Bản án số 586/2023/HS-ST ngày 31/10/2023 của TAND TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai về tội cướp giật tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 586/2023/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 586/2023/HS-ST ngày 31/10/2023 của TAND TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai về tội cướp giật tài sản
Tội danh: 136.Tội cướp giật tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Biên Hòa (TAND tỉnh Đồng Nai)
Số hiệu: 586/2023/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 31/10/2023
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Cướp giật tài sản”. Xử phạt bị cáo Trần Văn H 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08 tháng 5 năm 2023
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 586/2023/HS-ST
Ngày: 31-10-2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thế Mạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Vương Thị Khánh Loan Cán bộ hưu trí.
Đậu Thị Mỹ Long Hiệu trưởng Trường Tiểu học An Hòa.
- Thư phiên tòa: Ông Phan n Tiến Thư Tòa án nhân dân thành phố
Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa tham gia phiên tòa: i
Thị Thu Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa,
tỉnh Đồng Nai xét xử thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số
561/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
597/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2023, đối với bị cáo:
Trần Văn H (tên gọi khác: Không), sinh năm 1997 tại Bình Định; giới tính:
Nam; nơi đăng thường trú: ..., xã M H, huyện P M, tỉnh B Đ; nơi thiện nay:
Không nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam;
dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Minh Th, sinh năm 1971 Đoàn Thị
Ph, sinh năm 1970; gia đình 03 chị em (bcáo là con út), vợ Nguyễn Thị Ngọc
Q, sinh năm 1998 và có 01 con, sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/5/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại
Nhà tạm giữ thuộc Công an thành phố Biên Hòa. (có mặt)
- Bị hại: Cháu Hoàng Thanh T, sinh năm 2005.
Địa chỉ: ..., tổ 93, khu phố 13, phường H N, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
(có đơn xin xét xử vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1982.
2
Địa chỉ: ..., khu phố 2, phường B H, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. (có
đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Vào lúc 12 giờ ngày 08 tháng 5 năm 2023, Trần Văn H điều khiển xe mô tô hiệu
Damsan, biển số 60S4-4612 đi quanh khu vực phường Hố Nai tìm tài sản hcủa
người dân để chiếm đoạt. Khi đến trước nhà số ..., tổ 93, khu phố 13, phường H N, thành
phố Biên Hòa, H thấy cháu Hoàng Thanh T, sinh năm 2005 đang dựng xe hiệu Honda
Vision, biển số 60F4-083.15 trước cổng nhà, trong hộc xe phía trước bên trái để 01
chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu vàng nên H nảy sinh ý định chiếm
đoạt tài sản này. H điều khiển xe biển số 60S4-4612 chạy tới áp sát xe của
cháu T giả vờ hỏi đường và dùng tay trái lấy chiếc điện thoại di động Iphone 13 Promax
để trong hộc xe của cháu T rồi vặn ga tính bỏ chạy nhưng xe của H bị tắt máy.
Lúc này, cháu T túm áo khoác của H nắm giữ đuôi xe mô tô của H truythì H dùng
chân phải đạp vào tay cháu T cố gắng nổ máy xe để chạy, nghe tiếng truy nên
người dân hỗ trợ bắt giữ H giao cho Công an phường Hố Nai. Tại Công an phường, H
khai nhận hành vi phạm tội nên Công an phường Hố Nai lập hồ chuyển quan
Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa thụ lý theo thẩm quyền.
* Vật chứng của vụ án:
- 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13 promax màu vàng, số Imei:
350472595525814, tài sản của cháu Hoàng Thanh T nên quan Cảnh sát điều tra
Công an thành phố Biên Hòa đã thu hồi trả lại cho cháu T.
- 01 chiếc xe mô tô hiệu Damsan màu xanh, biển số 60S4-4612, số máy:
059757, số khung: 059757. Qua điều tra, bị cáo khai mua trên mạng xã hội của một
người không rõ, lai lịch, không giấy tờ mua bán không giấy đăng xe. Kết
quả xác minh, chiếc xe trên do ông Nguyễn Xuân A, sinh năm 1977, thường trú
tại địa chỉ ..., tổ 4A, khu phố 5, phường L B, thành phố B H, tỉnh Đồng Nai) đứng tên
chủ sở hữu. Tuy nhiên, qua tra cứu hệ thống dữ liệu dân không thông tin trên hệ
thống cơ sở dữ liệu quốc gia của phường L B rà soát tại khu phố không có người tên
Nguyễn Xuân A, sinh năm 1977, hộ khẩu như trên địa phương. Do đó, quan điều
tra tiếp tục tạm giữ chiếc xe môtô biển số 60S4-6412 để xác minh, làm rõ và xử lý sau.
* Tại bản kết luận định giá tài sản số 223/TCKH-HĐĐG ngày 09/5/2023, kết
luận: “01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13 promax loại 256Gb, số Imei:
35047259525814, đang sử dụng bình thường, giá trị sdụng còn lại khoảng 80%;
tổng giá trị định giá 23.592.000 đồng (Hai mươi ba triệu năm trăm chín mươi hai
nghìn đồng)”.
* Về dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm
và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại cáo trạng số 522/CT-VKSBH ngày 04 tháng 9 năm 2023, Viện Kiểm sát
3
nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Trần n H, về tội “Cướp giật tài sản” theo
quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa vẫn
giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo vtội “Cướp giật tài sảnđề nghị Hội
đồng xét xử:
+ Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ
luật Hình sự xử phạt Trần Văn H với mức án từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu)
tháng tù.
+ Về xử lý vật chứng:
- Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13 promax màu vàng, số Imei:
350472595525814 tài sản của cháu Hoàng Thanh T nên quan Cảnh sát điều tra
Công an thành phố Biên Hòa đã thu hồi trả lại cho cháu T là phù hợp.
- Đối với chiếc xe hiệu Damsan màu xanh, biển số 60S4-4612, số máy:
059757, số khung: 059757 mà bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội. Qua điều tra, bị cáo
khai mua trên mạng hội của một người không rõ, lai lịch, không giấy tờ mua bán
không giấy đăng xe. Kết quả xác minh, chiếc xe trên do ông Nguyễn
Xuân A, sinh năm 1977, thường trú tại địa chỉ ..., tổ 4A, khu phố 5, phường L B, thành
phố B H, tỉnh Đồng Nai đứng tên chủ shữu. Tuy nhiên, qua tra cứu hệ thống dữ liệu
dân không thông tin trên hệ thống sở dữ liệu quốc gia của phường L B
soát tại khu phố không người tên Nguyễn Xuân A, sinh năm 1977, hộ khẩu như trên
địa phương. Do đó, quan điều tra tiếp tục tạm giữ chiếc xe môtô biển số 60S4-
6412 để xác minh, làm rõ và xử lý sau là phù hợp.
+ Về trách nhiệm dân sự: Bị hại cùng người đại diện hợp pháp của mình đã nhận
lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị
cáo. Do đó, không đặt ra xem xét giải quyết.
+ Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố của
Viện kiểm sát không ý kiến bào chữa, tranh luận đối với lời luận tội của đại
diện Viện Kiểm sát.
Trong phần phát biểu lời nói sau cùng: Bị cáo đã nhận thức hành vi phạm tội của
mình là vi phạm pháp luật. Quá trình Điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã
thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo
được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm được trở về tái hòa nhập với cộng đồng,
làm lại cuộc đời, khắc phục lỗi lầm của bản thân trở thành người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tn cơ sở nội dung vụ án,n c o các tài liệu trong hồ vụ án đã được tranh
tụng tại phiên a, Hội đồng t xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
4
[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của quan điều tra Công an thành phố
Biên Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên
trong quá trình điều tra, truy tđã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui
định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra tại phiên tòa, bị cáo, bị hại
không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại đã được Tòa án tống đạt, triệu
tập hợp lệ để được biết tham gia phiên tòa nhưng đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy,
quá trình Điều tra, truy tố bhại cùng người đại diện hợp pháp của mình đã nhận lại tài
sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do
đó, việc vắng mặt của bị hại người đại diện hợp pháp của bị hại không ảnh hưởng
đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành
xét xử vắng mặt bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại.
[2] Về hành vi thực hiện tội phạm và Điều luật truy tố:
[2.1] Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận: Vào khoảng 12 giờ, ngày 08 tháng 5
năm 2023 tại trước nhà số ...., tổ 93C, khu phố 13, phường H N, thành phố Biên Hòa,
tỉnh Đồng Nai. Bị cáo điều khiển xe hiệu Damsan, biển số 60S4-4612 hành vi
cướp giật 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13 promax loại 256Gb, có giá trị định
giá 23.592.000 (Hai mươi ba triệu, năm trăm chín mươi hai nghìn) đồng của cháu
Hoàng Thanh T thì bị cháu T phát hiện, truy cùng với người dân bắt giữ giao cho
Công an phường Hố Nai, thành phố Biên Hòa lập hồ chuyển quan Cảnh sát điều
tra Công an thành phố Biên Hòa điều tra, xử lý.
[2.2] Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phợp với lời khai của bị hại,
người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác có
trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Trần Văn H đã đủ
yếu tố cấu thành tội Cướp giật tài sản” với tình tiết định khung là dùng thủ đoạn nguy
hiểm”. Tội danh hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình
sự như cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân thành phố Biên Hòa đã truy tố căn cứ,
đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về nh chất, mức độ hành vi phạm tội và hình phạt áp dụng đối với bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho hội, không những đã trực tiếp
xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ còn làm
mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, gây hoang mang lo sợ cho quần chúng nhân dân.
vậy, cần phải mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi
5
phạm tội của bị cáo, tiếp tục cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục
bị cáo và có tác dụng răn đe, đấu tranh phòng ngừa chung.
Tuy nhiên xét thấy: Bcáo không có tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi
phạm tội bị cáo đã thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tài sản đã
được thu hồi trả lại cho bị hại được bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo
nhân thân tốt (chưa có tiền án, tiền sự) hiện có hoàn cảnh gia đình khó khăn (sống ly
thân, không liên lạc với vợ một mình nuôi con nhỏ). Đây là tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật
Hình sự. Do đó, khi Quyết định hình phạt áp dụng đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xem
xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật Hình sự qui
định “Người phạm tội còn thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000
đồng”. Do đó bị cáo thể bị áp dụng hình phạt bổ sung hình phạt tiền. Tuy nhiên,
theo các tài liệu, chứng cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không
nghề nghiệp và đang phải nuôi con nhỏ. vậy, Hội đồng xét xquyết định không áp
dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng:
- Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13 promax màu vàng, số Imei:
350472595525814 tài sản của cháu Hoàng Thanh T nên quan Cảnh sát điều tra
Công an thành phố Biên Hòa đã thu hồi trả lại cho cháu T là phù hợp.
- Đối với chiếc xe hiệu Damsan màu xanh, biển số 60S4-4612, số máy:
059757, số khung: 059757 mà bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội. Qua điều tra, bị cáo
khai mua trên mạng hội của một người không rõ, lai lịch, không giấy tờ mua bán
không giấy đăng xe. Kết quả xác minh, chiếc xe trên do ông Nguyễn
Xuân A, sinh năm 1977, thường trú tại địa chỉ ...., tổ 4A, khu phố 5, phường L B, thành
phố B H, tỉnh Đồng Nai đứng tên chủ shữu. Tuy nhiên, qua tra cứu hệ thống dữ liệu
dân không thông tin trên hệ thống sở dữ liệu quốc gia của phường L B
soát tại khu phố không người tên Nguyễn Xuân A, sinh năm 1977, hkhẩu như trên
địa phương. Do đó, quan điều tra tiếp tục tạm giữ chiếc xe môtô biển số 60S4-
6412 để xác minh, làm rõ và xử lý sau là phù hợp.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại cùng người đại diện hợp pháp của mình đã
nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường thêm đơn xin giảm nhhình phạt
cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[7] Về quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa:
Xét thấy phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
6
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật Ttụng Hình sự; Áp dụng điểm d khoản 2
Điều 171; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trần Văn H 03 (ba) năm tù. Thời hạn tính từ ngày 08 tháng 5
năm 2023.
2. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều
23 Ngh quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ca Ủy ban thưng v Quc
Hội quy định v mc thu, min, gim, np, qun lý và s dng án phí, l phí Tòa án:
Buộc bị cáo Trần Văn H phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
3. Căn cứ Điều 331, Điều 333 của B luật Tố tụng Hình sự:
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại
người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng o trong hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo qui định pháp luật./.
Nơi nhận:
- Tòa án tỉnh Đồng Nai (1);
- VKSND TP. Biên Hòa (2);
- Thi hành án (8);
- Công an TP. Biên Hòa (1);
- Bị cáo (1);
- Lưu VP-HS (4).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bùi Thế Mạnh
7
8
9
Tải về
Bản án số 586/2023/HS-ST Bản án số 586/2023/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất