Bản án số 57/2023/DS-PT ngày 23/03/2023 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 57/2023/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 57/2023/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 57/2023/DS-PT ngày 23/03/2023 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng về tranh chấp về thừa kế tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về thừa kế tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND cấp cao tại Đà Nẵng |
| Số hiệu: | 57/2023/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 23/03/2023 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Đắc T; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2022/DS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 57/2023/DS-PT
Ngày: 23/3/2023
V/v: “Tranh chấp về thừa kế tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tào.
Các thẩm phán: - Ông Đặng Kim Nhân.
- Ông Trần Đức Kiên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Quang Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân
cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên
tòa: Ông Trần Viết Tuấn – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà
Nẵng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 248/2022/TLPT- DS
ngày 28 tháng 11 năm 2022 về: “Tranh chấp về thừa kế tài sản”. Do Bản án dân
sự sơ thẩm số 33/2022/DS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân
tỉnh Quảng Nam bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 805/2023/QĐ-PT ngày
03 tháng 3 năm 2023; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Đắc T, sinh năm 1964; địa chỉ: số 106 đường T1,
tổ 8, khối phố S, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Võ Kim
T2 - Văn phòng Luật sư K, Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ: 447A
đường L, Phường Y, Quận Y1, thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
- Bị đơn: ông Phạm Đắc N, sinh năm 1961; địa chỉ: số 106, đường H2,
khối T3, phường C1, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: ông Trần Văn L1, sinh năm
1972; địa chỉ: khối T3, phường C1, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
Địa chỉ: số 62, đường H2, thành phố T4, tỉnh Quảng Nam.
2
2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Th, sinh năm 1964, địa chỉ: số 106, đường H2,
khối T3, phường C1, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Th: ông Trần Văn L1, sinh năm 1972;
địa chỉ: khối T3, phường C1, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
3. Bà Phạm Thị N2, sinh năm 1968, địa chỉ: Tổ 08, khối S, phường C,
thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
4. Bà Phạm Thị Bích L2, sinh năm 1969; Vắng mặt.
5. Bà Phạm Thị B, sinh năm 1972; Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: thôn B1, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong quá trình tố tụng phía nguyên đơn trình bày: Năm 1984, vợ chồng
ông Phạm Nh (sinh năm 1935, chết năm 1995) và bà Nguyễn Thị G (sinh năm
1934, chết năm 2007) nhận chuyển nhượng thửa đất số 459, tờ bản đồ số 4, diện
tích 82m
2
(theo hồ sơ địa chính Chỉ thị 299/TTg là 60m
2
thuộc thửa T161, tờ
bản đồ số 01, tại Khối 1, phường C1, thị xã H) của ông Phan M và bà Hồ Thị
Ng, hai bên lập “Giấy nhượng lại hoa lợi và chỗ làm” ngày 03 tháng 7 năm
1988. Sau đó, diện tích đất này được ông Nh, bà G giao cho con là Phạm Đắc N
quản lý, sử dụng làm trại cơ khí sản xuất, kinh doanh cho đến nay. Năm 1998,
bà G và các con họp, phân chia nhà đất cha mẹ để lại và xác định “trại cơ khí kế
bên số 90 Đường H1 là tài sản cha mẹ để lại chia cho ông Phạm Đắc T và
Phạm Đắc N sản xuất, làm ăn, khi nào cần sẽ giải quyết sau”. Ông Nh và bà G
chết không để lại di chúc. Nguyên đơn khởi kiện, yêu cầu chia di sản của ông
Nh, bà G để lại là giá trị quyền sử dụng 79,5m
2
đất, thuộc một phần của thửa đất
số 459, tờ bản đồ số 4 (nay là thửa số 21, tờ bản đồ số 31), tại khối T3, phường
C1, thành phố H, tỉnh Quảng Nam cho các con ruột là: Phạm Đắc N, Phạm Đắc
T, Phạm Thị N2 và các con riêng của ông Phạm Nh là bà Phạm Thị Bích L2 và
bà Phạm Thị B. Nguyên đơn yêu cầu Tòa án hủy một phần Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đã cấp cho bị đơn đối với diện tích đất tranh chấp. Nguyên
đơn không yêu cầu giải quyết tài sản trên đất tranh chấp.
Trong quá trình tố tụng, phía bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn và cho rằng: Diện tích đất 79,5m
2
là một phần thửa đất số 459,
tờ bản đồ số 04 (nay là thửa số 21, tờ bản đồ số 31), tại khối T3, phường C1,
thành phố H, tỉnh Quảng Nam có nguồn gốc là mảnh đất Nh bên cạnh nhà ông
Phan M, đất không ai sử dụng. Năm 1986, ông đi bộ đội về và hỏi xin ông M để
làm lò rèn, ông M hướng dẫn làm đơn gửi đến phường C1 để xin. Ngày 15 tháng
7 năm 1987, ông làm đơn xin phép dựng lò rèn (có xác nhận của ông Phan M),
đến ngày 20 tháng 7 năm 1987 thì Ủy ban nhân dân phường C1 và Phòng Nhà
đất thị xã H xác nhận, cho phép. Tháng 8 năm 1987, khi thỏa thuận mua lại ngôi
nhà của ông Phan M (số 90 Đường H1) thì ông M đòi trả thêm công bồi trúc và
chuối cây bị chặt tại khu vực đất lò rèn nên đến ngày 05 tháng 7 năm 1988 ông

3
nhờ cha ruột là Phan Nh đứng ra thỏa thuận lập giấy nhượng hoa lợi trên mảnh
vườn 60m
2
(việc này được vợ ông M là bà Ng xác nhận). Quá trình sử dụng lò
rèn ổn định từ trước đến nay, ông N và vợ kê khai, đăng ký, thực hiện các thủ
tục liên quan đến đất đai qua các thời kỳ và được Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng
Nam cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 21, tờ bản đồ số 31, diện
tích 198,40m
2
vào năm 2001. Ông N thống nhất các thông tin mà nguyên đơn
đưa ra về năm sinh, năm chết, những người ở hàng thừa kế thứ nhất của ông Nh,
bà G và việc ông Nh, bà G chết không để lại di chúc.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có ý kiến như sau:
+ Bà Nguyễn Thị Ngọc Th thống nhất với quan điểm của bị đơn.
+ Các bà: Phạm Thị N2, Phạm Thị Bích L2, Phạm Thị B đồng ý yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn.
+ Đại diện Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam cho rằng: việc cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Phạm Đắc N đối với thửa đất số 21, tờ
bản đồ số 31 là đúng pháp luật nên không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về
hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất liên quan đến diện tích đất
tranh chấp.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2022/DS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2022
của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam đã quyết định:
Căn cứ các điều 26, 34, 37, 39, 92, 147, 157, 158, 165, 166, 217, 218 Bộ
luật Tố tụng dân sự 2015; khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính; các điều
634, 636, 637 Bộ luật Dân sự năm 1995; các điều 631,633, 634 Bộ luật Dân sự
2005; Điều 688 Bộ luật Dân sự 2015; khoản 3 Điều 18 Luật Đất đai năm 1987,
khoản 1 Điều 2, Điều 3, Điều 73, Điều 76 Luật Đất đai năm 1993, sửa đổi, bổ
sung năm 1998, 2001; Điều 50 Luật Đất đai năm 2003; các điều 100, 166, 203
Luật Đất đai năm 2013; Điều 10 Nghị định 30/HĐBT ngày 23 tháng 3 năm 1989
hướng dẫn Luật Đất đai năm 1987; Nghị định số 43/2014/NĐ - CP ngày 15
tháng 5 năm 2014 của Chính phủ; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phạm Đắc T về
việc chia di sản thửa kế của ông Phạm Nh và bà Nguyễn Thị G để lại là quyền
sử dụng 79,5m
2
đất, thuộc một phần thửa đất số 21, tờ bản đồ số 31, diện tích
198,4m
2
, tại khối T3, phường C1, thành phố H, tỉnh Quảng Nam (diện tích, tứ
cận thửa đất và phần đất tranh chấp được thể hiện tại bản vẽ kèm theo bản án).
2. Không có cơ sở để hủy Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền
sử dụng đất do Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam cấp cho ông Phạm Đắc N, bà
Nguyễn Thị Ngọc Th ngày 28 tháng 9 năm 2001 đối với thửa đất số 21, tờ bản
đồ số 31, diện tích 198,4m
2
, tại khối T3, phường C1, thành phố H, tỉnh Quảng
Nam.
4
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần án phí, chi phí tố tụng và
công bố quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 30/8/2022, ông Phạm Đắc T kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa
phúc thẩm sửa án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng phát
biểu quan điểm về giải quyết vụ án:
- Về việc chấp hành pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và
người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân
sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của
ông Phạm Đắc T; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được xem xét
tại phiên tòa và kết quả tranh luận; Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Xét kháng cáo của ông Phạm Đắc T; nhận thấy:
[1.1]. Về nguồn gốc diện tích đất tranh chấp:
- Tại Vi bằng lập ngày 06/9/2021 (BL 84-84) và tại Bản trình bày ý kiến
ngày 07/9/2021 (BL 86-88) bà Hồ Thị Ng (vợ ông Phan M) xác định: Trước
năm 1984, vợ chồng tôi là chủ sử dụng, sở hữu đối với thửa đất và ngôi nhà tại
số 90 đường H1, C1, H. Bên cạnh thửa đất và ngôi nhà của chúng tôi có một
mảnh đất hoang do nhà nước quản lý. Vào năm 1984, tôi có làm đơn xin cấp
giấy miếng đất này, khoảng 60m
2
. Ngày 26/6/1984, vợ chồng tôi được UBND thị
xã H cấp Sơ đồ chỉ dẫn địa điểm cấp đất làm nhà đối với mảnh đất hoang nói
trên. Trong nội dung Sơ đồ chỉ dẫn có nêu rõ nếu quá 6 tháng mà không sử
dụng thì địa phương sẽ thu hồi. Tuy nhiên sau 6 tháng vợ chồng tôi vẫn chưa sử
dụng nên đã giao trả lại cho nhà nước quản lý, vợ chồng tôi không liên quan gì
đến diện tích đất hoang trên.
Như vậy có căn cứ xác định diện tích đất 79,5m
2
thuộc một phần thửa số 21,
tờ bản đồ số 31, tại phường C1, H là diện tích đất độc lập, thuộc quyền quản lý
của nhà nước (vì lý do vợ chồng ông M, bà Ng không sử dụng theo Sơ đồ chỉ dẫn
địa điểm cấp đất làm nhà của UBND thị xã H cấp) và không nằm trong thửa nhà
đất số số 90 đường H1 của vợ chồng ông Phạm M, bà Hồ Thị Ng, sau đó vào
năm 1990 chuyển nhượng cho vợ chồng ông Phạm Đắc N.
[1.2]. Quá trình sử dụng diện tích đất tranh chấp:
- Ngày 15 tháng 7 năm 1987, ông N làm đơn xin phép dựng lò rèn (có xác
nhận của ông Phan M đồng ý cho ông N xây dựng trại làm lò rèn) và ngày 20
tháng 7 năm 1987 được Ủy ban nhân dân phường C1 và Phòng Nhà đất thị xã H
xác nhận, cho phép; trong đó có quy định “khi nhà nước có yêu cầu giao để xây
dựng công trình, phải dỡ”.
5
- Ngày 03/7/1988, ông Phạm Nh, bà Nguyễn Thị G (cha mẹ của ông N, ông
T là bên mua) và vợ chồng ông Phan M, bà Hồ Thị Ng (là bên bán), lập Giấy
nhượng lại hoa lợi và chỗ làm; trong đó giá trị bồi trúc và trồng tỉa là 02 chỉ
vàng.
Tại thời điểm các bên lập “Giấy nhượng lại hoa lợi và chỗ làm” thì pháp
luật đất đai nghiêm cấm việc mua, bán…đất đai (Điều 5 của Luật Đất đai năm
1987 quy định: nghiêm cấm việc “mua, bán, lấn chiếm đất đai…dưới mọi hình
thức”). Mặt khác, diện tích đất này là do nhà nước quản lý, nên “Giấy nhượng
lại hoa lợi và chỗ làm” này không phải là chuyển nhượng quyền sử dụng đất,
nên vợ chồng ông Nh, bà G không được công nhận là có quyền sử dụng đất.
Ông Phạm Đắc N là người được Ủy ban nhân dân phường C1, Phòng Nhà
đất, xây dựng thị xã H cấp, cho phép sử dụng diện tích đất hiện nay tranh chấp
để làm lò rèn từ năm 1987; ông Phạm Nh, bà Nguyễn Thị G và các con không
tranh chấp và thừa nhận việc sử dụng đất của ông N; việc chuyển nhượng lại hoa
lợi và chỗ làm giữa vợ chồng ông Nh với vợ chồng ông M như đã nêu trên
không phải là chuyển quyền sử dụng đất hợp pháp.
Trong quá trình quản lý, sử dụng ông N thực hiện việc đăng ký, kê khai,
lập thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với đất tranh chấp của
ông Phạm Đắc N là đúng với quy định tại Điều 10 Nghị định 30/HĐBT ngày 23
tháng 3 năm 1989 hướng dẫn Luật Đất đai năm 1987. (Điều 10 quy định: Khi
người sử dụng đất chuyển, nhượng, bán nhà ở, vật kiến trúc khác, cây lâu năm
theo quy định tại khoản 2 điều 49 Luật đất đai thì Uỷ ban nhân dân huyện,
quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh xét để quyết định việc giao đất cho người
được nhận nhà ở, vật kiến trúc khác, cây lâu năm đó, nếu việc sử dụng đất đó
thực tế là hợp pháp và hợp lý).
[1.3]. Về “Biên bản họp gia đình” lập ngày 14 tháng 9 năm 1998, có chữ ký
của ông Phạm Đắc N để xác thực nội dung thỏa thuận “Về cái trại cơ khí kế bên
90 Đường H1 là tài sản của cha mẹ để lại cho N và T sản xuất làm ăn khi nào
cần thì giải quyết sau”. Tuy nhiên đến năm 2017, các đồng thừa kế của ông
Phạm Nh và bà Nguyễn Thị G gồm Phạm Đắc N, Phạm Đắc T, Phạm Thị N2 đã
lập biên bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế (BL 45 – 49), xác định di sản
do ông Nh và bà G để lại là 6 thửa đất tại khối phố S, phường C, thành phố H.
Tại Thông báo về việc thỏa thuận phân chia di sản thừa kế do Phòng Công
chứng HY lập ngày 06 tháng 7 năm 2017 (được Ủy ban nhân dân phường C
niêm yết công khai 15 ngày), Văn phòng Công chứng HY nêu rõ “Trong quá
trình niêm yết thông báo về việc khai nhận di sản thừa kế, nếu có khiếu nại, tố
cáo về việc bỏ sót, giấu giếm người được hưởng di sản thừa kế; bỏ sót di sản
thừa kế, ……thì Ủy ban nhân dân phường gửi khiếu nại, tố cáo đó cho Văn
phòng Công chứng HY để biết…” (BL 48).

6
Tại biên bản kết thúc việc niêm yết lập ngày 25 tháng 7 năm 2017 thể hiện
“…không nhận được thư khiếu nại hay tố cáo của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào
liên quan đến việc phân chia và đăng ký thừa kế đối với di sản do ông Phạm Nh
và bà Nguyễn Thị G đã chết để lại…” (BL 49). Mặt khác, ông T, bà N2 thừa
nhận: hiện nay 6 thửa đất trên đã lập xong thủ tục sang tên cho các đồng thừa kế
của ông Nh, bà G. Như vậy, từ năm 2017, ông T, bà N2 và các đồng thừa kế
khác của ông Nh, bà G thừa nhận di sản do ông Nh, bà G để lại là 6 thửa đất đã
niêm yết công khai, không bỏ sót di sản thừa kế nào khác, là mặc nhiên đã thừa
nhận việc ông N đã kê khai, đăng ký và được cấp GCNQSD đối với diện tích đất
79,5m
2
vào năm 2001.
Do đó, án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Đắc
T là có căn cứ, đúng pháp luật. Ông T kháng cáo nhưng không có tài liệu, chứng
cứ nào mới có thể làm thay đổi nội dung vụ án, nên không có căn cứ chấp nhận;
giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[2]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
[3]. Về án phí phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo nên ông Phạm
Đắc T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Đắc T; giữ nguyên Bản án
dân sự sơ thẩm số 33/2022/DS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân
dân tỉnh Quảng Nam.
2. Về án phí phúc thẩm: Ông Phạm Đắc T phải chịu 300.000 đồng án phí
dân sự phúc thẩm. Đã nộp đủ tại các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số
0000216 ngày 15/9/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Nam (do ông
Nguyễn Thành Chương nộp thay).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
- TAND tỉnh Quảng Nam;
- VKSND tỉnh Quảng Nam;
- Cục THADS tỉnh Quảng Nam;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu HSVA, P.HCTP, LT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Văn Tào
7
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 12/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 23/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 21/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 29/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 29/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 29/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 27/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 27/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 27/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 26/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 26/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 26/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 26/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 25/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 25/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm