Bản án số 56/2022/HNGĐ-ST ngày 13/10/2022 của TAND tỉnh Quảng Bình về vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 56/2022/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 56/2022/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 56/2022/HNGĐ-ST ngày 13/10/2022 của TAND tỉnh Quảng Bình về vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Quảng Bình |
| Số hiệu: | 56/2022/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 13/10/2022 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Chị A xin ly hôn anh H |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG BÌNH
Bản án số: 56/2022/HNGĐ-ST
Ngày 13 - 10 - 2022
“V/v: Ly hôn”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Xuân Mâu và ông Nguyễn Xuân Thí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 10 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình mở
phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số
66/2021/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2021 về việc “Ly hôn” theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số: 2028/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 31 tháng 8 năm 2022,
Quyết định hoãn phiên tòa số: 2085/2022/QDDST-HNGĐ ngày 13/9/2022, giữa các
đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1984
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chổ ở: Thôn T, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình.
Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Phan Văn H, sinh năm 1982
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh: Tổ dân phố G, phường H,
thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình.
Địa chỉ cư trú hiện nay: Yeong J, 285- 5, song pyeong-dong Jiriu-si, G sang nam-
do 660 -340, Republic of K, Hàn Quốc. Vắng mặt.
Thân nhân của anh Phan Văn H: Ông Phan Văn T, sinh năm 1959 (bố đẻ anh
H); Địa chỉ: Tổ dân phố G, phường H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, có đơn xin xét
xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn đề ngày 30/11/2021, bản tự khai và tại
phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim A trình bày:
Chị Nguyễn Thị Kim A và anh Phan Văn H yêu nhau tự nguyện, tháng 11 năm
2005 anh H tự làm thủ tục đi xuất xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc. Năm 2007 anh

H về lại Việt Nam, chị và anh H đã đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thành phố
Đ, tỉnh Quảng Bình vào ngày 01/6/2007. Sau khi kết hôn vợ chồng về sống chung
với gia đình bố mẹ chồng được một thời gian thì anh H tiếp tục đi xuất khẩu lao động
tại Hàn Quốc cho đến nay. Thời gian đầu anh H mới sang Hàn Quốc, anh thường
xuyên điện thoại về thăm hỏi động viên chị, vợ chồng vẫn thương yêu nhau. Đến
năm 2009 chị biết tin anh H đã có quan hệ tình cảm với một người phụ nữ khác ở
bên Hàn Quốc nên vợ chồng xãy ra mâu thuẫn, mỗi lần anh H gọi điện thoại về cho
chị thì vợ chồng cãi nhau nên chị đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở từ đó cho đến nay. Từ năm
2009 đến nay anh H không còn quan tâm đến chị, không liên lạc về cho chị nữa.
Mặc dù, hai gia đình nội ngoại khuyên bảo nhưng vẫn không có kết quả gì. Nay chị
thấy tình cảm vợ chồng không còn, hiện tại vợ chồng mỗi người sống mỗi nơi, mục
đích hôn nhân không đạt được, hai bên không quan tâm đến nhau nữa, mâu thuẫn vợ
chồng đã trầm trọng nên chị xin được ly hôn anh Phan Văn H.
Về con chung: Vợ chồng không có con chung.
Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Toà
án giải quyết.
- Bị đơn anh Phan Văn H hiện đang cư trú tại Hàn Quốc: Tại thời điểm anh
Phan Văn H đăng ký kết hôn với chị Nguyễn Thị Kim A, anh H có hộ khẩu thường
trú tại Tổ dân phố G, phường H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Sau khi thụ lý vụ
án, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình đề nghị Cục Q Bộ C cung cấp thông tin xuất
nhập cảnh của anh Phan Văn H. Tại Công văn số 31497/QLXNC- P5 ngày
23/12/2021 của Cục Q cung cấp thông tin anh Phan Văn H đã xuất nhập cảnh 05 lần,
xuất cảnh gần nhất ngày 13/7/2008 hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Theo
chị A và ông T (bố đẻ anh H) cung cấp địa chỉ anh H hiện đang cư trú tại: Yeong J,
285- 5, song pyeong-dong Jiriu-si, G sang nam-do 660 -340, Republic of K, Hàn
Quốc.
Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã ủy thác đến Đ tại Hàn Quốc các văn bản
tố tụng, tài liệu liên quan đến việc ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Kim A với anh Phan
Văn H để tống đạt, thông báo cho bị đơn anh Phan Văn H; đã đăng tin thông báo về
việc giải quyết vụ án ly hôn trên hệ thống phát thanh của Ban Đối ngoại - Đ1 (VOV5)
kênh thông tin dành cho người Việt Nam ở nước ngoài và thực hiện việc niêm yết
công khai các văn bản tố tụng của Toà án tại nơi ở, địa phương nơi cư trú, giao cho
người thân (bố) của anh H theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ngày 23/5/2022 Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã nhận được Công điện
số 429/ĐSQ-LS ngày 11/5/2022 của Đ tại Hàn Quốc về việc thông báo kết quả tống
đạt, niêm yết công khai văn bản tố tụng của Toà án cho anh Phan Văn H và thông
báo trên Cổng thông tin điện tử của Đ nhưng không nhận được sự phản hồi nào của
anh H.

Tại bản tự khai ngày 05/01/2022 của ông Phan Văn T (bố đẻ của anh Phan
Văn H) trình bày: Hiện nay anh H đang sinh sống tại địa chỉ Y, 285-5, song pyeong-
dong J-si, G sang nam-do 660-340, R of Korea, Hàn Quốc đúng như chị Nguyễn Thị
Kim A đã cung cấp cho Toà án. Anh H vẫn thường xuyên gọi điện thoại về cho gia
đình thăm hỏi tình hình ở nhà, ông đã thông báo cho anh H biết việc chị A làm đơn
khởi kiện xin ly hôn với anh H và anh H đã đồng ý ly hôn. Khi xãy ra mâu thuẫn gia
đình đã khuyên bảo nhưng hai con không nghe, hiện hai con Anh, H quyết định ly
hôn ông cũng nhất trí. Ông và anh H đã thừa nhận vợ chồng anh H không có con
chung và không có tài sản chung nên không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.
- Tại phiên tòa sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim A giữ nguyên yêu
cầu xin được ly hôn anh H. Về con chung và về tài sản chung không có, chị A không
yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án việc chấp hành pháp luật của
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà và của người tham gia tố tụng giải
quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Nghị án đều thực hiện
đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị
Nguyễn Thị Kim A, xử cho chị Nguyễn Thị Kim A được ly hôn anh Phan văn H1;
về con chung và về tài sản chung không có, đương sự không yêu cầu giải quyết nên
không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà,
ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn anh Phan Văn H đăng ký hộ khẩu thường trú trước khi xuất
cảnh tại: Tổ dân phố G, phường H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Hiện đang cư trú
tại nước ngoài (Hàn Quốc). Theo quy định tại khoản 3 Điều 35 và điểm c khoản 1
Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà
án nhân dân tỉnh Quảng Bình.
Sau khi thụ lý vụ án, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã tiến hành các
phương thức tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Toà án cho đương sự ở nước
ngoài; đã thực hiện thông báo cho anh Phan Văn H trên kênh phát thanh của Ban
Đối ngoại- Đ1 (VOV5), kênh phát thanh dành cho người Việt Nam ở nước ngoài;
thực hiện việc niêm yết văn bản tố tụng của Toà án tại địa phương (nơi đăng ký hộ
khẩu thường trú của anh Phan Văn H) và giao các văn bản tố tụng của Toà án cho
người thân (bố) của anh Phan Văn H để người thân thông báo cho anh H biết nội
dung liên quan đến việc chị Nguyễn Thị Kim A xin ly hôn anh Phan Văn H theo
đúng quy định tại Điều 474 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ngày 23/5/2022 Toà án nhân

dân tỉnh Quảng Bình đã nhận được Công điện số 429/ĐSQ-LS ngày 11/5/2022 của
Đ tại Hàn Quốc về việc thông báo kết quả tống đạt, niêm yết công khai văn bản tố
tụng của Toà án cho anh Phan Văn H và thông báo trên Cổng thông tin điện tử của
Đ nhưng không nhận được sự phản hồi nào của anh H.
Toà án đã mở phiên toà lần thứ nhất vào ngày 13/9/2022, nhưng do anh H
vắng mặt lần thứ nhất nên đã hoãn phiên toà. Tại phiên toà hôm nay chị A có mặt,
anh H vẫn vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227; Điều 228; khoản 5 Điều 477 Bộ luật Tố
tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh H.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim A và anh Phan Văn H kết
hôn tại UBND phường H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình vào ngày 01/6/2007 trên
cơ sở tự nguyện, là hôn nhân hợp pháp. Theo chị A trình bày, sau khi kết hôn vợ
chồng sống hạnh phúc được một thời gian anh H đi lao động tại Hàn Quốc, năm
2009 chị biết tin anh H đã có quan hệ tình cảm với một người phụ nữ khác ở bên
Hàn Quốc do đó mỗi lần anh H gọi điện thoại về cho chị thì vợ chồng xảy ra cãi
nhau, nên chị đã về nhà mẹ đẻ ở từ đó cho đến nay. Từ năm 2009 đến nay anh H
không còn quan tâm đến chị, không liên lạc về cho chị nữa. Nay chị A khẳng định
tình cảm vợ chồng không còn, hiện tại vợ chồng mỗi người sống mỗi nơi, không
quan tâm đến nhau nữa, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên chị kiên quyết xin
được ly hôn anh Phan Văn H.
Hội đồng xét xử thấy tình cảm vợ chồng giữa chị A và anh H không còn, cuộc
sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp
nhận yêu cầu của chị A để xử cho chị A được ly hôn anh H là phù hợp với quy định
tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về quan hệ con chung: Chị A và anh H không có con chung nên không
xem xét.
[2.3] Về quan hệ tài sản chung: Chị A và anh H không có tài sản chung, không
yêu cầu Toà án xem xét giải quyết nên không xem xét.
[3] Về án phí, lệ phí tống đạt văn bản tố tụng ra nước ngoài: Chị Nguyễn
Thị Kim A phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 2.048.000 đồng lệ phí
tống đạt văn bản tố tụng ra nước ngoài và đăng tin thông báo trên hệ thống phát
thanh VOV5 theo quy định của khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 153 Bộ luật Tố tụng
dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường
vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 147,
Điều 153, các Điều 228, Điều 469, 474, 475, 476, khoản 5 Điều 477, Điều 479 của
Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia
đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án, tuyên sử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Kim A được ly hôn anh
Phan Văn H.
2. Về quan hệ con chung: Không có, không xem xét.
3. Về quan hệ tài sản chung: Không xem xét.
4. Về án phí, lệ phí: Chị Nguyễn Thị Kim A phải chịu 300.000 đồng án phí
ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ
thẩm theo Biên lai số 0004797 ngày 07/12/2021 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh
Quảng Bình.
Chị Nguyễn Thị Kim A phải chịu 2.048.000 đồng tiền lệ phí tống đạt văn bản
tố tụng và đăng thông tin trên kênh phát thanh của Ban Đối ngoại - Đ1 (VOV5), chị
A đã nộp đủ tại Toà án.
5. Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Kim A có quyền kháng cáo trong hạn
15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Phan Văn H có quyền kháng cáo trong hạn 01
tháng kể từ ngày bản án sơ thẩm được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được
niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND tỉnh QB; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Cục THADS tỉnh QB;
- UBND phường H; (đã ký)
- Các đương sự;
- Lưu AV, Lưu HS.
Nguyễn Thái Sơn
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 07/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 25/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 22/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 22/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 15/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 11/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 04/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 04/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 28/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 28/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 28/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 28/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 26/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 25/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 22/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 22/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm