Bản án số 52/2019/HSST ngày 19/03/2019 của TAND TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về tội trộm cắp tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 52/2019/HSST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 52/2019/HSST
| Tên Bản án: | Bản án số 52/2019/HSST ngày 19/03/2019 của TAND TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về tội trộm cắp tài sản |
|---|---|
| Tội danh: | 138.Tội trộm cắp tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Buôn Ma Thuột (TAND tỉnh Đắk Lắk) |
| Số hiệu: | 52/2019/HSST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 19/03/2019 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
- -
Bản án số: 52/2019/HSST
Ngày 19/3/2019
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Đình Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hạnh và bà Nguyễn Thị Thanh
Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Khổng Thị Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố
Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột: Ông Phạm Đức Lễ
- Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma
Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2019/HSST ngày 20
tháng 02 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2019/QĐXXST-HS
ngày 07 tháng 3 năm 2019, đối với:
DUY H.
Sinh năm: 30/6/1993, tại: Nghệ An.
Nơi đăng ký HKTT và nơi cư trú hiện nay: Xóm N, xã V, huyện Y, tỉnh
Nghệ An; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo:
Không; con ông Nguyễn Duy C (đã chết) và con bà Nguyễn Thị L (đã chết); bị cáo
chưa có vợ, con.
- Tiền án: Có 01 tiền án. Ngày 11/01/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Diễn
Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 01 năm 03 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, tại Bản
án số: 05/2017/HSST. Ngày 13/01/2018, chấp hành xong hình phạt. Bị cáo chưa
được xóa án tích.
- Tiền sự: Không.
- Nhân thân: + Ngày 24/8/2016, bị công an xã Văn Thành, huyện Yên
Thành, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, mức
phạt 1.500.000 đồng.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/12/2018. Hiện đang bị tạm giam
tại Nhà tạm giữ Công an Tp. Buôn Ma Thuột.
Người bị hại: Ông Ngô Văn M. Sinh năm: 1960.
2
Trú tại: Đường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Trần Phước M. Sinh năm 1970.
Trú tại: Đường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
Bị cáo Nguyễn Duy H bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột
truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào khoảng 06 giờ 00 ngày 06/12/2018, Nguyễn Duy H một mình đi bộ qua
trước nhà ông Ngô Văn M, địa chỉ: 78 Nguyễn Công Trứ, phường Tự An, thành
phố Buôn Ma Thuột thì thấy cửa nhà mở, tại cửa ra vào có một chiếc ô tô tải đang
đậu. Thấy vậy, H chui qua gầm xe tải, đột nhập vào tầng trệt nhà ông M và trốn
dưới gầm bàn quầy tính tiền trong phòng khách. Khoảng 15 phút sau, ông M từ
trên tầng 01 đi xuống, điều khiển xe mô tô chở cháu đi học và khóa cửa nhà lại.
Quan sát thấy không có ai, H lén lút vào phòng ngủ tại tầng 01 nhà ông M để lục
tìm tài sản. Tại đây, H đi đến bàn học sinh bằng nhựa màu trắng xanh trong góc
phòng rồi dùng tay kéo cánh cửa của ngăn tủ nhỏ trên bàn ra thì thấy có một xấp
tiền polyme gồm nhiều mệnh giá 10.000 đồng; 20.000 đồng và một chiếc ví nữ
màu đỏ. H lấy xấp tiền và chiếc ví ra khỏi ngăn tủ rồi mở chiếc ví ra xem thì thấy
bên trong có một xấp tiền polyme gồm nhiều mệnh giá 500.000 đồng; 200.000
đồng; 100.000 đồng và 50.000 đồng. Sau đó, H lấy tất cả số tiền trên bỏ vào túi
quần đang mặc, để chiếc ví lại vị trí cũ và đi ra khỏi phòng. Khi đi đến cầu thang,
H nghe thấy tiếng mở cửa và tiếng xe máy, biết ông M đã về nên H quay lại vào
phòng ngủ để trốn. Khi thấy ông M đi vào phòng ngủ đối diện thì H lẻn đi ra ngoài
để bỏ trốn, vừa đi ra đến cửa phòng thì ông M cũng từ trong phòng đi ra. Khi thấy
H, ông M la lên rồi chạy xuống tầng trệt truy hô đồng thời trình báo đến Công an
phường Tự An, thành phố Buôn Ma Thuột. Lúc này, H chạy ngược lên tầng trên
rồi chạy ra ngoài sân thượng trên mái nhà ông M. Sau đó nhảy xuống mái nhà bên
cạnh, trèo tường xuống đường hẻm 70 Nguyễn Công Trứ và bỏ chạy ra đường
Nguyễn Công Trứ tẩu thoát thì bị người dân và lực lượng Công an phường Tự An,
thành phố Buôn Ma Thuột phát hiện bắt quả tang, thu giữ trên người Nguyễn Duy
H số tiền 7.500.000 đồng. Sau đó, chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra
Công an thành phố Buôn Ma Thuột, xử lý theo thẩm quyền.
Vật chứng Cơ quan điều tra thu giữ: Số tiền 7.500.000 đồng, là tài sản của
Ngô Văn M. Ngày 01/02/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn
Ma Thuột đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông Ngô Văn M nhận quản
lý, sử dụng. Sau khi nhận lại tài sản, ông M không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại bản cáo trạng số: 58/CT-VKS BMT ngày 20 tháng 02 năm 2019 của
Viện Kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột đã truy tố bị cáo Nguyễn Duy H về
tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột giữ
nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính
3
chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân
của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52, điểm h, s khoản 1 Điều
51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy H từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng
tù.
- Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106
Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị HĐXX:
+ Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma
Thuột đã trả lại số tiền 7.500.000 đồng ông Ngô Văn M, là chủ sở hữu hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ diễn biến hành vi phạm tội như trong
bản Cáo trạng; bị cáo không tranh luận, bào chữa gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử
xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Tp. Buôn
Ma Thuột, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, Kiểm sát
viên trong qúa trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ
tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị
cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành
tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đối chiếu lời khai của bị cáo Nguyễn Duy H tại phiên tòa hôm nay là
phù hợp với lời khai của bị cáo, người bị hại, người chứng kiến, biên bản khám
nghiệm hiện trường, vật chứng của vụ án; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác
đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, diễn biến hành vi bị
cáo đã thực hiện nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 06 giờ 00 phút
ngày 06/12/2018, bị cáo Nguyễn Duy H đã đột nhập vào nhà ông Ngô Văn M, số
78 Nguyễn Công Trứ, thành phố Buôn Ma Thuột, lén lút chiếm đoạt số tiền
7.500.000 đồng của ông M thì bị ông M phát hiện, tri hô, sau đó bị người dân và
lực lượng Công an phường Tự An, thành phố Buôn Ma Thuột bắt quả tang. Giá trị
tài sản bị cáo chiếm đoạt là: 7.500.000 đồng.
Vì vậy,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã truy tố bị cáo
về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người,
đúng tội và đúng pháp luật.
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng
đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nH thuộc một trong các
4
trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ
06 tháng đến 03 năm.”
Xeùt tính chaát cuûa vuï aùn, xeùt haønh vi phaïm toäi cuûa bò caùo laø nguy hieåm cho
xaõ hoäi, bò caùo laø coâng daân coù ñuû nhaän thöùc taøi saûn hôïp phaùp cuûa người khác laø
khaùch theå ñöôïc phaùp luaät hình söï baûo veä vaø bieát roõ moïi haønh vi xaâm haïi đến tài
sản của người khác ñeàu phaûi bò tröøng trò. Nhöng vôùi yù thöùc coi thöôøng phaùp luaät
vaø ñoäng cô vuï lôïi, muoán coù tieàn tieâu xaøi nhöng löôøi lao ñoäng, lôïi duïng sô hở của
gia đình ông Ngô Văn M, bò caùo H ñaõ đột nhập vào trong nhà ông M và leùn luùt
chiếm đoạt số tiền 7.500.000 đồng. Haønh vi cuûa bò caùo khoâng nhöõng xaâm haïi ñeán
quyeàn sôû höõu taøi saûn hôïp phaùp cuûa coâng daân maø coøn gaây hoang mang trong quaàn
chuùng nhaân daân, xâm hại đến trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Bị cáo đã có 01 tiền án, ngày 11/01/2017, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện
Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 01 năm 03 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”,
tại Bản án số: 05/2017/HSST. Ngày 13/01/2018, chấp hành xong hình phạt. Bị cáo
chưa được xóa án tích, nhưng ngày 06/12/2018, bị cáo lại tiếp tục phạm tội. Hành
vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp “tái phạm”, nên cần áp dụng tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối
với bị cáo.
Xét về nhân thân, ngày 24/8/2016, bị công an xã Văn Thành, huyện Yên
Thành, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, mức
phạt 1.500.000 đồng.
Do đó, HĐXX thấy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, phải cách ly bị
cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng trừng trị, cải tạo, giáo
dục riêng đối với bị cáo; đồng thời đủ sức răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
Song, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thật thà khai báo và
thật sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội nhưng gây
thiệt hại không lớn; tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu giữ trả lại cho người bị
hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, s
khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét khi lượng hình để thể hiện chính
sách khoan hồng của nhà nước đối với người phạm tội.
Vì vậy, xét mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo
H, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp, cần chấp nhận.
[3] Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106
Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma
Thuột đã trả lại số tiền 7.500.000 đồng ông Ngô Văn M, là chủ sở hữu hợp pháp.
- Về trách nhiệm dân sự: Ông Ngô Văn M không có yêu cầu gì nên HĐXX
không đặt ra để xem xét.
[4] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5
Vì các lẽ trên;
Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự;
[1
Bị cáo Nguyễn Duy H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52, điểm h, s khoản 1 Điều
51 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt Nguyễn Duy H: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam, ngày
06/12/2018.
Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều
106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma
Thuột đã trả lại số tiền 7.500.000 đồng ông Ngô Văn M, là chủ sở hữu hợp pháp.
(Đặc điểm như trong Biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày
01/02/2019 giữa Cơ quan điều tra Công an Tp. Buôn Ma Thuột với ông Ngô Văn
M).
- Về trách nhiệm dân sự: Ông Ngô Văn M không có yêu cầu gì nên HĐXX
không đặt ra để xem xét.
[3] Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ
phí Tòa án:
Bị cáo Nguyễn Duy H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
-VKSND tỉnh,VKSND Tp.BMT; -
-TAND tỉnh;
-Công an Tp.BMT;
-CCTHADS TP, THA phạt tù (để thi hành);
-Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk; ()
-Bị cáo, đương sự;
-Chánh án ;
-Lưu: HS, VP.
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 15/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 14/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 14/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 12/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 06/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 05/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 01/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 27/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 23/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 16/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Bản án số 04/2024/HS-PT ngày 05/02/2024 của TAND TP. Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình về tội trộm cắp tài sản
Ban hành: 05/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 05/02/2024 của TAND huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng về tội trộm cắp tài sản
Ban hành: 05/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 01/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 31/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 31/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 31/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 31/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 30/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 30/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm