Bản án số 54/2021/HNGĐ-ST ngày 07/12/2021 của TAND huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 54/2021/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 54/2021/HNGĐ-ST ngày 07/12/2021 của TAND huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Mỏ Cày Bắc (TAND tỉnh Bến Tre)
Số hiệu: 54/2021/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 07/12/2021
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Anh Nguyễn Vũ L xin ly hôn với chị Trần Thị Bích G
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN MỎ CÀY BẮC Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TNH BN TRE
Bản án số: 54/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 07/12/2021.
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con ”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC - TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Văn Nhi.
2. Ông Nguyễn Thanh Vũ.
- Thư phiên tòa: Nguyễn Quỳnh Như Thư Tòa án nhân dân
huyện Mỏ Cày Bắc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc tham gia phiên tòa:
Ông Thạch Thiện Kiểm sát viên.
Trong ngày 07 tháng 12 năm 2021, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện
Mỏ Cày Bắc xét xử thẩm công khai
vụ án hôn nhân gia đình đã thụ số:
389/2020/TLST-HNGĐ ngày 11/12/2020 về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày
12/8/2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 66a/2021/QĐST-HNGĐ ngày 03/11/2021
Thông báo mlại phiên tòa số 275/TB-TA ngày 22/11/2021. Giữa các đương
sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Vũ L, sinh năm 1991 (vắng mặt).
Trú tại:p T, xã T1, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Anh L đơn đnghị xét xử vng mặt.
2. Bị đơn: Chị Trần Thị Bích G, sinh năm 1994 (vắng mặt).
T ti: p T, xã T1, huyện M, tnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn đề ngày 11/12/2020 các lời khai trong qtrình giải
quyết vụ án nguyên đơn anh Nguyễn L trình bày: Anh L chị G do quen biết
nhau trước nên tự nguyện tiến đến hôn nhân năm 2012, đăng kết hôn tại Ủy
ban nhân dân M, huyện C, tỉnh An Giang vào năm 2012. Sau khi kết hôn, vợ
chồng sinh sống tại nhà cha mẹ ruột của anh p T, xã T1, huyện M, tnh Bến
Tre. Vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì lớn, đôi lúc
chỉ cãi nhau nhưng từ tháng 3 năm 2015 (âl) phát sinh mâu thuẫn, nguyên
2
nhân mất hạnh phúc là do chị G xin về nhà cha mẹ ruột ấp M1, xã M, huyện C,
tỉnh An Giang để dự đám gikêu anh đi cùng nhưng sau khi đám giỗ xong thì
anh về nhà bên gia đình anh trước, còn chị G không đồng ý trở về nhà, sau đó anh
trở lại quê vợ tỉnh An Giang để rước chị G con anh về nhưng chị G cũng
không chịu về, đến m 2016 anh đến nhà vợ một lần nữa để rước vợ về nhà
sống chung nhưng chị G vẫn không đồng ý không nói do. Do đó, vợ
chồng anh đã ly thân từ năm 2015 cho đến nay, chG đã trở về nhà cha mẹ ruột
ấp M1, M, huyện C, tỉnh An Giang sinh sống từ tháng 3 năm 2015 (âl) nhưng
sau đó chị G đi làm sinh sống nơi đâu thì anh không biết. Thời gian ly thân,
anh chị G cũng không gặp gỡ để bàn bạc thỏa thuận hàn gắn đoàn tvợ
chồng. Nay do tình cảm vợ chồng không còn nên anh yêu cầu được ly hôn với chị
G để mỗi người có cuộc sống riêng.
Về con chung: vợ chồng 01 con chung cháu Nguyễn Minh H, sinh
ngày 02/02/2013, hiện con đang sống chung với anh ông nội của cháu khi
cháu H còn nhỏ cho đến nay. Sau khi ly hôn, anh yêu cầu được tiếp tục nuôi con
chung, không yêu cầu chị G cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung nợ chung:
không có.
Bđơn chị Trần Thị Bích G vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án
nên không có lời khai.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa, Thẩm phán,
Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố
tụng dân sự, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình; riêng
bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình.
- Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84
Luật hôn nhân gia đình năm 2014, cụ thể: V hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin
ly hôn của anh Nguyễn Vũ L; về con chung: anh Nguyễn Vũ L được trực tiếp nuôi
con chung cháu Nguyễn Minh H, sinh ngày 02/02/2013, chị Trần Thị Bích G
không phải cấp dưỡng nuôi con do anh L không có yêu cầu; về tài sản chung và nợ
chung: không có nên không đề cập.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Nguyên đơn anh Nguyễn L đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn
chị Trần Thị Bích G vắng mặt tại phiên tòa không do đã được triệu tập
hợp lệ đến lần thứ hai nên Hội đồng xét xcăn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng
dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh L và chị G phù hợp.
[2] Về quan hệ hôn nhân: anh Nguyễn L chị Trần Thị Bích G trên
sở quen biết nhau trước nên cả hai tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tiến hành đăng
kết hôn tại Ủy ban nhân dân M, huyện C, tỉnh An Giang vào năm 2012. Xét
thấy, hôn nhân của anh L chị G đã tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật
3
hôn nhân gia đình nên được xem hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận
bảo vệ. Sau khi kết hôn, anh L chị G thời gian sống hạnh phúc với
nhau 01 con chung nhưng vì những mâu thuẫn trong cuộc sống gia đình mà đã dẫn
đến việc anh L xin ly hôn. Tại đơn khởi kiện lời khai trong quá trình giải quyết
vụ án anh L cho rằng: nguyên nhân chủ yếu vợ chồng mất hạnh phúc là do từ tháng
3 năm 2015 (âl) chị G xin về nhà cha mẹ ruột ấp M1, M, huyện C, tỉnh An
Giang đdự đám giỗ kêu anh đi cùng nhưng sau khi đám giỗ xong thì anh về
nhà bên gia đình anh trước, còn chị G không đồng ý trở về nhà, sau đó anh trở lại
quê chị G tỉnh An Giang đrước chị G con anh vnhưng chị G cũng không
chịu về, đến năm 2016 anh đến nhà cha mẹ ruột chị G một lần nữa để rước chị
G về nhà sống chung nhưng chị G vẫn không đồng ý không nói do; từ đó
dẫn đến việc anh chG đã ly thân nhau từ tháng 3 năm 2015 (âl) cho đến nay.
Xét thấy, sau khi thụ vụ án, Tòa án đã tiến hành mời anh L chị G đến Tòa án
nhiều lần để tiến hành hòa giải hôn nhân của anh chị nhưng chị G vẫn vắng mặt
không do. Điều đó chứng tỏ chị G không thiện chí hàn gắn, đoàn tụ vợ
chồng với anh L. Theo biên bản xác minh tại chính quyền địa phương thì anh L và
chị G đã ly thân từ năm 2015 đến nay. Do đó, Hội đồng xét x xét thấy: anh L
chị G vchồng nhưng anh chị không quan tâm, giúp đnhau để tạo điều kiện
cho nhau phát triển về mọi mặt anh chị lại bmặc nhau, sống ly thân từ năm
2015 cho đến nay nên anh chị đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ
chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể
kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét x căn cứ
vào Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình m 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn
của anh L là phù hợp.
[3] Về con chung: thời gian sống chung, anh L chị G 01 con chung
cháu Nguyễn Minh H, sinh ngày 02/02/2013, hiện tại cháu H đang sống chung với
anh L. Sau khi ly hôn, anh L yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung. Hội đồng xét
xử xét thấy: từ năm 2015 khi chị G và anh L ly thân cho đến nay cháu H sống
chung với anh L, tại biên bản lấy ý kiến của con chưa thành niên đề ngày
29/4/2021 thì cháu H ng nguyện vọng được sống chung với anh L; trong quá
trình giải quyết vụ án, chị G cũng không có văn bản trình bày ý kiến tranh chấp về
nuôi con chung với anh L. Do đó, để đảm bảo quyền lợi cho sự phát triển tốt về thể
chất, sự phát triển tốt về tinh thần đảm bảo việc học hành cho cháu H nên Hội
đồng xét xử giao cháu H cho anh L được trực tiếp nuôi hoàn toàn phù hợp theo
quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Việc anh L không yêu
cầu chị G cấp dưỡng nuôi con sự tự nguyện của anh nên Hội đồng xét xghi
nhận.
[4] Về tài sản chung: anh L trình bày không . Xét thấy, trong quá trình
giải quyết vụ án, chị G cũng không văn bản trình bày ý kiến đơn tranh chấp
về chia tài sản khi ly hôn với anh L nên Hội đồng xét xử không đề cập.
[5] Về nchung: anh L trình bày không . Xét thấy, trong quá trình giải
quyết vụ án, chị G cũng không văn bản trình bày chị anh L nợ chung
nên Hội đồng xét xử không đề cập.
4
[6] Xét thấy quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn
phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.
[7] Về án phí hôn nhân gia đình thẩm: anh L phải chịu do anh L yêu cầu
ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình năm
2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn L.
Anh Nguyễn Vũ Lchị Trần Thị Bích G được ly hôn với nhau.
Về con chung: sau khi ly hôn, anh Nguyễn L được trực tiếp nuôi con
chung cháu Nguyễn Minh H, sinh ngày 02/02/2013, hiện cháu H đang sống
chung với anh L; chị Trần Thị Bích G không phải cấp dưỡng nuôi con do anh L
không có yêu cầu.
Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân
sự hoặc không có khả năng lao động và không tài sản để tnuôi mình theo quy
định của Luật Hôn nhân gia đình các luật khác liên quan. Người không
trực tiếp nuôi con quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh
ởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực
tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con
thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân gia đình, yêu
cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền
được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình
không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm
sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp yêu cầu của cha, mẹ hoặc nhân,
tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình, Tòa án thể
quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung nợ chung: anh L trình bày là không nên không đề
cập.
Về án phí hôn nhân gia đình thẩm: anh Nguyễn L phải chịu 300.000
đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số
0005993 ngày 11/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc nên
anh không còn phải nộp thêm.
Án phí sung vào công quỹ Nhà nước.
5
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân
tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THM
- Phòng KTNV và THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
THA TAND tỉnh Bến Tre;
- VKSND huyện Mỏ Cày Bắc;
- Chi cục THADS huyện Mỏ Cày Bắc;
- UBND xã M,
huyện C, tỉnh An Giang;
- Các đương sự; Nguyễn Ngọc Đạt
- Lưu (HS, VP).
Tải về
Bản án số 54/2021/HNGĐ-ST Bản án số 54/2021/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất