Bản án số 58/2023/DS-ST ngày 28/05/2023 của TAND Q. Thanh Khê, TP. Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng thuê tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 58/2023/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 58/2023/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 58/2023/DS-ST ngày 28/05/2023 của TAND Q. Thanh Khê, TP. Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng thuê tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND Q. Thanh Khê (TAND TP. Đà Nẵng) |
| Số hiệu: | 58/2023/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 28/05/2023 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Công ty TNHH Đ - Trần Mạnh Q "Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản" |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Bản án số: 58/2023/DS-ST
Ngày: 25.8.2023
(V/v Tranh chấp Hợp đồng thuê tài sản)
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do- Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Hậu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Thuận
2. Lê Thị Nhớ
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Công Hồng Lĩnh- Thư ký Tòa án nhân dân quận
Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê tham gia phiên tòa: Ông Lê
Thanh Tráng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê
xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 304/2022/TLST-DS ngày 20 tháng 12 năm
2022 về việc "Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
số 304/2023/QĐXXST-DS ngày 24.8.2022, Quyết định hoãn phiên tòa số
134/2022/QĐST - DS ngày 09 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Mạnh Q, sinh năm 1995; Địa chỉ: Lô C, MBQH 2056
phố Q, phường Đ, thành phố T, tỉnh T. Ông Q ủy quyền cho bà Lê Mai H ngày
16/01/2023 tại văn phòng Công chứng Nguyễn Luyện – Bà H có mặt
- Bị đơn: Công ty TNHH MTV Đ; Địa chỉ: Số K đường L, phường V, quận T,
thành phố Đ. Người đại diện theo pháp luật bà L - Chức vụ giám đốc – Bà T vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lương Quang T, sinh năm 1969;
Địa chỉ: Số C đường X, tổ D, phường K, quận N, thành phố Đ vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 10 tháng 3 năm 2022, tại Bản tự khai
và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – bà
Lê Mai H trình bày:
Ngày 11/10/2019, Công ty TNHH Đ (sau đây gọi tắt là Công ty Đ) và ông Trần
Mạnh Q ký kết hợp đồng đặt cọc số: 014/2019/HĐĐCPT/ĐGV về việc ông Q đặt cọc
số tiền 76.245.000đ nhằm mục đích Công ty Đ cho ông Trần Mạnh Q thuê căn hộ thuộc
dự án Căn hộ tiện ích 3 tại địa chỉ K152/1C Phan Thanh, phường Thạc Gián, quận
2
Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Đến ngày 11/3/2020, giữa hai bên tiếp tục ký Hợp
đồng thuê quyền sử dụng căn hộ có thời hạn số 014/2020/HĐTPT/ĐGV với nội dung:
Công ty Đ cho ông Trần Mạnh Q thuê căn hộ số B601 tại địa chỉ K152/1C Phan Thanh,
phường Thạc Gián, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, có diện tích sử dụng 37,85m
2
với đơn giá trọn gói 254.150.000 đồng, thời gian thuê 05 năm 05 tháng, thời gian nhận
căn hộ là ngày 26/4/2020, phương thức thanh toán bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản
vào số cá nhân của bà Lương Anh T. Sau khi ký hợp đồng thuê tài sản, ông Trần Mạnh
Q đã nộp cho Công ty Đ 4 đợt theo đúng tiến độ của hợp đồng với tổng số tiền
228.735.000 đồng nhưng Công ty Đ không bàn giao căn hộ theo thời hạn quy định của
hợp đồng. Sau nhiều lần ông Q yêu cầu nhưng Công ty Đ vẫn không thực hiện bàn giao
căn hộ và hứa hẹn trả lại tiền thuê, tuy nhiên không thực hiện. Qua xem xét tại địa chỉ
K152/1C Phan Thanh, phường Thạc Gián, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, ông
Q phát hiện Công ty Đ không tiến hành xây dựng dự án Căn hộ tiện ích 3 nên không
thể có căn hộ để bàn giao cho ông như thỏa thuận trong hợp đồng đã ký kết. Vì vậy ông
Trần Mạnh Q khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân quận Thanh Khê buộc Công ty TNHH
MTV Đ phải thanh lý, chấm dứt hợp đồng thuê căn hộ và hoàn trả số tiền gốc, tiền lãi
theo điều 9 mục 1.8 của hợp đồng cụ thể: Tiền gốc thuê căn hộ đã nộp 4 đợt cho Công
ty TNHH MTV Đ là 228.735.000 đồng. Tiền lãi tính từ ngày 11/10/2019 đến ngày
19/4/2023 là 85.100.000 đồng. Tổng cộng 313.835.000 đồng và tiếp tục tính lãi đến khi
Tòa án xét xử.
Tại phiên tòa, ông Trần Mạnh Q thay đổi yêu cầu khởi kiện đối với số tiền lãi,
đề nghị Hội đồng xét xử: Chấm dứt Hợp đồng thuê quyền sử dụng căn hộ có thời hạn
số 014/2020/HĐTPT/ĐGV ngày 11/3/2020; buộc Công ty TNHH MTV Đ phải thanh
toán cho ông Trần Mạnh Q tổng số tiền 307.209.900 đồng (Ba trăm lẽ bảy triệu hai
trăm lẽ chín ngàn chín trăm đồng), trong đó số tiền nợ gốc là 228.735.000 đồng và tiền
nợ lãi tính từ ngày 13/7/2020 đến ngày xét xử sở thẩm (ngày 25/8/2023) là 78.474.900
đồng.
* Bị đơn – Công ty TNHH MTV Đ: Tòa án đã triệu tập hợp lệ để tham gia các
phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải cũng như tham
gia tố tụng tại phiên tòa nhưng Công ty vắng mặt không có lý do cũng không có văn
bản trình bày ý kiến. Tại phiên tòa, Công ty vẫn vắng mặt lần hai, không có lý do.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Lương Quang T: Tòa án đã triệu
tập hợp lệ để tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
cứ, hòa giải cũng như tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng ông Tùng vắng mặt không
có lý do cũng không có văn bản trình bày ý kiến. Tại phiên tòa, ông Tùng vẫn vắng mặt
lần hai, không có lý do.
* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê phát
biểu:
- Về tố tụng: Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn theo quy
định tại Điều 48; đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân
sự trong quá trình giải quyết vụ án. Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền
hạn theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng
3
các nguyên tắc xét xử, đảm bảo đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa
vụ. Nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ
quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn và
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án tống đạt hợp lệ vắng mặt không
có lý do. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị HĐXX tiến
hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 275, 278,
357, 422, 423, 425, 427 và Điều 468 Bộ luật Dân sự đề nghị HĐXX giải quyết theo
hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Mạnh Q đối với
bị đơn Công ty TNHH MTV Đ.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí dân sự có giá ngạch khi yêu
cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa
và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa, ông Trần Mạnh Q yêu cầu Chấm dứt Hợp đồng
thuê quyền sử dụng căn hộ có thời hạn số 014/2020/HĐTPT/ĐGV ngày 11/3/2020;
buộc Công ty TNHH MTV Đ phải thanh toán cho ông Trần Mạnh Q tổng số tiền
307.209.900 đồng (Ba trăm lẽ bảy triệu hai trăm lẽ chín ngàn chín trăm đồng), trong đó
số tiền nợ gốc là 228.735.000 đồng và tiền nợ lãi tính từ ngày 13/7/2020 đến ngày xét
xử sở thẩm (ngày 25/8/2023) là 78.474.900 đồng. Do Công ty hiện đang có trụ sở tại
K104/6 Lê Đình Lý, phường Vĩnh Trung, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng nên vụ
án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê là phù hợp
với quy định tại Điều 26, 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải
quyết vụ án, mặc dù đã được cấp tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn và
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ
luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Về quan hệ tranh chấp: Hội đồng xét xử xác định, tranh chấp giữa ông Trần Mạnh
Q và Công ty TNHH MTV Đ là Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản được quy định tại
các Điều 274, 275, 278, 422, 472 Bộ luật dân sự và khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng
dân sự.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc chấm dứt Hợp
đồng thuê quyền sử dụng căn hộ có thời hạn số 014/2020/HĐTPT/ĐGV ngày 11/3/2020
và yêu cầu Công ty TNHH MTV Đ phải trả số tiền 307.209.900 đồng, trong đó nợ gốc
là 228.735.000 đồng và nợ lãi tính từ ngày 13/7/2020 đến ngày xét xử (ngày 25.8.2023)
là 78.474.900 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Ngày 11/10/2019, Công ty TNHH Đ (sau đây gọi tắt là Công ty Đ) và ông Trần
Mạnh Q ký kết hợp đồng đặt cọc số: 014/2019/HĐĐCPT/ĐGV về việc ông Q đặt cọc
số tiền 76.245.000đ nhằm mục đích Công ty Đ cho ông Trần Mạnh Q thuê căn hộ thuộc
4
dự án Căn hộ tiện ích 3 tại địa chỉ K152/1C Phan Thanh, phường Thạc Gián, quận
Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Đến ngày 11/3/2020, giữa hai bên tiếp tục ký Hợp
đồng thuê quyền sử dụng căn hộ với nội dung: Công ty Đ cho ông Trần Mạnh Q thuê
căn hộ số B601 tại địa chỉ K152/1C Phan Thanh, phường Thạc Gián, quận Thanh Khê,
thành phố Đà Nẵng, có diện tích sử dụng 37,85m
2
với đơn giá trọn gói 254.150.000
đồng, thời gian thuê 05 năm 05 tháng, thời gian nhận căn hộ là ngày 26/4/2020, phương
thức thanh toán bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản vào số cá nhân của bà Lương Anh T.
Sau khí ký kết hợp đồng, ông Q đã giao đủ số tiền 228.735.000 đồng theo đúng cam
kết tại phụ lục số 01 của hợp đồng cho công ty Đ. Tuy nhiên, quá trình thực hiện hợp
đồng, phía Công ty TNHH MTV Đ đã không thực hiện đúng các thỏa thuận tại Điều 2
của hợp đồng “Thuê quyền sử dụng căn hộ có thời hạn” và mục 3.1.2 của hợp đồng đặt
cọc, cụ thể: Công ty TNHH MTV Đ không tiến hành xây dựng dự án căn hộ tiện ích 3
nên không thể bàn giao căn hộ số B601-K152/1C Phan Thanh, Phường Thạc Gián, quận
Thanh Khê, Tp Đà Nẵng cho ông Trần Mạnh Q được. Như vậy, lỗi dẫn đến các bên
không thực hiện được thỏa thuận trong hợp đồng là lỗi hoàn toàn xuất phát từ ý chí chủ
quan của bị đơn - Công ty Đ; đối với ông Q đã thực hiện đúng các cam kết trong hợp
đồng nên không có lỗi. Vì vậy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc Hợp đồng
thuê quyền sử dụng căn hộ có thời hạn số 014/2020/HĐTPT/ĐGV ngày 11/3/2020 là
phù hợp, do đó căn cứ khoản 4 Điều 422, điểm b khoản 1 Điều 423 và Điều 425 Bộ
luật dân sự cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấm dứt Hợp đồng thuê
quyền sử dụng căn hộ có thời hạn số 014/2020/HĐTPT/ĐGV ngày 11/3/2020 được ký
giữa ông Trần Mạnh Q và Công ty TNHH MTV Đ. Thời điểm chấm dứt hợp đồng được
xác định là ngày kết thúc thời hạn bàn giao căn hộ theo quy định của hợp đồng ngày
12/7/2020.
Đối với yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả số tiền nợ gốc 228.735.000
đồng: Do hợp xác định hợp đồng bị hủy bỏ và chấm dứt từ ngày 12/7/2020 nên Công
ty Đ phải có trách nhiệm hoàn trả lại số tiền 228.735.000 đồng cho ông Trần Mạnh Q.
Vì vậy căn cứ quy định tại điểm 1.8 khoản 1, Điều 9 của Hợp đồng thuê căn hộ và các
Điều 280, 425, 427 của Bộ luật dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của ông Trần Mạnh Q, xử buộc Công ty TNHH MTV Đ phải trả cho ông
Q số tiền nợ gốc 228.735.000 đồng là có cơ sở, đúng pháp luật.
Xét yêu cầu của ông Q về việc buộc Công ty TNHH MTV Đ thanh toán số tiền
lãi chậm thanh toán từ ngày 13/7/2020 đến ngày tòa án xét xử sơ thẩm (ngày 25/8/2023)
thì thấy: Do Công ty TNHH MTV Đ vi phạm nghĩa vụ trả tiền nên đã phát sinh lãi chậm
thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự. Tại phiên toà
đại diện uỷ quyền của ông Q yêu cầu Công ty TNHH MTV Đ phải chịu tiền lãi mức lãi
suất là 11%/năm kể từ ngày 13/7/2020 (sau thời điểm chấm dứt hợp đồng) đến ngày
xét xử sở thẩm ngày 25/8/2023 trên số dư nợ gốc 228.735.000 đồng tương đương số
tiền 78.474.900 đồng là có cơ sở, phù hợp quy định tại điểm 1.8 khoản 1, Điều 9 của
Hợp đồng thuê căn hộ và quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự nên
cần được chấp nhận.
5
[3] Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn
Công ty TNHH MTV Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều
26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án, cụ thể Công ty phải chịu: 307.209.900 đồng x 5% = 15.360.000
đồng.
[4] Theo những nhận định như trên Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của
đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227; Các Điều 235 và 273 Bộ
luật Tố tụng dân sự; Các Điều 274, 275, 278, 280, 357, 422, 423, 425, 427 và Điều 468
Bộ luật dân sự; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30
tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Mạnh Q đối
với bị đơn Công ty TNHH MTV Đ về việc "Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản":
- Chấm dứt Hợp đồng thuê quyền sử dụng căn hộ có thời hạn số
014/2020/HĐTPT/ĐGV ngày 11/3/2020 giữa ông Trần Mạnh Q và Công ty TNHH
MTV Đ. Thời điểm chấm dứt hợp đồng được xác định là ngày 12/7/2020.
- Buộc Công ty TNHH MTV Đ phải thanh toán cho ông Trần Mạnh Q tổng số
tiền 307.209.900 đồng (Ba trăm lẽ bảy triệu hai trăm lẽ chín ngàn chín trăm đồng),
trong đó số tiền nợ gốc là 228.735.000 đồng và tiền nợ lãi tính từ ngày 13/7/2020 đến
ngày xét xử sở thẩm ngày 25/8/2023 là 78.474.900 đồng.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có
đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong
tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền
lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều
468 Bộ luật dân sự.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn Công ty TNHH MTV Đ phải chịu số tiền
15.360.000 đồng (Mười lăm triệu ba trăm sáu mươi ngàn đồng).
Hoàn trả lại cho nguyên đơn ông Trần Mạnh Q số tiền tạm ứng án phí đã nộp là
11.217.600 đồng theo biên lai thu số 0008659 ngày 19.12.2022 tại Chi cục thi hành án
dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
3. Nguyên đơn có tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngàykể từ
ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn
15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành
án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền

6
thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
chế thi hành theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hạn thi
hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND Q.Thanh Khê;
- TAND TP Đà Nẵng;
- Chi cục thi hành án dân sự
Quận Thanh Khê ;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
TRẦN VĂN HẬU
7
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng