Bản án số 57/2018/HS-ST ngày 06/04/2018 của TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 57/2018/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 57/2018/HS-ST ngày 06/04/2018 của TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Thái Bình (TAND tỉnh Thái Bình)
Số hiệu: 57/2018/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 06/04/2018
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH
Bản án số: 57/2018/HS-ST
Ngày 06 - 4 - 2018
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng Xuân Hậu.
2. Ông Vũ Tiến Thịnh.
- Thư phiên tòa: Mai Thị Quyên - Thư Tòa án nhân dân thành
phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái
Bình tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quang Dương – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 4 năm 2018 tại trụ sTòa án nhân dân thành phố Thái
Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sthẩm thụ số:
42/2018/TLST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số: 47/2018/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:
Văn K, sinh năm 1964 tại Thái Bình; nơi cư trú: thôn BS, xã V, thành
phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa
(học vấn): 07/10; n tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch:
Việt Nam; con ông Lê Văn M, sinh năm 1928 và bà Trịnh Thị T (đã chết); có vợ
Thị Th, có 2 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 1997; tiền án:
Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tháng 02 năm 1984 đến tháng 02 năm 1987
tham gia nghĩa vụ quân sự tại đơn vị khảo sát trắc địa Bộ XX; bị tạm giữ từ ngày
15 tháng 12 năm 2017 đến ngày 18 tháng 12 năm 2017 chuyển tạm giam cho
đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình; (có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Lê Thành Đ, sinh
năm 1984; Địa chỉ: Thôn ĐT, xã V1, huyện V2, tỉnh Thái Bình; (vắng mặt)
- Người làm chứng: Anh Bùi Công T, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn H,
V3, huyện V2, tỉnh Thái Bình; (vắng mặt)
2
- Người chứng kiến: Anh Văn T, sinh năm 1965; nơi trú: Thôn BS,
xã V, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 15 tháng 12 năm 2017, Văn K đi nhờ xe
của một người đàn ông không quen biết đến khu vực cầu Cống Trắng thuộc
phường Quang Trung, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình gặp mua của một
người đàn ông khoảng 40 tuổi, không quen biết, 900.000 đồng được 06 gói
hêrôin, mua xong K cất số ma túy trên vào túi áo khoác bên phải đang mặc với
mục đích để bán kiếm lời.
Khoảng 10 giờ cùng ngày, Bùi Công T đi xe máy Yamaha Jupiter, biển số
17B3 118.99 chở Lê Thành Đ đi chơi, khi đi đến trước nhà Lê Văn K, Đ bảo T
dừng xe đứng chờ ngoài cổng, còn Đ đi vào sân gặp và hỏi mua của K 200.000
đồng ma túy, K đồng ý, Đ đưa cho K 200.000 đồng, K nhận tiền rồi cất vào túi
áo bên phải đang mặc đồng thời lấy từ trong túi áo đưa cho Đ 01 gói ma túy, Đ
cầm gói ma túy giấu vào túi quần bên phải đang mặc, ngay lúc đó K Đ đã bị
tổ công tác Công an tỉnh Thái Bình phát hiện bắt quả tang, thu tại túi quần bên
phải Đ đang mặc 01 gói bên ngoài được gói bằng giấy tráng kim màu bạc, bên
trong chứa chất bột màu trắng dạng cục, Đ khai đó là hêrôin, Đ vừa mua của K
với giá 200.000 đồng, tổ công tác niêm phong đánh số ký hiệu M1; thu tại túi áo
khoác bên phải K đang mặc 01 điện thoại di động Nokia màu tím đen, 05 gói
nhỏ bên ngoài được gói bằng giấy tráng kim màu bạc, bên trong đều chứa chất
bột màu trắng dạng cục, K khai nhận đó là hêrôin, K mua mục đích để bán kiếm
lời, tổ công tác niêm phong đánh số ký hiệu M2 và số tiền 200.000 đồng, K khai
đó tiền vừa bán ma túy cho Đ có. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt
người phạm tội quả tang.
Cùng ngày, quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Bình tiến hành
khám xét khẩn cấp nơi của Văn K, qua khám xét quản lý 01 ống cóng thủy
tinh.
Tại Kết luận giám định số 487/KLGĐ- PC54 ngày 15 tháng 12 năm 2017
Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận:
- M1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Hêrôin), trọng lượng
0,0202 gam (không phẩy không nghìn hai trăm linh hai gam);
- M2 gửi giám định ma y, loại Heroine (Hêrôin), trọng lượng
0,4745 gam (không phẩy bốn nghìn bẩy trăm bốn mươi lăm gam).
3
Cáo trạng số 54/CT-VKSTP ngày 19 tháng 3 năm 2018 Viện kiểm sát
nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố ra trước Tòa án nhân dân
thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình để xét xử đối với Văn K về tội “Mua
bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự
năm 1999.
Tại phiên tòa, Văn K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nnội
dung bản Cáo trạng đã nêu; đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái
Bình, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Tội danh: Tuyên bố bo Văn K phm tội “Mua bán trái phép
chất ma y”.
2. Hình phạt: Áp dụng khoản 1, 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999;
điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 7, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự
2015 xử phạt bị cáo Văn K mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù, thời hạn
tính từ ngày tạm giữ; phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 07 triệu đồng.
3. Về xvật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015, Điều 106
Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015: Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) phong bên trong
chứa chất ma túy, bên ngoài ghi số 487/KL-PC54 mẫu vật hoàn trả sau giám
định, 01 ống cóng thủy tinh; tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 200.000 đồng;
trả lại Lê Văn K 01 điện thoại di động Nokia màu tím đen đã cũ.
4. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Văn K đồng ý với tội danh Viện kiểm sát nhân dân thành phố
Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã truy tố không ý kiến tranh luận đối với bản
luận tội của Kiểm sát viên.
Bị cáo Văn K nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xxem xét cho
bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở về với
gia đình, trở thành người công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án, n cvào các i liệu trong hồ sơ v án đã
được tranh tụng tại phn tòa, Hội đồng t x nhận định n sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong
quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ
tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá tnh điều tra tại phiên tòa,
những người tham gia tố tụng không ai ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi,
quyết định của quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các
hành vi, quyết định tố tụng của quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
4
[2] Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 15 tháng 12 năm 2017, tại thôn BS, xã
V, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, Văn K có hành vi bán trái phép
0,0202 gam ma y, loại hêrôin cho Thành Đ được stiền 200.000 đồng;
ngoài ra, Văn K còn tàng trữ trái phép trên người 0,4745 gam ma túy, loại
hêrôin, mục đích để bán kiếm lời. Nhận thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm
cho hội, không chỉ xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản chất
gây nghiện của nnước, n gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an
toàn hội, đi ngược lại với cuộc đấu tranh bài trừ tệ nạn ma túy của nnước.
Bản thân bị cáo đủ năng lực trách nhiệm nh sự, nhận thức được tính chất,
mức độ hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng hám lời nên bị cáo
vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm
nay bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù
hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng,
kết luận giám định, lời khai của người quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ
án, lời khai của những người chứng kiến, người làm chứng phù hợp với các
tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Hành vi của Lê Văn K đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma
túy”, tội phạm nh phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự
1999.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định
tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Qtrình điều tra tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối
cải, bị cáo thời gian tham gia trong quân đội, do đó bị cáo được hưởng tình
tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều
51 Bộ luật hình sự 2015.
[4] Căn cứ tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bcáo, Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo với
mức án nghiêm khắc, ch ly ra khỏi đời sống hội một thời gian đcải tạo,
giáo dục bị cáo p phần đấu tranh phòng ngừa chung, nhất trong bối
cảnh hiện nay tội phạm ma túy có chiều hướng gia tăng và ngày càng phức tạp.
[5] Bcáo có hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy để bán kiếm
lời nên cần áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo theo quy định
tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự 1999.
[6] Về xử lý vật chứng:
Theo quy định tại Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 Điều 106 Bộ
luật tố tụng Hình sự năm 2015, số ma túy thu gitrong vụ án còn lại sau giám
5
định vật thuộc loại nnước cấm tàng trữ, mua bán 01 ống cóng thủy tinh
là công cụ để sử dụng ma túy đá, nên cần tịch thu tiêu hủy; số tiền 200.000 đồng
quản lý của bị cáo là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung ngân sách nhà
nước; 01 điện thoại di động Nokia màu tím đen đã quản của Văn K
không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo.
[7] Về các vấn đề khác:
Về nguồn gốc số ma túy, Văn K khai mua của một người đàn ông
không quen biết tại khu vực cầu Cống Trắng thuộc phường Quang Trung, thành
phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình nên quan điều tra không có căn cứ để điều tra,
xử lý.
Lê Thành Đ có hành vi mua 0,0202 gam Hêrôin của Lê Văn K để sử dụng
cho bản thân nhưng trọng lượng ma túy chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình
sự, ngày 18 tháng 12 năm 2017 phòng Cảnh t điều tra tội phạm về ma túy
Công an tỉnh Thái Bình đã ra quyết định xử vi phạm hành chính bằng hình
thức cảnh cáo là đúng pháp luật.
Anh Bùi Công T là bạn của Lê Thành Đ, ngày 15 tháng 12 năm 2017 Đ rủ
T đi chơi, khi anh T chở Đ đến nhà Văn K, anh T không biết việc Đ đến nhà
K để mua ma túy nên cơ quan điều tra không xử lý là đúng pháp luật.
[8] Về án phí: Bị cáo Lê Văn K phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy
định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bcáo Văn K người quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan đến vụ án Thành Đ quyền kháng cáo đối với bản án trong
thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ
sung năm 2009); điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 7, Điều 38, Điều 46;
Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 136; Điều
331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH 14 quy định vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. V tội danh: B cáo Lê Văn K phạm ti “Mua bán trái pp chất ma
túy”.
2. Về hình phạt:
2.1 Xphạt bị cáo Văn K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn
chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15 tháng 12 năm 2017.
6
2.2 Phạt tiền bị cáo Văn K 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) để sung
vào ngân sách nhà nước.
3. V xử lý vật chứng:
3.1 Tịch thu toàn bsố ma túy hoàn tr sau giám định được niêm phong
trong 02 phong n ngi đều ghi số 487/KLGĐ-PC54 của Png k thutnh
sự Công an tỉnh Thái Bình và 01 ng cóng thủy tinh đtiêu hy.
3.2 Tịch thu số tiền 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) do bị cáo Văn
K thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội mà có để sung vào ngân sách nhà nước.
3.3 Trả lại bị cáo Văn K 01 (một) điện thoại di động Nokia màu tím
đen đã cũ.
(Các vật chứng trên đặc điểm tả như trong Biên bản giao nhận vật
chứng đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình,
tỉnh Thái Bình ngày 19 tháng 3 năm 2018).
4. Về án phí: Bị cáo Văn K phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn
đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Văn K quyền kháng cáo bản án
trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 06 tháng 4 năm 2018). Người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Thành Đ vắng mặt tại phiên tòa
có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều
2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a 9
Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Bị cáo và những người tham gia tố
tụng khác;
- Viện kiểm sát nhân dân TPTB;
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh TB;
- Cơ quan điều tra và Cơ quan Thi hành
án hình sự Công an TPTB;
- Chi cục Thi hành án dân sự TPTB;
- Nhà tạm giữ Công an TPTB;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thùy Dƣơng
7
Tải về
Bản án số 57/2018/HS-ST Bản án số 57/2018/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất