Bản án số 53/2024/HNGĐ-ST ngày 04/07/2024 của TAND huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 53/2024/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 53/2024/HNGĐ-ST ngày 04/07/2024 của TAND huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Thuận Châu (TAND tỉnh Sơn La)
Số hiệu: 53/2024/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 04/07/2024
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: giải quyết ly hôn, nuôi con chung
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUẬN CHÂU
TỈNH SƠN LA
Bản án số: 53/2024/HNGĐ–ST
Ngày: 0472024
V/v: Ly hôn, nuôi con chung
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Văn Thịnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Thiệp, bà Lý Thị Vinh.
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Lan Phượng - Thư Toà án nhân
dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La
tham gia phiên tòa: Ông Bạc Cầm Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận
Châu, tỉnh Sơn La t xử thẩm công khai vụ án dân sự thụ số:
131/2024/TLST-HNGĐ ngày 12-4-2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
số: 56/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12-6-2024, Quyết định hoãn phiên tòa số:
56/2024/QĐST-HNGĐ ngày 01-7-2024; giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Cà Thị C, sinh năm 1997.
2. Bị đơn: Anh Quàng Văn T, sinh năm 1995.
Đều trú tại: Bản T, xã LT, huyện TC, tỉnh Sơn La.
(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tkhai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên
đơn chị Cà Thị C trình bày:
Chị Thị C anh Quàng n T kết hôn với nhau đăng kết hôn
ngày 23/01/2015 tại Ủy ban nhân dân xã LT, huyện TC, tỉnh SL, kết hôn trên cơ
sở tự nguyện không bị ai ép buộc. Vợ chồng chung sống với nhau được một thời
gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vchồng bất đồng
quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, không tìm được tiếng nói chung,
mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hai bên gia đình đã hòa
giải khuyên bảo vợ chồng nhiều lần nhưng không thể hàn gắn được. Vợ chồng
đã sống ly thân từ tháng 11/2022, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Nay
2
chị C xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu giải quyết ly hôn với
anh Quàng Văn T.
Về con chung: Chị Thị C anh Quàng Văn T 02 con chung
cháu Quàng VH, sinh ngày 01/11/2019 và cháu Quàng Văn V, sinh ngày
17/9/2015. Kể tkhi vợ chồng sống ly thân đến nay, cháu Quàng VH với chị
Cà Thị C, còn cháu Quàng Văn V ở với anh Quàng Văn T.
Chị C đnghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Quàng VH
giao cháu Quàng Văn V cho anh Quàng Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bđơn anh Quàng Văn T: Tòa án đã tiến hành triệu tập tống đạt
hợp lệ các văn bản tố tụng nhiều lần cho bị đơn anh Quàng Văn T để viết bản tự
khai, tham gia phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ, tham gia phiên tòa xét xử
vụ án nhưng anh Quàng Văn T vẫn cố tình vắng mặt nên không ý kiến về
việc giải quyết ly hôn.
Căn cứ khoản 3 Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xác
minh nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng, điều kiện nuôi con ý kiến
của con chung tại địa chỉ nơi cư trú của các đương sự:
Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương ngày 04/6/2024 xác định:
Anh Quàng Văn T chị Thị C kết hôn hợp pháp, chung sống với nhau tại
bản T, LT, huyện TC, tỉnh SL. Anh Quàng Văn T chị Thị C chung
sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn gia đình, hai bên gia đình đã
nhiều lần hòa giải khuyên bảo vợ chồng nhưng không thể hàn gắn. Chị C cùng
cháu Quàng VH đã về nhà bố mẹ đẻ chị C ở xã BM, huyện TC từ năm 2022 đến
nay. Nguyên nhân mâu thuẫn thì chính quyền địa phương không nắm được. Anh
T, chị C đều có khả năng và điều kiện nuôi con.
Ý kiến của cháu Quàng Văn V, sinh ngày 17/9/2015 (Biên bản ghi ý kiến
ngày 28/5/2024): Cháu Quàng Văn V nguyện vọng muốn với anh Quàng
Văn T.
Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự không cung cấp thêm chứng cứ
cho Tòa án, không có ý kiến gì về các chứng cứ do các đương sự khác xuất trình
và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người tham gia tố tụng khác.
Chị Thị C đơn đnghị xét xử vắng mặt với nội dung: Chị C giữ
nguyên ý kiến ntrình bày trong đơn khởi kiện, bản tự khai yêu cầu
miễn án phí.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu
phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư
ký phiên tòa: Thẩm phán đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự, thụ vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan
3
hệ pháp luật, xác định đúng đầy đủ tư cách tham gia tố tụng, tiến hành thu thập
tài liệu, chứng cứ đúng quy định, đảm bảo đúng thời hạn, tống đạt đầy đủ hợp lệ
các văn bản tố tụng cho đương sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tham gia đúng
thành phần trong quyết định đưa ván ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn
ra theo đúng quy định của pháp luật, Thư phiên tòa thực hiện đúng quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn
đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị
đơn không thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn đúng
quy định pháp luật tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 khoản 3 Điều 228
Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82,
Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản
1 khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị
Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Viện kiểm sát đề nghị:
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Thị C được ly hôn với anh Quàng
Văn T.
Về con chung: Giao cháu Quàng VH, sinh ngày 01/11/2019 cho chị
Thị C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm c, giáo dục. Giao cháu Quàng n V, sinh
ngày 17/9/2015 cho anh Quàng Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm c, giáo
dục. Anh Quàng Văn T và chị Cà Thị C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự thẩm không giá ngạch cho
nguyên đơn chị Cà Thị C theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả
tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về ttụng: Nguyên đơn chị Thị C yêu cầu ly hôn với bị đơn anh
Quàng Văn T có địa chỉ nơi thường trú tại bản T, xã LT, huyện TC, tỉnh SL. Tòa
án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La thụ giải quyết là đúng thẩm
quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a
khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Thị C vắng mặt tại phiên tòa đơn đề nghị Tòa án
xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến
hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn.
Bị đơn anh Quàng Văn T đã được Tòa án triệu tập tống đạt hợp llần thứ
hai vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228
Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
4
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Thị C anh Quàng Văn T kết hôn với
nhau trên sở tự nguyện, không ai bị ép buộc, được Ủy ban nhân dân xã LT,
huyện TC, tỉnh SL cấp giấy chứng nhận đăng kết hôn theo quy định. Do đó,
chị C anh T vợ chồng hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị C, anh T
chung sống với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân
mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã,
không tìm được tiếng nói chung, mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không
đạt được. Hai bên gia đình đã hòa giải cho vợ chồng nhưng không thể hàn gắn.
Anh T chị C đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay, không ai quan tâm đến
cuộc sống của ai. Tình cảm vợ chồng không còn, chC yêu cầu ly hôn với anh
Quàng Văn T.
Tòa án đã tiến hành triệu tập tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhiều lần
cho bị đơn anh Quàng Văn T để viết bản tự khai, tham gia phiên họp tiếp cận,
công khai chứng cứ, tham gia phiên tòa xét xử vụ án nhưng anh Quàng Văn T
vẫn cố tình vắng mặt nên không có ý kiến về việc giải quyết ly hôn.
Trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ, bản tự khai của đương sự và tại
phiên a cho thấy cuộc sống chung vợ chồng của chị C anh T không hạnh
phúc, mâu thuẫn kéo dài, nguyên nhân do mâu thuẫn gia đình, vợ chồng bất
đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, vchồng đã được hai
bên gia đình hòa giải nhưng không thành, đã sống ly thân được một thời gian dài
không ai quan tâm đến cuộc sống của ai dẫn đến tình cảm vợ chồng xa cách, hôn
nhân gia đình trở nên bế tắc.
Từ các căn cứ nêu trên cho thấy mâu thuẫn của vợ chồng chị C và anh T
đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân
không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị
Cà Thị C ly hôn với anh Quàng Văn T.
[3] Về con chung: Chị Thị C anh Quàng Văn T 02 con chung:
Cháu Quàng VH, sinh ngày 01/11/2019 và cháu Quàng Văn V, sinh ngày
17/9/2015. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, cháu Quàng VH với chị
Thị C, còn cháu Quàng Văn V ở với anh Quàng Văn T.
Chị Thị C đnghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm c cháu Quàng
VH giao cháu Quàng Văn V cho anh Quàng Văn T trực tiếp nuôi dưỡng,
chăm sóc. Anh Quàng Văn T không có ý kiến.
Ý kiến của cháu Quàng Văn V nguyện vọng muốn với anh Quàng
Văn T.
Hội đồng xét xử xét thấy: Ý kiến của chị Thị C phù hợp với nguyện
vọng của cháu Quàng Văn V. Chị Canh T đều có nơi ở ổn định, có công việc
và thu nhập. Trong thời gian chị Cà Thị C và anh Quàng Văn T sống ly thân, chị
C và anh T đều đảm bảo điều kiện nuôi dưỡng các cháu về mọi mặt. Do đó cần
chấp nhận ý kiến của nguyên đơn, giao cháu Quàng VH cho chị Thị C trực
tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục giao cháu Quàng Văn V cho anh Quàng
Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
5
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Thị C anh Quàng Văn T không phải
cấp dưỡng nuôi con chung do không ai yêu cầu.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Thị C xác định không có, không
yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Quàng Văn T không có ý kiến. Do đó, Hội đồng
xét xử không xem xét, giải quyết, trường hợp sau khi giải quyết ly hôn phát
sinh tranh chấp và có người yêu cầu, sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
[5] Về án phí: Nguyên đơn chị Thị C là người dân tộc thiểu số cư trú ở
xã có điều kiện – kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có yêu cầu miễn án phí. Do
đó, miễn toàn bộ án phí dân sự thẩm không giá ngạch cho chị Thị C.
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết số
326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân
gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 khoản 3 Điều 228,
Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6
Điều 15 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Cà Thị C được ly hôn với anh Quàng
Văn T.
2. Về con chung: Giao cháu Quàng VH, sinh ngày 01/11/2019 cho chị
Thị C giao cháu Quàng Văn V, sinh ngày 17/9/2015 cho anh Quàng Văn T
trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng các con đến tui trưng
thành 18 tui và kh năng lao động) hoặc đến khi quyết định khác của
quan có thm quyn.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Thị C anh Quàng Văn T không phải
cấp dưỡng nuôi con chung do không ai yêu cầu.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con quyền thăm nom con,
không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc
thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc,
giáo dục, nuôi dưỡng con theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2014.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị C xác định không có, không yêu cầu
Toà án giải quyết. Do đó không xem xét giải quyết trong vụ án.
4. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho
chị Thị C. Hoàn trả chị Thị C số tiền tạm ứng án phí dân sự thẩm đã
nộp tại Chi cục Thi hành án dân shuyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La 300.000
đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: 0001779, ngày 12/4/2024.
6
5. Về quyền kháng cáo: Chị Thị C, anh Quàng Văn T được quyền
kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể tngày nhận được bản án hoặc bản án
được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hp bn án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
ca Lut Thi hành án dân s thì người được thi hành án dân sự, người phi thi
hành án dân s quyn tho thun thi hành án, quyn yêu cu thi hành án, t
nguyn thi hành án hoc b ng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
Điều 7 Điu 9 ca Lut Thi hành án dân s; thi hiu thi hành án được thc
hiện theo quy định tại Điu 30 ca Lut Thi hành án dân s.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Sơn La;
- VKSND huyện Thuận Châu (2);
- Chi cục THADS huyện Thuận Châu;
- UBNDLT, huyện TC, tỉnh SL;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ, lưu án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nông Văn Thịnh
Tải về
Bản án số 53/2024/HNGĐ-ST Bản án số 53/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 53/2024/HNGĐ-ST Bản án số 53/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất