hiệu Honda Wave α, biển kiểm soát 17B8-036.57 đi từ chỗ
của P đến khu vực thôn Đ, T4, thành phố T3, tỉnh Thái nh với mục đích
mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Đến nơi, P gặp và mua của một người nam
giới khoảng 35 tuổi không biết n, không địa chỉ một túi ma túy đá với giá
300.000 đồng. P nhận gói ma y cầm lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe máy
đi m chỗ vắng để sử dụng. Khi đi đến P, thành phố T3 thì P gặp bạn quen
biết ttrước Phạm Văn B, sinh năm 1991, trú tại: Thôn Ô, T2, huyện V,
tỉnh Thái Bình đang đi bộ, B hỏi ma túy đá không để cho B 400.000 đồng.
Sẵn ma túy đá trong người nên P nhận lời bán ma túy cho B nhận của B
400.000 đồng (gồm 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá
100.000 đồng, 02 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng). P nhận tiền và cất vào túi quần
bên phải của P thì bị tổ công tác Công an thành phố Thái Bình bắt quả tang.
Trước sự chứng kiến của anh Anh Đỗ Văn C, sinh năm 1990, trú tại: Thôn V1,
V2, huyện V, tỉnh Thái Bình anh Nguyễn Đình T sinh năm 1984, trú tại:
Phường Đ, thành phố T3, tỉnh Thái Bình, P tự giác giao nộp từ lòng bàn tay trái
01 túi ni lông màu trắng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, P khai nhận
ma túy đá đbán cho B, tổ công tác niêm phong hiệu M1. Sau đó tổ công
tác yêu cầu P, B đưa xe máy Honda Wave α, biển kiểm soát 17B8-036.57
mời người chứng kiến về trụ sở Ủy ban nhân dân P, thành phố T3, tỉnh Thái
Bình để kiểm tra. Tổ công tác thu tại túi quần hậu bên phải ca P số tiền 400.000
đồng, P khai tiền vừa bán ma túy cho B mà có; thu tại túi quần bên trái của P
01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen và 01 điện thoại Samsung màu vàng.
Kiểm tra người B và xe máy của P không phát hiện thu giữ gì. Tổ công tác đã
tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang biên bản niêm phong vật
chứng.
Cùng ngày, quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình tiến
hành khám xét khẩn cấp nơi của Nguyễn Văn P tại phường K, thành phố T3,
tỉnh Thái Bình. Qua khám xét thu tại cửa sphòng tắm tầng hai 01 cân đin tử màu
trắng nn hiệu Marlboro.
Bản Kết luận giám định số: 489/KLGĐ-PC54 ngày 15 tháng 12 năm
2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu gửi
3
giám định là ma túy, loại Methamphetamine có trọng lượng 0,6262 gam (Không
phẩy sáu nghìn hai trăm sáu mươi hai gam).
Quá trình điều tra tại phiên tòa, bịo P không có ý kiến hay khiếu nại gì
về kết luận của Phòng kỹ thuật hình sự ng an tỉnh Ti nh u trên.
Bản cáo trạng số: 59/CT-VKSTP ngày 20 tháng 3 năm 2018 của Viện
kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn
Văn P vtội Mua bán trái phép chất ma túytheo quy định tại khoản 1 Điều
194 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
* Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội Mua bán trái phép cht ma
túy”.
* Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình snăm 1999; điểm s
khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017,
xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P từ 02 năm (hai năm) đến 02 năm (hai năm) 06
tháng (sáu tháng) tù tính từ ngày bắt, tạm giữ 15 tháng 12 năm 2017.
Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo từ 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) đến
7.000.000 đồng (bảy triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.
* Về xử vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015
sửa đổi bổ sung m 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng nh sm 2015
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn P 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu
đen 01 điện thoại di động Samsung màu vàng nhưng tiếp tục quản để đảm
bảo thi hành án;
- Tịch thu tiêu hủy của bị cáo P 0,6262 gam (không phẩy sáu nghìn hai
trăm sáu ơi hai gam) ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định là
0,5972 gam (không phẩy năm nghìn chín trăm bảy mươi hai gam) trong phong
bì ghi số 489/KLGĐ;
- Tịch thu sung quỹ nhà nước của bị cáo P số tiền 400.000 đồng.
- Tịch thu tiêu hủy của bị cáo P 01 cân điện t màu trắng nhãn hiệu
Marlboro.
* Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự thẩm theo quy định của
pháp luật.
Bị cáo không ý kiến tranh luận về quyết định truy tố của Viện
kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình
phạt cho bị cáo.
4
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, n cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của quan điều tra Công an thành
phố Thái Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình,
Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền,
trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra tại
phiên tòa, bị cáo không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định
tố tụng của quan tiến nh tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều
hợp pháp.
[2] Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 15 tháng 12 năm 2017, Nguyễn Văn P có
hành vi bán trái phép 01 túi ma túy, loại Methamphetamine trọng lượng
0,6262 gam cho Phạm Văn B lấy 400.000 đồng tại khu vực P, thành phố T3,
tỉnh Thái Bình, bị Công an thành phố Thái Bình phát hiện bắt quả tang.
Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng
cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an thành phố Thái Bình
lập hồi 14 giờ 30 phút ngày 15 tháng 12 năm 2017; biên bản niêm phong vật
chứng lập hồi 15 giờ 30 phút ngày 15 tháng 12 năm 2017; bản Kết luận giám
định số: 489/KLGĐ-PC54 ngày 15 tháng 12 năm 2017 của Phòng kỹ thuật hình
sự Công an tỉnh Thái Bình; bản tự khai, biên bản ghi lời khai của anh Phạm Văn
B, anh Đỗ Văn C, anh Nguyễn Đình T; cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong
hồ sơ vụ án.
Như vậy,nh vi phạm tội của bịo P có đủ các yếu tố cấu thành tội “Mua
n trái pp chất ma yquy định tại Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa
đổi bổ sung năm 2009.
[3] Về tính chất, mức đnghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
* Về tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: nh vi phạm
tội của bị cáo đã mua ma túy mục đích bán kiếm lờinguy hiểm cho xã hội, đã
xâm phạm quy định quản chất gây nghiện của Nhà nước. Ma túy vật cấm
lưu hành, không những làm sa sút về sức khỏe trí tuệ con người còn làm
hủy hoại đạo đức nhân cách con người, phá vỡ hạnh phúc gia đình, tác nhân
lan truyền đại dịch HIV/AIDS, nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm khác
gây ảnh hưởng đến trật tự trị an. Vì vậy phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm
5
khắc tương xứng với hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra mới
tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáophòng ngừa tội phạm chung.
* Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm nh sự, tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, không tiền án, tiền sự. Bị cáo không
phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Bộ luật
Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Trong quá trình điều tra, truy tố
và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình
sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
* Trên cơ sở đánh giá tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm
tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì Hội
đồng xét xử giảm nhẹ cho bcáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được chính
sách khoan hồng của Nhà nước.
Đối với Phạm Văn B hành vi mua 0,6262 gam (không phẩy sáu nghìn
hai trăm sáu mươi hai gam) Methamphetamine mục đích để sử dụng, trọng
lượng ma túy chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an thành
phố Thái Bình đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính phợp với quy
định của pháp luật.
[4] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm
1999 sửa đổi bổ sung năm 2009, phạt bị cáo 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) để
nộp ngân sách nhà nước.
[5] Về xử lý vật chứng:
- quan Công an thu gi0,6262 gam (không phẩy sáu nghìn hai trăm
sáu mươi hai gam) ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định
0,5792 gam (không phẩy m nghìn bảy trăm chín mươi hai gam), căn cứ Điều
46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ
luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần tịch thu tiêu hủy.
- quan Công an thu giữ 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave α, màu
xanh - đen - bạc, biển kiểm soát 17B8-036.57, giấy đăng ký xe mang tên
Nguyễn Văn P, do bố mẹ bị cáo P bỏ tiền mua để bị cáo làm phương tiện đi lại,
sinh hoạt hàng ngày, bị cáo đề nghị được xin lại xe và ủy quyền cho mẹ bị cáo là
Đặng Thị Th, sinh năm 1973, trú tại thôn P, Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình
nhận lại xe. Ngày 04 tháng 02 năm 2018, quan điều tra đã trả lại chiếc xe
trên cho bà Thía là phù hợp với quy định của pháp luật.
- Cơ quan Công an thu giữ của bị cáo P 01 điện thoại di động Nokia 1280
màu đen và 01 điện thoại di động Samsung màu vàng, tài sản của bị o P,
6
không liên quan đến việc phạm tội, căn cứ Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 2015
sửa đổi bổ sung năm 2017, cần trả lại cho bị cáo P.
- quan Công thu giữ của bị cáo P 01 cân điện tử màu trắng nhãn hiệu
Marlboro đã cũ, không sử dụng được, căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự
năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình snăm
2015 cần tịch thu tiêu hủy.
- quan Công an thu giữ của bị cáo P số tiền 400.000 đồng (bốn trăm
nghìn đồng) là tiền do bị cáo bán ma túy mà có, căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật
Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
năm 2015, cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của
pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo người quyền lợi nghĩa vụ liên
quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi
bổ sung năm 2009, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 46, Điều 47 Bộ luật
Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; các điều 106, 136, 331 và 333 Bộ
luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định vmức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, qun và sử dng án p và lệ p Tòa án
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội Mua bán trái phép chất ma
túy”. Phạt bị cáo Nguyễn Văn P 02 năm (hai năm) tù, thời hạn tính từ ngày bị
tạm giữ 15 tháng 12 năm 2017.
Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) để
nộp ngân sách nhà nước.
2. Về xử lý vật chứng:
2.1. Tịch thu tiêu hủy của bị cáo P 0,6262 gam (không phẩy sáu nghìn hai
trăm sáu ơi hai gam) ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định
0,5972 gam (không phẩy năm nghìn chín trăm bảy mươi hai gam) trong phong
bì ghi số 489/KLGĐ;
2.2. Trả lại bị o P 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen 01 điện
thoại di động Samsung màu vàng.
2.3. Tịch thu tiêu hủy của bị cáo P 01 cân điện tử màu trắng nhãn hiệu
Marlboro.
7
2.4. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước s tiền 400.000 đồng (bốn trăm
nghìn đồng).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an thành phố
Thái Bình, tỉnh Thái Bình và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình,
tỉnh Thái Bình ngày 21 tháng 3 năm 2018 Biên lai thu tiền số 0001228 ngày
21tháng 3 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh
Thái Bình).
3. Về án phí: Bị cáo P phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án
phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7,
7a 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo
trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án thẩm 10 tháng 4 năm 2018. Người
quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa quyền
kháng cáo trọng hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được
niêm yết.
Nơi nhận:
- Bị cáo;
- Người quyền lợi nghĩa vụ
liên quan đến vụ án;
- Viện kiểm sát nhân dân thành
phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Thái Bình;
- quan Cảnh sát điều tra,
quan Thi hành án hình sự, nhà
tạm giữ - Công an thành phố Thái
Bình, tỉnh Thái Bình;
- Chi cục Thi hành án dân sự thành
phThái nh, tỉnh Thái nh;
- S pháp tỉnh Thái Bình;
- Lưu hồ sơ vụ án; VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vũ Việt Hưng
8
Tải về
Bản án số 59/2018/HS-ST Bản án số 59/2018/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất