Bản án số 52/2023/HS-ST ngày 28/02/2023 của TAND huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh về tội cướp giật tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 52/2023/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 52/2023/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 52/2023/HS-ST ngày 28/02/2023 của TAND huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh về tội cướp giật tài sản |
|---|---|
| Tội danh: | 136.Tội cướp giật tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Quế Võ (TAND tỉnh Bắc Ninh) |
| Số hiệu: | 52/2023/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 28/02/2023 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản
1
TÒA ÁN NHÂN DÂN H. QUẾ VÕ
TỈNH BẮC NINH
____________
Bản án số: 52/2023/HS-ST
Ngày: 28/02/2023
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
________________________________________
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hoài Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Tuyến và bà Ngô Thuỳ
Phương;
- Thư ký phiên tòa: Bà Hạp Thị Lan Phương - Thư ký TAND huyện Quế
Võ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Thị Quỳnh Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh
Bắc Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2023/HSST ngày
03/02/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2023/HSST ngày
13/02/2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Lƣơng T, sinh năm 1998;
HKTT: Thôn Thái Khang, xã Thiệu Hoà, huyện Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; Giới tính: Nam; Dân tộc:
Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Nguyễn Lương T1 và mẹ đẻ:
Nguyễn Thị D; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ, con: Không; tiền
án, tiền sự, nhân thân: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/11/2022 đến nay tại
Nhà tạm giữ Công an huyện Quế Võ - Có mặt tại phiên toà.
- Người bị hại: Anh Trương Trung D, sinh năm 1991; HKTT: Thôn Lâm
Hoá 2, xã Vũ Lâm, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình – vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 11/2022, Nguyễn Lương T đến huyện Quế Võ, tỉnh Bắc
Ninh để tìm việc làm. Trong thời gian chưa xin được việc nên hàng ngày T vào các
quán internet ở thôn Giang Liễu, xã Phương Liễu, huyện Quế Võ để chơi game và
ăn ngủ tại quán. Khoảng 20 giờ ngày 27/11/2022, T đến chơi điện tử tại quán “Net
Huân” của anh Nguyễn Tài H ở thôn Giang Liễu, xã Phương Liễu, huyện Quế Võ.
Đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì anh H bảo mọi người về để đóng cửa thì T có xin
ngủ nhờ ở quán thì anh H đồng ý. Sau đó T ngủ tại quán đến sáng ngày 28/11/2022
thì dậy, lại chơi game tiếp. Đến khoảng 08h45 phút, ngày 28/12/2022 do hết tiền
tiêu xài nên T nảy sinh ý định xem các khách chơi game ở quán có ai để tài sản
(điện thoại) sơ hở sẽ cướp giật để bán lấy tiền ăn tiêu. Lúc này, T thấy trên tường
phía bên trong quán có treo 01 áo khoác dài tay màu đen có mũ của anh Nguyễn
Văn Q, sinh năm 2000, HKTT: thôn Giang Liễu, xã Phương Liễu, huyện Quế Võ,
tỉnh Bắc Ninh nên đứng dậy lấy chiếc áo rồi đi ra phía sau các khách đang chơi.

2
Khi đến phía sau anh Trương Trung D, sinh năm 1991, HKTT: thôn Lâm Hoá 2,
xã Vũ Lâm, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình đang ngồi chơi điện tử và để 01 ĐTDĐ
OPPO A9 màu xanh sạc pin ở trên mặt bàn máy vi tính, T liền dùng tay phải với
giật lấy chiếc điện thoại, đồng thời tay trái cầm chiếc áo chùm lên đầu anh D với
mục đích anh D không nhìn thấy và bỏ chạy. Ngay sau đó, anh D bỏ áo khoác ra,
phát hiện sự việc, đứng dậy đuổi theo và hô hoán. T bỏ chạy được khoảng 200m
thì bị lực lượng Công an xã Phương Liễu, huyện Quế Võ phối hợp quần chúng
nhân dân bắt giữ, đưa về trụ sở làm việc. Tang vật thu giữ:
+ 01 ĐTDĐ nhãn hiệu OPPO A9, màu xanh, đã qua sử dụng;
+ 01 áo khoác dài tay có mũ, màu đen.
Ngày 28/11/2022, anh Trương Trung D đến Cơ quan CSĐT trình báo về
việc bị kẻ gian cướp giật 01 ĐTDĐ OPPO A9 màu xanh đã qua sử dụng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 85/KL-HĐĐGTS ngày 29/11/2022 của Hội
đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Quế Võ kết luận: “01 điện thoại
di động nhãn hiệu OPPO A9, màu xanh có giá 1.800.000 đồng”.
Quá trình điều tra, xác định 01 ĐTDĐ nhãn hiệu OPPO A9, màu xanh, đã
qua sử dụng; 01 áo khoác dài tay có mũ, màu đen, quá trình điều tra xác định là tài
sản của anh Trương Trung D và anh Nguyễn Văn Q. Ngày 17/12/2022, cơ quan
CSĐT Công an huyện Quế Võ đã trả lại cho anh D, anh Q. Anh D, anh Q đã nhận
lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì về trách nhiệm dân sự.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Lương T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ
hành vi phạm tội của mình.
Bản cáo trạng số: 16/CT-VKS ngày 02/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân
huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Lương T phạm tội “Cướp
giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 BLHS.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Lương T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội
như bản cáo trạng đã nêu và thừa nhận, cáo trạng của VKSND huyện Quế Võ đã
truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ thực
hành quyền công tố tại phiên toà trình bày luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính
chất, mức độ hành vi phạm tội, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo T đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị
cáo Nguyễn Lương T phạm tội “Cướp giật tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 171,
điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 65 BLHS; Điều 328 BLTTHS xử phạt bị cáo
Nguyễn Lương T từ 15 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian
thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng. Trả tự do cho bị cáo tại phiên toà; Miễn hình
phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Ngoài ra, đại diện VKS còn đề nghị
về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhận tội, không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị
Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan điều tra, điều tra viên, cán bộ
điều tra, viện kiểm sát, kiểm sát viên đều đảm bảo đúng quy định của pháp luật,

3
không bị khiếu nại nên xác định hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến
hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo
tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại; phù hợp với tang vật thu
giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng
09 giờ ngày 28/11/2022, tại khu vực quán điện tử “Net Huân” ở thôn Giang Liễu,
xã Phương Liễu, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, bị cáo Nguyễn Lương T đã có
hành vi dùng tay trái cầm 01 chiếc áo khác màu đen chùm đầu anh Nguyễn Trung
D đồng thời dùng tay phải với giật lấy 01 chiếc điện thoại di động Oppo A9 màu
xanh trị giá 1.800.000 đồng của anh D đang để trên bàn máy vi tính, sau đó bỏ
chạy. Hành vi của bị cáo Nguyễn Lương T đã phạm tội “Cướp giật tài sản” được
quy định tại khoản 1 Điều 171 BLHS như cáo trạng của VKSND huyện Quế Võ đã
truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến
quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến
trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hành phạt tương
xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội và
cũng để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với
bị cáo thì thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, quá
trình điều tra và tại phiên toà đều thành khẩn khai báo, ăn năn, hối hận về hành của
mình, bị cáo có thời gian tham gia quân ngũ, ông ngoại của bị cáo là cụ Nguyễn Tăng
Th được tặng thưởng huân chương kháng chiến, người bị hại cũng xin giảm nhẹ hình
phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1,
khoản 2 Điều 51 BLHS. Do gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của địa
phương, bố bị cáo là người tàn tật. HĐXX xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần
phạm tội này bị cáo chưa từng phạm tội nào khác, việc xem xét cho bị cáo giáo dục, cải
tạo tại địa phương không ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự, nên HĐXX thấy
không cần thiết phải xử phạt tù giam bị cáo mà cho bị cáo giáo dục, cải tạo tại địa
phương cũng đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội như đề nghị
của đại diện VKS là có căn cứ.
Do bị cáo làm nghề tự do, không có nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình khó
khăn nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Trung D xác nhận đã nhận lại tài
sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên về trách nhiệm dân sự không đặt ra
xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Lương T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 171, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65
BLHS; Điều 136 và Điều 328 BLTTHS; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa
án, xử phạt:

4
- Bị cáo Nguyễn Lương T 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo,
thời hạn thử thách là 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 28/02/2023. Quyết
định trả tự do cho bị cáo tại phiên toà.
Giao bị cáo cho UBND xã Thiệu Hoà, huyện Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá
giám sat, giáo dục trong thời gian thử thách.
Bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định
của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo
cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được
hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều
92 Luật thi hành án hình sự.
3. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Lương T phải chịu án phí HSST là 200.000
đồng.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người
bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được
bản án tống đạt hợp lệ./.
Nơi nhận:
- TAND, VKSND, Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh;
- VKS, CA, Chi cục THADS huyện Quế Võ;
- Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh;
- Bị cáo;
- Người bị hại;
- Lưu HS, VP.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
TP - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Hoài Phƣơng
HỘI THẨM NHÂN DÂN TP – CHỦ TỌA PHIÊN
TÒA
Nguyễn Quang Tuyến - Ngô Thuỳ Phƣơng Phạm Thị Hoài Phƣơng

5
TÒA ÁN NHÂN DÂN H. QUẾ VÕ
TỈNH BẮC NINH
____________
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
____________________________________
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi……giờ, ngày 28 tháng 02 năm 2023;
Tại: Phòng nghị án Trụ sở TAND huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hoài Phương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Tuyến và bà Ngô Thuỳ
Phương;
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2023/HSST ngày
03/02/2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Lƣơng T, sinh năm 1990;
HKTT: Thôn Thái Khang, xã Thiệu Hoà, huyện Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá;
Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh
tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC
VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƢ SAU:
1. Về tội danh: Bị cáo Nguyễn Lương T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Kết quả biểu quyết nhất trí: 3/3.
2. Về điều luật áp dụng:
Áp dụng khoản 1 Điều 171, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65
BLHS; Điều 136 và Điều 328 BLTTHS; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa
án;
Kết quả biểu quyết nhất trí: 3/3
3. Về mức hình phạt: Xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Lương T 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo,
thời hạn thử thách là 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 28/02/2023. Quyết
định trả tự do cho bị cáo tại phiên toà.
Giao bị cáo cho UBND xã Thiệu Hoà, huyện Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá
giám sat, giáo dục trong thời gian thử thách.
Bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định
của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo
cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được
hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều
92 Luật thi hành án hình sự.
Kết quả biểu quyết nhất trí: 3/3.
4. Về các vấn đề khác:
Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Lương T phải chịu án phí HSST là 200.000 đồng.
6
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người
bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được
bản án tống đạt hợp lệ./.
Kết quả biểu quyết nhất trí: 3/3.
Nghị án kết thúc cùng ngày.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử
cùng nghe và ký tên.
Thành viên Hội đồng xét xử Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Quang Tuyến – Ngô Thuỳ Phƣơng Phạm Thị Hoài Phƣơng
7
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng