Bản án số 578/2020/HCPT ngày 21/12/2020 của TAND cấp cao tại TP.HCM

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 578/2020/HCPT

Tên Bản án: Bản án số 578/2020/HCPT ngày 21/12/2020 của TAND cấp cao tại TP.HCM
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND cấp cao tại TP.HCM
Số hiệu: 578/2020/HCPT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/12/2020
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chtọa phiêna: Ông Nguyễn Văn Tửu.
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Huyền Vân.
Ông Vũ Ngọc Huynh.
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Mỹ Dung - Thư Tòa án nhân dân
Cấp cao tại Thành phố Hồ C Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Ông Thanh Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2020, tại phòng xét xử số 5 trụ sở Tòa án nhân dân
cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành
chính thụ số: 455/2019/TLPT-HC ngày 21 tháng 8 năm 2020; vviệc khiếu
kiện quyết định hành chính. Do bản án hành chính thẩm s 677/2020/HC-ST
ngày 01 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị
kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 3918/2020/QĐPT-HC
ngày 23 tháng 10 năm 2020, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện:Hồ Thị H, sinh năm 1944.
Địa chỉ: T8, p 2, HP, huyn CH, Thành phố HChí Minh.
Ni đại din theo ủy quyền của ni khởi kin: Ông Quản Đức Ng (Qun
Thanh T), sinh m 1955 (có mt).
Địa ch: 9A đưng s 10, Pờng 15, quận GV, Tnh ph HC Minh.
Địa chỉ liên hệ: 69A, đường số 4, khu phố 3, phường LX, quận , Thành
phố Hồ Chí Minh.
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện CH, Thành ph H Chí Minh.
Đa ch: Khu ph7, thtrn CH, huyn CH, Thành phH Chí Minh.
Ni đại din theo ủy quyền của người bị kiện: Ông Nguyễn Việt D P
Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện CH, Thành ph H Chí Minh (có yêu cầu tiến
hành tố tụng vắng mặt).
TÒA ÁN NHÂN DÂN CÂP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 758/2020/HC-PT
Ngày 21- 12 - 2020
V/v “Khiếu kiện quyết định hành
chính.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - hạnh phúc
2
Đa ch: Khu ph7, thtrn CH, huyn CH, Thành ph H Chí Minh.
Ngưi bo v quyền và lợi ích hp pp ca người bị kiện:
1. Ông Bùi Tiến Đ Phó Trưởng Ban bồi thường giải phóng mặt bằng
huyện CH, Tnh ph H Chí Minh (có mt).
Đa ch tng trú: p PL, PT, huyn CH, Thành ph H Chí Minh.
2. Ông Phạm Văn M Chuyên viên Ban bồi thường giải phóng mặt bằng
huyện CH, Tnh ph H Chí Minh (có mt).
Đa ch thưng trú: p Ch, xã PT, huyn CH, Thành ph H Chí Minh.
- Ngưi có quyn lợi, nghĩa v ln quan:
1. Ông Trn Quan Đ1, sinh năm 1968 (có yêu cu tiến hành t tng vng mt).
2. Bà Trn Th Ngc H1, sinh năm 1972 (có yêu cu tiến hành t tng vng mt).
3. Trần Thị S, sinh năm 1976 (có yêu cu tiến nh t tng vng mt).
Cùng địa chỉ:p 2, HP, huyện CH, Tnh ph H Chí Minh.
- Người kháng cáo: Ông Quản Đức Ng là người đại diện hợp pháp của
người khởi kiện.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, qtrình giải quyết vụ án ông Quản Đức Ng người
đại diện theo ủy quyền của bà Hồ Thị H trình bày:
Phần đất có diện tích đất 3.405m
2
tọa lạc tại HP, huyện CH, Thành phố
Hồ Chí Minh, mục đích sdụng đất: lúa, màu, thuộc thửa đất số 43, 314 tờ bản
đồ số 2 thửa đất số 776 tờ bản đồ số 3, theo tài liệu bản đồ 02/CT-UB, bộ địa
chính HP, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dung đất số 418/QĐ-
UB/QSDĐ/298/GCN do Ủy ban nhân dân (gọi tắt UBND) huyện CH cấp
ngày 29/3/2001 cho bà Hồ Thị H.
Trong dự án đầu xây dựng Khu công nghiệp Đông Nam CH tại xã BM
và xã HP, huyện CH, Hồ Thị H bị ảnh hưởng diện tích 2.931,7m
2
, thuộc thửa
đất số 43, 314, tờ bản đồ số 2 (theo tài liệu bản đồ 02/CT-UB); theo tài liệu đo
đạc năm 2003 ảnh hưởng một phần thửa đất số 129, 202, tờ bản đồ số 29.
Ngày 13/5/2010, Ủy ban nhân dân huyện CH ban hành Quyết số
4899/QĐ-UBND (gọi tắt là 4899) về bồi thường, hỗ trợ thiệt hại khi Nhà
nước thu hồi đất trong dự án nêu trên cho hộ bà Hồ Thị H.
Ngày 20/11/2017, H nhận được 4899 ngày 13/5/2010 của UBND
huyện CH ng với tiền đền các giấy tờ liên quan đến đền nhưng
chưa được nhận quyết định thu hồi đất.
UBND huyện CH đã áp giá đền không đúng quy định của pháp luật,
đền cho bà H vào tháng 11/2017 nhưng lại áp giá đền của năm 2005, cụ
thể:
3
- Giá đất bồi thường về đất 94.000 đồng/m
2
, trong khi gthực tế tại
thời điểm năm 2010 là 1.000.000 đồng /m
2
;
- Bồi thường cây tràm trên đất: 3.000 đồng/cây, trong khi giá thực tế
40.000 đồng/ cây;
- Bồi thường 975m
2
cỏ dưỡng với giá 3.000 đồng/m
2
trong khi giá thực tế
là 20.000 đồng/m
2
Như vậy, gđền không phợp với giá trị thực tế trên thị trường tại
thời điểm đền bù, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích kinh tế của bà H.
Do vậy, H khởi kiện, yêu cầu Tòa án tuyên hủy số 4899/QĐ-
UBND ngày 13/5/2010 của UBND huyện CH về bồi thường, hỗ trợ thiệt hại khi
Nhà nước thu hồi đất trong dán đầu xây dựng Cụm công nghiệp khí TQ
tại xã BM - HP, huyện CH.
Người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện CH, Thành phố Hồ Chí Minh
Bản tường trình ngày 22/7/2019 như sau:
Hồ Thị H đã được UBND huyện CH cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số 418/QĐ-UB ngày 29/3/2001 với tổng diện tích 3.405m
2
, mục đích sử
dụng đất là lúa, u, thuộc thửa đất số 43, 314 tờ bản đồ số 2 và thửa đất số 776
tờ bản đồ số 3, theo tài liệu bản đồ 02/CT-UB, bộ địa chính HP.
Trong dự án đầu xây dựng Khu công nghiệp Đông Nam CH tại BM
và xã HP, huyện CH, Hồ Thị H bị ảnh hưởng diện tích 2.931,7m
2
, thuộc thửa
đất số 43, 314, tờ bản đồ số 2 (theo tài liệu bản đồ 02/CT-UB); theo tài liệu đo
đạc năm 2003 ảnh hưởng một phần thửa đất số 129, 202, tờ bản đồ số 29.
Ngày 23/9/2008, UBND huyện CH ban hành Quyết định số 12962/QĐ-
UBND (gọi tắt là 12962) về việc thu hồi đất bị ảnh hưởng bởi dự án nêu
trên đối với bà Hồ Thị H, thu hồi 2.931,7m
2
đất thuộc một phần thửa đất số 129,
202, tờ bản đồ s 29 (theo tài liệu đo đạc m 2003).
Ngày 13/5/2010, UBND huyện CH ban nh số 4899/QĐ-UBND về
việc bồi thường, hỗ trợ thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất trong dự án nêu trên cho
Hồ ThH với tổng số tiền: 413.011.992 đồng (Bốn trăm mười ba triệu, không
trămời một ngàn, chín trăm chín mươi hai đồng), gồm:
* Tiền bồi thường, hỗ trợ thiệt hại: 307.300.800 đồng, gồm:
- Đất trồng cây ng m: 2.931,7m
2
x 94.000 đồng/m
2
= 275.579.800 đồng.
- Cây cối, hoa màu: 23.721.000 đồng.
- Các chính sách hỗ trợ: 8.000.000 đồng.
b) Phần hỗ trợ thêm lãi suất ngân hàng (từ ngày 26/7/2007 đến ngày
30/6/2010) là: 105.711.192 đồng.
Ngày 20/11/2017, H đã nhận tiền bồi thường, hỗ tr đồng ý n giao
mặt bằng.
4
Nay Hồ Thị H khởi kiện tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
yêu cầu hủy số 4899/QĐ-UBND ngày 13/5/2010 của UBND huyện CH về
việc bồi thường, hỗ trợ thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất trong dự án nêu trên.
Quan điểm của UBND huyện CH giữ nguyên số 4899/QĐ-UBND ngày
13/5/2010 vì việc bồi thường, hỗ trợ đối với H đúng quy định đúng với
phương án đã được duyệt.
Ngưi có quyn lợi, nghĩa v liên quan là ông Trn Quan Đ1, bà Trn Thị Ngc
H1, bà Trn Thị S cùng có nội dung tnh y tại Bản tự khai như sau:
H diện tích đất là 2.931,7m
2
tọa lạc tại HP, huyện CH, Thành
phố Hồ Chí Minh (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 418/QĐ-
UB/QSDĐ/298/GCN do UBND huyện CH cấp ngày 29/3/2001) đã bNhà nước
thu hồi trong Dự án đầu tư xây dựng Khu công nghiệp Đông Nam CH (tên trước
đây là Cụm công nghiệp cơ khí TQ), tạiBM - HP, huyện CH. Tuy nhiên, việc
thu hồi đất thực hiện không đúng quy định vì các lý do sau đây:
Áp giá đền bù lỗi thời đến 12 năm sau nên sai với thực tế gây thiệt hại lớn
cho gia đình H. Cụ thể, đền vào tháng 11/2017 nhưng lại áp gđền
của năm 2005 (94.000đ/m
2
). Giá đền không phù hợp với giá trị thực tế trên
thị trường trong thời điểm đền bù, cụ thể:
Ngày 20/11/2017, H được mời lên Ban bồi thường giải phóng mặt
bằng huyện CH được nhận QĐ s 4899/QĐ-UBND ngày 13/5/2010 của
UBND huyện CH về việc bồi thường, hỗ trợ thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất.
Căn cứ điều 14 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính
phủ thì: Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng vào mục đích nào thì
được bồi thường bằng việc giao đất mới cùng mục đích sử dụng, nếu không
đất để bồi thường thì được bồi thường bằng gtrị quyền sử dụng đất tính
theo giá đất tại thời điểm quyết định thu hi đất...”
Như vậy số 4899/QĐ-UBND ngày 13/5/2010 của UBND huyện CH
đã bồi thường cho H với mức quá thấp so với thực tế, cụ thể: bồi thường
2.931,7m
2
đất chỉ với giá 94.000đ/ m
2
đất trong khi giá thực tế
1.000.000đ/m
2
(gấp 11 lần); 6.932 cây tràm giá 3.000đ/cây trong khi giá thực
tế 40.000đ/cây (gấp 13 lần); 975 m
2
cỏ dưỡng giá 3.000đ/ m
2
trong khi giá thực
tế 20.000đ/ m
2
(gấp 7 lần).
Do vậy, cùng yêu cầu như H yêu cầu Tòa án tuyên hủy số
4899/QĐ-UBND ngày 13/5/2010 của UBND huyện CH.
Tại bản án hành chính thẩm số 677/2020/HC-ST ngày 01 tháng 6 năm
2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định:
Áp dụng khoản 1 Điều 30; Điều 32; Điều 116; Điều 143; Điều 157, Điều
158; Điều 206 Luật T tụng hành chính;
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án; Xử:
5
Đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị H về
việc yêu cầu hủy: Quyết định số 4899/QĐ-UBND ngày 13/5/2010 của UBND
huyện CH, Thành phố Hồ Chí Minh về việc bồi thường, hỗ trợ thiệt hại khi n
nước thu hồi đất đối với bà H - do hết thời hiệu khởi kiện.
Ngoài ra, án thẩm còn quyết định về án phí hành chính thẩm
quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.
Ngày 10 tháng 6 năm 2020, Hồ Thị H do ông Quản Đức Ng làm đại
diện đơn kháng cáo bản án thẩm, do bản án thẩm trái ngược hoàn
toàn sự thật và bản chất của vụ án.
Yêu cầu Tòa phúc thẩm xét xử lại để đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp
của người khởi kiện.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:
- Người kháng cáo: Hồ Thị H do ông Quản Đức Ng đại diện, trình
bày: Vẫn ginguyên yêu cầu kháng cáo, H nhận Quyết định 4899/QĐ-
UBND ngày 13/5/2010 của UBND huyện CH vào ngày 20/11/2017, trong khi
trước đó không văn bản nào thể hiện H đã được nhận hoặc tống đạt Quyết
định 4899/QĐ-UBND hợp lệ, các văn bản vận động của Tổ công tác do UBND
huyện CH thực hiện đều không hợp lệ và tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay người
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của UBND huyện CH cũng thừa nhận đến ngày
20/11/2017 mới giao bản chính Quyết định 4899/QĐ-UBND ngày 13/5/2010 của
UBND huyện CH cho H nhận nên đây căn cứ để tính thời hiệu khởi kiện
như thế H khởi kiện Quyết định 4899/QĐ-UBND ngày 13/5/2010 ca
UBND huyện CH còn trong thời hiệu, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận
kháng cáo của bà H, hủy án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh,
phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án, từ khi thụ lý đến thời điểm hiện
nay thấy rằng Thẩm phán; Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã
chấp hành đúng quy định của Luật tố tụng hành chính, không có vi phạm.
Về nội dung: Kháng cáo của bà H là không có căn cứ, bởi: Chậm nhất đến
ngày 26/12/2014 thì H đã biết được Quyết định 4899/QĐ-UBND ngày
13/5/2010 của UBND huyện CH, về bồi thường khi bị thu hồi đất, do thời điểm
này H không chịu nhận giá đất bồi thường theo Quyết định 4899/QĐ-UBND
ngày 13/5/2010 của UBND huyện CH mà bà H đòi giá đất 500.000 đồng/m
2
mới
chịu giao đất, nên Tòa sơ thẩm quyết định đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi
kiện của H do hết thời hiệu khởi kiện căn cứ, đúng quy định của pháp
luật, tại cấp phúc thẩm không căn cứ nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử
không chấp nhận kháng cáo của bà H, giữ nguyên án sơ thẩm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của UBND huyện CH, trình bày:
Bảo lưu lời trình bày của người bị kiện tại cấp thẩm đã nêu trên. Do H đã
được vận động nhiều lần nên biết Quyết định 4899/QĐ-UBND ngày
6
13/5/2010 của UBND huyện CH chứ không phải không biết như người đại diện
H trình bày, nên đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của H, giữ
nguyên án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Tòa thẩm xét xngày 01 tháng 6 năm 2020 đến ngày 10 tháng 6
năm 2020 người khởi kiệnHồ Thị H do ông Quản Đức Ng đại diện hợp pháp
đơn kháng cáo nên kháng cáo của người khởi kiện hợp lệ được xem xét tại
cấp phúc thẩm theo quy định tại Điều 206 Luật tố tụng hành chính năm 2015;
ông Nguyễn Việt D người đại diện theo ủy quyền của ngưi bị kiện - y ban nn
dân huyện CH (có yêu cầu tiến hành ttụng vng mt). Ngưi quyền li, nghĩa
v liên quan là ông Trn Quan Đ1, bà Trn Th Ngc H1, bà Trn Th S có
yêu cu xét x vng mt, do đó, Tòa án tiến hành t xvng mt đương sự theo
Điều 225 Luật t tụng hành chính Tòa xét xử vắng mặt họ.
[2] Về thời hiệu khởi kiện:
Theo người khởi kiện Hồ Thị H ông Quản Đức Ng (Quản Thanh T)
đại diện theo ủy quyền trình bày thì ny 20/11/2017, bà H nhận được QĐ 4899
ngày 13/5/2010 (có biên bản giao nhận QĐ). Không đồng ý, nên H khiếu nại
đến Chủ tịch UBND huyện CH.
Ngày 21/3/2018, UBND huyện CH ban hành Thông báo số 3292/TB-
UBND ngày 21/3/2018 về việc không thụ giải quyết khiếu nại - gửi cho H
với nội dung: “Sau khi xem xét nội dung đơn khiếu nại, căn cứ Luật khiếu nại
năm 2011, đơn khiếu nại không đủ điều kiện thụ giải quyết. do: Thời hiệu
khiếu nại đã hết.” Do không đồng ý, nên ngày 11/4/2018, bà H đơn khởi
kiện đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh u cầu tuyên hủy
4899 ngày 13/5/2010 của UBND huyện CH, Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo người bkiện và người bảo vquyền, lợi ích hợp pháp của người
bị kiện tsau khi ban hành quyết định thu hồi đất quyết định bồi thường
cho bà H, ngày 17/5/2010 UBND huyện CH mời bà H cùng 01 shn
đến nhận quyết định bồi thường, thu hồi đất, tuy nhiên bà H và 01 số hộ
dân không đồng ý nhận QĐ và tự ý bỏ về, không ký tên vào biên bản.
- Tại biên bản vận động hộ dân nhận tiền bồi thường, hỗ trợ thiệt hại và
bàn giao mặt bằng trong Dự án Khu công nghiệp Đông Nam CH, tại HP và
BM, huyện CH, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 09/12/2014 (BL215,
216) đối với Hồ Thị H thể hiện ý kiến tổ công c: “...yêu cầu hộ H nhận
s12962 ngày 23/9/2008 vviệc thu hồi đất ....yêu cầu nhận bồi
thường số 4899 ngày 13/5/2010”.
Ý kiến của H đề nghị bồi thường mức giá 500.000 đồng/m
2
.
- Tại biên bản vận động hộ dân nhận tiền bồi thường, hỗ trợ thiệt hại và
bàn giao mặt bằng trong Dự án Khu công nghiệp Đông Nam CH, tại HP và
BM, huyện CH, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 12/12/2014 (BL 219,
220) đối với Hồ Thị H thể hiện ý kiến tổ công c: “...yêu cầu hộ H nhận
7
s12962 ngày 23/9/2008 vviệc thu hồi đất ....yêu cầu nhận bồi
thường số 4899 ngày 13/5/2010” .
Ý kiến của bà H: Gia đình đề nghị bồi thường mức giá 500.000 đồng/m
2
mới đồng ý nhận tiền bồi thường và giao đất cho chủ đầu tư.
- Tại biên bản vận động hộ dân nhận tiền bồi thường, hỗ trợ thiệt hại và
bàn giao mặt bằng trong Dự án Khu công nghiệp Đông Nam CH, tại HP và
BM, huyện CH, Thành phHồ Chí Minh vào ngày 26-12-2014 (BL 232,
233) đối với Hồ Thị H thể hiện ý kiến tổ công c: “...yêu cầu hộ H nhận
s12962 ngày 23/9/2008 vviệc thu hồi đất ....yêu cầu nhận bồi
thường số 4899 ngày 13/5/2010”.
Ý kiến của bà H: gia đình đề nghị được bồi thường với mức giá 500.000
đồng/m
2
mới đồng ý nhận tiền bồi thường và giao đất cho chủ đầu tư. Gia đình
H không đồng ý nhận thu hồi đất bồi thường của UBND huyện
CH về việc thu hồi đất trong Dự án KCN Đông Nam.
Theo người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người bị kiện thì năm
2017, H mới đồng ý nhận tiền bồi thường n giao mặt bằng theo qui
định của kho bạc Nhà nước, yêu cầu H xuất trình bồi thường 4899 để
được nhận tiền bồi thường nên H yêu cầu Ban bồi thường giao 4899 và
ngày 20/11/2017 Ban bồi thường đã lập biên bàn bàn giao bồi thường số
4899 cho H.
Căn cĐiểm a, khoản 2 Điều 116 của Luật tố tụng hành chính quy định
về thời hiệu khởi kiện: “01 năm ktừ ngày nhận được hoặc biết được hành
chính, hành vi hành chính, QĐ kỷ luật buộc thôi việc”.
Như trên đã nhận định, tại thời điểm năm 2010, 2014 thì H đã biết
được Quyết định số 4899/QĐ-UBND ngày 13/5/2010 của UBND huyện CH,
Thành phố Hồ Chí Minh về việc bồi thường, hỗ trợ thiệt hại khi nhà nước thu hồi
đất nhưng H không khiếu nại hoặc khởi kiện đến Tòa án đến ngày
11/4/2018 H mới có đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh để yêu cầu hủy số 4899/-UBND ngày 13/5/2010 của UBND
huyện CH. Do vậy, yêu cầu khởi kiện của bà H là đã hết thời hiệu khởi kiện.
Tại cấp phúc thẩm đại diện hợp pháp của người khởi kiện không cung
cấp chứng co mới, nên Hội đồng xét xử chấp nhận đnghị của Viện Kiểm
sát, bác kháng cáo của Hồ Thị H do ông Quản Đức Ng làm đại diện kháng
cáo, giữ nguyên ánthẩm.
[3] Về án phí hành chính phúc thẩm: Hồ Thị H người cao tuổi nên
căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, miễn án phí phúc thẩm cho
Hồ Thị H.
8
[4] Quyết định khác của án thẩm về án phí hành chính thẩm không
kháng cáo, kháng nghị hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng
cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 241; các Điều 116, 143, 206, 225 của Luật tố
tụng hành chính năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số
326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của HThị H do ông Quản Đức Ng
làm đại diện kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 677/2020/HC-ST ngày 01
tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân Thành phố H Chí Minh.
2. Đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị H về
việc yêu cầu hủy: Quyết định số 4899/QĐ-UBND ngày 13/5/2010 của UBND
huyện CH, Thành phố Hồ Chí Minh về việc bồi thường, hỗ trợ thiệt hại khi n
nước thu hồi đất đối với bà H - do hết thời hiệu khởi kiện.
3. Án phí hành chính phúc thẩm: Miễn án phí cho bà Hồ Thị H.
4. Quyết định khác của án sơ thẩm về án phí hành chính sơ thẩm không có
kháng o, kháng nghị hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TANDTC
- VKSNDCC tại TPHCM.
- TAND TP Hồ Chí Minh.
- VKSND TP Hồ Chí Minh.
- Cục TP Hồ Chí Minh.
- Các đương sự (3).
- Lưu HS (02) VP (3) 16b (án 09)
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Tửu
Tải về
Bản án số 578/2020/HCPT Bản án số 578/2020/HCPT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất