Bản án số 54/2022/HS-ST ngày 25/08/2022 của TAND TP. Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 54/2022/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 54/2022/HS-ST ngày 25/08/2022 của TAND TP. Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tội danh: 249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Phúc Yên (TAND tỉnh Vĩnh Phúc)
Số hiệu: 54/2022/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/08/2022
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHÚC YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC
Bản án số: 54/2022/HS-ST
Ngày 25 - 8 - 2022
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do- Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Danh Bình ông Nguyễn Thành
Luân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Thư ký Tòa án nhân dân
thành phố Phúc n.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2022, tại nhà văn hóa thôn Đ, N, thành phố P, Tòa
án nhân dân thành phP, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử thẩm công khai vụ án hình sự
thụ số: 56/2022/HSST ngày 09 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số 60/2022/QĐST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Lưu Quang H, sinh ngày 09 tháng 6 năm 1991; nơi sinh: B, huyện Đ, tnh
Thái Nguyên; nơi cư trú: Xóm T1, B, huyện Đ, tnh Thái Nguyên; Gii tính:
Nam; quc tch: Vit Nam; Dân tộc: Kinh; n giáo: Không; Trình độ văn hóa:
10/12; ngh nghip: T do; Đảng, đoàn thể: Không; con ông Lưu Quang H1 (đã
chết) và bà Đỗ Th H2; có vLưu Thị Đ và có 01 con. Tin án: 01, c th: Ngày
15 tháng 3 năm 2018, b cáo b Tòa án nhân dân huyện Đ, tnh Thái Nguyên x pht
09 tháng tù v tội Trm cp tài sn (Bn án hình s thẩm s 14/2018/HSST),
b cáo chp hành xong hình pht ngày 23 tháng 8 năm 2018 nhưng chưa np án
phí (chưa được xóa án tích).
Nhân thân: Ngày 31 tháng 10 năm 2013, b cáo b Tòa án nhân dân thành ph
T, tnh Thái Nguyên x pht 24 tháng v tội Tàng tr trái phép cht ma túy
(Bn án hình s thm s 27/2013/HSST), b cáo chp hành xong hình pht
ngày 28 tháng 4 năm 2015 và đã np án phí ngày 31 tháng 3 năm 2014 (đã đưc
xóa án tích).
B bt tm gi, tm giam t ngày 16 tháng 5 năm 2022 đến nay, “có mặt”.
- Người bào chữa cho b cáo H: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1977 - Tr
giúp viên pháp thuộc Trung tâm tr giúp pháp nhà nước tỉnh Vĩnh Phúc, “có
mặt”.
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Hồng Q, sinh năm 1973; địa chỉ: Tổ n
ph C, phường N, thành ph P, tỉnh Vĩnh Phúc, “vắng mặt”.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Lưu Quang H con nghin ma túy t năm 2013 cho đến nay. Bui sáng ngày
16 tháng 5 năm 2022 ti khu vc t dân ph T, phường T, thành ph P, tnh Thái
Nguyên, H mua ca mt người đàn ông không nhân thân, lai lch 03 túi ma túy
heroine với giá 300.000 đồng để s dng cho bản thân. Sau khi mua được ma túy
Huỳnh đến một khu đất trng gn đó sử dng 02 túi ma túy heroine vừa mua được,
còn 01 gói ma túy heroine H cất vào túi áo trưc ngc bên phải đang mặc. Đến
khong 12 gi 00 phút cùng ngày mt nam thanh niên không nhân thân lai
lịch, điều khin xe không bin kim soát đến làm quen vi H r H s
dng trái phép cht ma túy tH đồng ý. Người nam thanh niên điều khin xe
tô không bin kim soát ch H đi về thành ph P, tỉnh Vĩnh Phúc để s dng ma
túy. Đến khong 14 gi 30 phút cùng ngày khi đến trưc ca mt hiu thuc tây
thuc t dân ph C, phưng N, thành ph P tH bo nam thanh niên dng xe li
để H xung xe vào mua xi lanh s dng ma túy. H xuống xe đi b vào hiu thuc
để mua xi lanh thì b t công tác công an phường N, thành ph P kim tra phát hin
bt qu tang H hành vi tàng tr trái phép chất ma túy, còn nam thanh niên điu
khin xe mô tô b chy thoát.
Vật chứng đã thu giữ và xử lý vật chứng:
- Thu giữ tại túi áo ngực bên phải phía trước đang mặc của Lưu Quang H 01
túi ni lon bên trong có chứa các chất cục bột màu trắng. Tang vật được niêm phong
theo quy định ký hiệu là A1.
Tại Kết luận giám định số 1406/KLGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2022 của Phòng
kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc, kết luận: “Chất cục bột màu trắng của
mẫu hiệu A1 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng là 0,2254gam (Không phảy
hai hai năm bốn gam, không kể bao bì) loại Heroine. Hoàn lại mẫu vật sau giám
định A1= 0,1856 gam và toàn bộ bao gói”.
quan điều tra Công an thành phố P tiến hành thu giữ nước tiểu của Lưu
Quang H để giám định. Tại bản kết luận giám định số 1444/KLngày 24 tháng 5
năm 2022 của Phòng Kthuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: “Tìm thấy
chất ma túy Morphine trong nước tiểu thu của Lưu Quang H, sinh năm 1991, HKTT:
B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên gửi đến giám định. Hoàn trả trực tiếp đối tượng
giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm: 01 vỏ chai nhựa niêm
phong sau giám định và toàn bộ bao gói”.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Lưu Quang H tại t dân ph T, phường
T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên vào sáng ngày 16 tháng 5 năm 2022 nam thanh
niên rủ Lưu Quang H sử dụng trái phép chất ma túy. Quá trình điều tra chưa làm rõ
được nhân thân, danh tính, địa chỉ nên cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm xử
lý sau.
Tại bản cáo trạng số 62/CT-VKSPY ngày 08 tháng 8 năm 2022 của Viện
Kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Lưu Quang H về
tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
3
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P vẫn giữ nguyên quan
điểm truy tđối với bị cáo H về tội danh như đã nêu trên và đề nghị Hội đồng xét
xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều
52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lưu Quang H từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng
. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứngán phí theo qui
định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo phát biểu lời bào chữa đồng ý quan điểm của Viện
kiểm sát về tội danh; về hình phạt đề nghhội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm
nhẹ cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội cải tạo sớm trở v
hòa nhập cuộc sống; về hình phạt bổ sung và án phí, do bị cáo thuộc diện hộ nghèo
n đề nghị hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình
sự đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định ttụng của Điều tra viên,
Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên
của Cơ quan điều tra – Công an thành phố P, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân
dân thành phố P đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về khởi
tố vụ án, khởi tố bcan, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, áp dụng biện pháp
ngăn chặn, trưng cầu giám định, lấy lời khai của bị can và những người tham gia t
tụng, kết luận điều tra, ban hành cáo trạng. Thời hạn điều tra, truy tố đảm bảo đúng
theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng
khác không ai khiếu nại đối với c hành vi, quyết định của người tiến hành
tố tụng. Vì vậy, hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp
pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Lưu Quang H khai nhận như sau: Khoảng 14 gi 30
phút ngày 16 tháng 5 năm 2022 tại khu vực t dân ph C, phường N, thành ph P,
tỉnh Vĩnh Phúc, Lưu Quang H hành vi cất giấu trong túi áo ngc bên phải 01
(Một) gói ma túy (loại heroine) khối lượng 0,2254 gam với mục đích sử dụng
nhân thì b Công an thành phố P phát hiện bắt quả tang, thu gi cùng toàn b vật
chứng.
[3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại biên bản bắt người
phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người làm chứng và những người tham
gia tố tụng khác. Phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân
thành phố P các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Vật chứng thu
giữ của vụ án, kết luận giám định khối lượng heroin của Phòng Kỹ thuật hình sự -
Công an tỉnh Vĩnh Phúc,...Vì vậy đsđể kết luận Viện kiểm sát nhân dân
thành phố P đã truy tố bị cáo Lưu Quang H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy
theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự hoàn toàn đúng người, đúng tội,
không oan sai.
Điều 249 Bộ luật Hình sự qui định:
4
1. “Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua
bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau
đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) …heroine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”.
[4] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy
hiểm cho hội, bản thân bị cáo tuổi đời còn trẻ nhưng không chịu tu dưỡng, rèn
luyện đã lao vào con đường nghiện ma túy, ngang nhiên mua ma túy để sử dụng cá
nhân. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp chế đđộc quyền quản
của Nhà nước về chất ma túy. Gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng xấu đến tình hình
an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, gây bất bình trong dư luận quần
chúng nhân dân. Đặc biệt hiện nay tnạn ma túy trong cả nước nói chung cũng như
địa bàn thành phố P diễn biến ngày càng phức tạp gây nhiều hậu quả xấu, tác động
trực tiếp vào từng nhân, từng gia đình toàn hội. Tệ nạn ma túy kéo theo
một loạt các tội phạm như: Trộm cắp, giết người, chiếm đoạt tài sản…và rất nhiều
các loại bệnh tật nguy hiểm, trong đó căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS. vậy hành
vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục
và phòng ngừa chung.
Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo Lưu Quang H người nhân thân xấu, bản thân đã từng bị kết án
về tội “Tàng trtrái phép chất ma túymặc đã được xóa án tích nhưng bị cáo
không lấy đó là bài học lại tiếp tục phạm tội. Quá trình điều tra tại phiên tòa, bị
cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Do đó bị cáo được hưởng
mộtnh tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Về
tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án vtội “Trộm cắp tài sản
chưa được xóa án tích nên phải chịu một tình tiết tăng nặng “tái phạmquy
định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xét thấy cần áp dụng hình phạt
thời hạn như mức đnghcủa Viện kiểm sát mới đủ điều kiện để giáo dục, cải
tạo bị cáo trở thành một công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo Lưu Quang H trước khi phạm tội
người nghiện ma túy không nghề nghiệp ổn định, gia đình thuộc diện hộ nghèo
do vậy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Lưu Quang H tại t dân ph T, phường
T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên vào sáng ngày 16 tháng 5 năm 2022 nam thanh
niên rủ Lưu Quang H sử dụng trái phép chất ma túy. Quá trình điều tra chưa làm rõ
được nhân thân, danh tính, địa chỉ nên cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm , xử
lý sau là phù hợp.
[6] Về xử vật chứng: Đối với 0,1856 gam mẫu toàn bộ bao gói do cơ
quan giám định hoàn lại cần tịch thu, tiêu hủy.
[7] Về án phí: Bị cáo Lưu Quang H thuộc diện hộ nghèo đơn đề nghị
miễn án phí hình sự sơ thẩm nên cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
5
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lưu Quang H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản
1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lưu Quang H 02 (Hai) năm 03 (Ba)
tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt kể từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bcáo
ngày 16 tháng 5 năm 2022.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều
106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Tịch thu, tiêu hủy đối với 0,1856 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói do cơ quan
giám định hoàn lại.
Các vật chứng, tài sản nêu trên có đặc điểm như trong biên bản giao nhận tài
sản, vật chứng lập ngày 09 tháng 8 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành
phố P, tỉnh Vĩnh Phúc.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ khoản
1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Lưu Quang H.
Bị cáo mặt quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án sơ thẩm./.
Nơi nhận:
- Viện KSND T.Vĩnh Phúc;
- Viện KSND TP.P;
- CQĐT - Công an TP.P;
- Trại TG – CA tỉnh Vĩnh Phúc;
- Chi cục THADS TP.P;
- S Tư pháp Vĩnh Phúc;
- Bị cáo H;
- Các đương sự;
- Lưu HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Lê Anh Vũ
Tải về
Bản án số 54/2022/HS-ST Bản án số 54/2022/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất