Bản án số 480/2026/HS-ST ngày 28/08/2026 của TAND TP. Hà Nội

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 480/2026/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 480/2026/HS-ST ngày 28/08/2026 của TAND TP. Hà Nội
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hà Nội
Số hiệu: 480/2026/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/08/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: BAST 480
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 480/2026/HS-ST Bản án số 480/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 480/2026/HS-ST Bản án số 480/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- - - *&*- - -
Bản án số:480/2026/HS-ST
Ngày: 28/8/2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
- - - - - - - - - **&** - - - - - - - - -
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chử Phương Ngọc.
Thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Huân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Quế
2. Ông Lê Văn Sự
3. Ông Nguyễn Ngọc Thiện.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Trang Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân
Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà
Trần Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên trung cấp.
Trong ngày 28/8/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét
xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 422/2026/QĐXXST-HS
ngày 23/7/2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 530/2026/QĐXXST-HS
ngày 12/8/2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lưu Minh C, sinh năm 2001, tại Bình Thuận.
ĐKNKTT và nơi ở: Thôn N, xã H, tỉnh Lâm Đống; CCCD:
************; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 3/12; Quốc tịch: Việt
Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Giới tính: Nam; Con bà Lưu Thị L; Gia
đình có 2 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:
Ngày 24/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P, tỉnh Bình
Thuận (nay là tỉnh Lâm Đồng) khởi tố về tội Tiêu thụ tài sản do người khác
phạm tội mà có. Hiện vụ án đang tạm đình chỉ theo Quyết định tạm đình chỉ vụ
án số 01/2025/HSST-QĐ ngày 29/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 10 - tỉnh
Lâm Đồng; Tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/10/2025; Hiện đang tạm giam tại
Trại giam S của Công an Thành phố H. Có mặt.
2
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Thị Kim M, luật sư
Phạm Thị H - Văn phòng L2 Đoàn luật sư Thành phố H. Có mặt.
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1993, địa chỉ: Thôn B, xã H,
Thành phố Hà Nội.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1974, địa chỉ: Thôn B, xã H, Thành phố
Hà Nội.
+ Cháu Nguyễn Thị Huyền T, sinh năm 2011; Địa chỉ: Thôn B, xã H,
Thành phố Hà Nội; Đại diện theo pháp luật: Anh Nguyễn Văn V và chị Nguyễn
Thị N là cha mẹ đẻ của cháu T.
Chị N, anh V, cháu T đều có đơn xin xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Gia đình chị Nguyễn Thị N (tên gọi khác là Q) chung sống tại thôn B, xã
H, Thành phố Hà Nội từ năm 2010, chị N có kinh doanh cơ sở thẩm mỹ tại nhà
riêng. Đầu tháng 6/2025, chị N quen biết Lưu Minh C qua mạng xã hội
Facebook, C có tình cảm với chị N. Chị N giới thiệu với C là đã có một con và
không còn sinh sống cùng với chồng nữa. Thời điểm này, C đang sinh sống tại
tỉnh Bình Thuận (nay là tỉnh Lâm Đồng) còn chị N ở Hà Nội. Khoảng tháng
7/2025, C ra Hà Nội gặp chị N 02 lần sau đó quay về Bình Thuận sinh sống và
tiếp tục liên lạc với chị N. Đến giữa tháng 10/2025, do Lưu Minh C muốn duy
trì mối quan hệ tình cảm với chị N, chị N không muốn nên đã chặn tin nhắn,
không liên lạc với C dẫn đến hai bên xảy ra mâu thuẫn. Khoảng 23 giờ ngày
26/10/2025, C đi tàu hỏa từ nhà ra Hà Nội với ý định níu kéo tình cảm với chị
N. Khi đi, C mang theo 01 bình xịt hơi cay nhãn hiệu “American style NATO”
(C mua từ trước trên mạng Internet). Khoảng 05 giờ sáng ngày 28/10/2025, C
xuống tàu và thuê taxi đến nhà chị N. Trên đường đi, C dừng lại ở một cửa hàng
(C không nhớ địa chỉ) để mua 02 chai thuốc trừ sâu hiệu Danitol-S 50EC và 02
con dao nhọn bằng kim loại, kiểu gọt hoa quả với ý định nếu chị N không đồng
ý, C sẽ giết chị N và uống thuốc sâu tự tử. Khoảng 07 giờ ngày 28/10/2025, C
đến nhà chị N tại thôn B, xã H thì gặp bà Đặng Thị L1 là người làm thuê cho gia
đình chị N. Sau khi hỏi thì C đi theo bà L1 vào thẳng phòng ngủ của chị N. Lúc
này, chị N vừa ngủ dậy cùng con gái là cháu Nguyễn Thị Huyền T nên vẫn ngồi
trên giường. Thấy chị N có khách, cháu T đi ra ngoài. Khi cháu T vừa ra ngoài,
C liền chốt khóa cửa phòng bên trong. Chị N vẫn ngồi trên giường. C hỏi chị N
3
“Tại sao em chặn zalo, số điện thoại của anh, tại sao em không vào trong đó với
anh?”, chị N nói “Em không làm được, chồng em đang ở đây không nói chuyện
được, đi ra ngoài nói chuyện!”. C bực tức về việc chị N vẫn đang chung sống
với chồng nên dùng tay phải rút ra 01 con dao cán bằng gỗ từ túi vải màu nâu
đeo trên người đâm vào tường, đoạn gần khung cửa ra vào làm cán dao bị bung
chốt, lưỡi dao bị gập lại vuông góc với cán dao. C vứt dao xuống kệ đựng đồ
trong phòng rồi dùng tay phải lấy ra 01 con dao chuôi nhựa màu hồng, chị N sợ
hãi đứng dậy nói “Anh vứt bỏ dao đi!”, đồng thời chị N giơ tay ra để lấy con dao
trên tay C. C cầm dao lao đến đứng đối diện với chị N đâm một nhát theo hướng
từ ngoài vào trong, chếch từ dưới lên trên, từ phải sang trái trúng vùng ngực trái
(sát nách trái), chị N dùng 02 tay giằng con dao và luôn miệng van xin nhưng bị
C giật dao ra, tay trái C nắm vai chị N, tay phải cầm dao đâm liên tiếp nhiều
nhát vào vùng đầu, người, tay, chân của chị N, trong đó có 01 nhát trúng vùng
cổ bên trái, 01 nhát trúng vùng vai trái, 01 nhát trúng mặt ngoài cánh tay trái, 01
nhát trúng vùng cằm trái, 01 nhát trúng má trái, 02 nhát trúng mặt sau ngoài
cánh tay phải, 01 nhát trúng mu bàn tay phải, 01 nhát trúng mặt trước cẳng chân
trái. Chị N ngã ngồi xuống đất liên tục kêu xin “Anh ơi, em chết mất, em còn
con, con em nó khổ!” và đẩy C ra, nhưng C vẫn tiếp tục đâm thêm 02 nhát nữa
trúng đùi phải của chị N làm dao bị gãy chuôi thì C mới dừng lại. Trong lúc đó
cháu T nghe thấy mẹ hô hoán thì gọi bố, anh V chạy đến đập vỡ cửa kính xông
vào phòng can ngăn, C liền dùng bình xịt hơi cay xịt vào mặt anh V và cháu T
khiến anh V và cháu T bị cay mắt phải chạy ra ngoài. Sau đó, anh V lại chạy vào
phòng bế chị N ra cửa nhà hô hoán người dân cùng đưa chị N đi cấp cứu. Chiến
ngồi trên giường tại phòng ngủ của chị N lấy chai thuốc sâu ra uống với mục
đích tự tử rồi đi ra ngồi ở phòng khách, sau đó bị đau bụng và nôn ra nền nhà.
Chị N được mọi người đưa đi sơ cứu tại Bệnh viện Đ, sau đó được chuyển tuyến
lên Bệnh viện Q1 tiếp tục điều trị đến ngày 04/12/2026 được ra viện.
Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, Công an xã H tiến hành
không chế Lưu Minh C và đưa đến Bệnh viện Đ1 sơ cứu sau đó chuyển Bệnh
viện B điều trị.
Ngày 30/10/2025, Lưu Minh C bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an
Thành phố H tạm giữ trong trường hợp khẩn cấp sau đó bắt tạm giam.
Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu thập dấu vết,
trưng cầu giám định thương tích của người bị hại, trưng cầu giám định các hung
khí thu giữ được. Kết quả như sau:
Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 28/10/2025 của Cơ quan
Cảnh sát điều tra Công an - Thành phố H, xác định: “ Hiện trường xảy ra vụ
việc tại Thẩm mĩ viện N, địa chỉ tại số nhà B, thôn B, xã H, Thành phố Hà Nội.
4
Trên mặt sàn phòng ngủ thứ hai, cách tường phía Nam 0,4m, cách tường phía
Đông 1,85m, phát hiện 01 mảnh kim loại (dạng lưỡi dao), kích thước
(0,12x0,03)m, có một đầu nhọn, sáng màu, trên thân dán tem ghi 13.000 VNĐ
có bám dính nhiều chất dung dịch màu nâu đỏ đã khô (dạng máu) trên toàn bộ
mặt kim loại. Trên giường gỗ trong phòng phát hiện 02 chai nhựa hình trụ có
kích thước cao 0,17m, đường kính 0,07m, màu trắng, có nắp màu xanh, bên
ngoài chai nhựa có dán mác ghi dòng chữ “Thuốc trừ sâu Danitol-S”, bên trong
chứa chất dung dịch dạng lỏng. Một chai đã bị xoáy mở nắp lệch ren xoay, để
đứng, một chai để nằm trong túi bóng đen, còn nguyên, bên trong chứa chất
dung dịch dạng lỏng có cùng chủng loại và kích thước như chai để đứng; 01
bình khí hình trụ có kích thước cao 0,15m, đường kính 0,03m, vỏ kim loại màu
xanh, nắp màu đen, phần nắp có vòi xịt đã mở chốt. Trên kệ nhựa để đồ cá nhân,
phát hiện 01 chiếc dao dạng gọt hoa quả, kích thước (0,23x0,02)m, cán bằng gỗ
bị bung chốt, nứt một phần, lưỡi dao bằng kim loại, bị cong có chiều dài
(0,11x0,02)m, mũi nhọn, còn dán tem ghi 8,000VND.”
Vật chứng vụ án thu giữ gồm: 01 mảnh kim loại dạng lưỡi dao, kích thước
(0,12x0,03)m; 01 thanh nhựa dạng cán dao màu hồng; 01 con dao dạng gọt hoa
quả có kích thước (0,23x0,002)m, cán bằng gỗ bị bung chốt, nứt một phần, lưỡi
dao bị cong, bằng kim loại có chiều dài (0,11x0,002)m, mũi nhọn; 02 chai nhựa
hình trụ có kích thước cao 0,17m, đường kính 0,07m, màu trắng, có nắp màu
xanh, bên ngoài chai nhựa có dán mác ghi dòng chữ “Thuốc trừ sâu Danitol-S”;
01 bình khí hình trụ có kích thước cao 0,15m, đường kính 0,03m, vỏ kim loại
màu xanh, nắp màu đen, phần nắp có vòi xịt đã mở chốt, trên thân bình có ghi
dòng chữ “American style NATO”.
Tại biên bản xác minh thương tích hồi 18 giờ 00 ngày 28/10/2025 tại
Khoa cấp cứu ngoại, Bệnh viện Q1 thể hiện thương tích của chị Nguyễn Thị
N: “Vết thương rách da vùng cổ bên trái, kích thước 2,5x1cm; Vết thương rách
da vùng vai trái, kích thước 3x1cm; 02 vết thương rách da 1/3 trên mặt sau ngoài
cánh tay phải, kích thước vết thương khoảng kích thước 2,5x1cm; Vết thương
rách da mặt ngoài 1/3 trên cánh tay trái, kích thước 3x1cm; 02 vết thương rách
da mặt trước 1/3 dưới đùi phải kích thước 4x1cm và 6x0,5cm; Vết thương rách
da mặt trước 1/3 trên cẳng chân trái, kích thước 4x1cm. Bờ mép các vết thương
gọn, rỉ máu; Vết thương vùng cằm lệch trái, kích thước 5x1cm, bờ mép gọn,
thấu vào trong khoang miệng, rách môi dưới, chảy nhiều máu; Vết thương rách
da vùng má trái, kích thước 4x1cm, bờ mép gọn rỉ máu; Vết thương mu bàn tay
phải, kích thước 8x3cm, bờ mép nham nhở, đáy sạch, đứt gân duỗi ngón 2; Vết
thương vùng ngực trái, tương ứng KLS (khoang liên sườn) 8-9 đường giữa đòn
phải, kích thước 4x1cm, bờ mép gọn, thấu ngực bụng, vết thương tương ứng
5
KLS 3-4 đường giữa đòn trái, kích thước 8x2cm, không thấu ngực, rách cơ ngực
lớn. Thương tích bụng: Rách cơ hoành trái (thông ổ bụng với khoang màng phổi
trái); vết rách mặt trên, dưới gan trái dài 3cm, đã tiến hành phẫu thuật dẫn lưu
khoang màng phổi trái. Vết thương gọn đã cầm máu, mất máu nhiều qua các vết
thương vùng hàm, mặt, cổ trái, tay và đùi phải, cẳng chân trái. Sau mổ được
chuyển về hồi sức cấp cứu theo dõi tiếp. Tiên lượng bệnh nhân: Còn nặng. Tình
trạng mất máu còn. Nguy cơ nhiễm trùng chảy máu sau mổ, rối loạn đông máu.
Nếu không được cấp cứu kịp thời sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng.”
Tại bản Kết luận giám định số 201/KLTTCT-TTPY ngày 16/3/2026 của
Trung tâm P - Sở Y tế Thành phố H đối với tổn thương cơ thể của chị Nguyễn
Thị N, kết luận: “Vết thương gò má – má trái: 03%; Vết thương dưới cằm trái:
02%; 02 vết thương vai trái: 2,98%; Vết thương cánh tay trái: 01%; Vết mổ nách
phải: 02%; Vết mổ cánh tay phải: 02%; Vết thương – vết mổ mu bàn tay phải:
03%; Dẫn lưu màng phổi trái: 01%; 03 vết mổ nội soi ổ bụng: 2,97%; 01 dẫn
lưu mạn sườn phải: 01%; 02 vết thương đùi phải: 3,96%; Vết thương cẳng chân
phải: 01%; Vết thương cẳng chân trái: 01%; 02 vết thương ngực trái: 1,99%;
Tràn dịch – tràn khí màng phổi trái đã đặt dẫn lưu: 03%; Tổn thương cơ hoành
trái, đã phẫu thuật khâu: 21%; Vết thương gan trái, đã khâu: 31%; Tổn thương
thần kinh quay phải đoạn 1/3 trên cánh tay phải, đã phẫu thuật khâu nối: 41%.
Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Nguyễn Thị N tại thời điểm
giám định là: 77% (bảy mươi bảy phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại
Thông tư số 22/2019/TT-BYT. Cơ chế hình thành thương tích: Do vật có cạnh
sắc, vật sắc nhọn gây nên. Hiện chưa đánh giá được hết mức độ di chứng, biến
chứng của các tổn thương. Đề nghị giám định bổ sung sau khi điều trị ổn định ra
viện.”
Tại bản Kết luận giám định số 2371/KL-KTHS ngày 13/3/2026 của
Phòng K - Công an Thành phố H đối với 01 lưỡi dao kim loại có kích thước
11,4cm, bản rộng nhất của lưỡi dao là 2,4cm (ký hiệu A1); 01 tay cầm dao
bằng nhựa màu hồng (ký hiệu A2); 01 dao kiểu dao gọt hoa quả, tay cầm
bằng gỗ, lưỡi dao bị gập vào tay cầm. Dao có chiều dài 21,4m, phần lưỡi dao
10,5cm, bản rộng nhất của lưỡi dao 1,6cm (ký hiệu A3), kết luận: “ Mẫu vật ký
hiệu A1, A2, A3 gửi giám định đều không thuộc các danh mục ban hành kèm
Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ trưởng Bộ C1 quy định
chi tiết một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ
trợ.”
Tại bản Kết luận giám định số 1810/KL-KTHS ngày 13/02/2026 của
Phòng K - Công an Thành phố H, kết luận:
6
“ 1. Trên lưỡi dao kim loại, tay cầm dao màu hồng gửi giám định có dính
máu người, có kiểu gen (theo hệ GlobalFiler) trùng với kiểu gen của Nguyễn
Thị N.
2. Không phát hiện dấu vết máu trên dao gọt hoa quả, tay cầm dao bằng gỗ,
lưỡi dao bị gập vào tay cầm do lượng dấu vết ít, chất lượng dấu vết kém.
3. Chất màu nâu đỏ ghi thu trên nền gạch và đám dung dịch màu nâu ghi
thu trên nền gạch là máu người, có kiểu gen (theo hệ GlobalFiler) trùng với kiểu
gen của Nguyễn Thị N.
4. Trên áo vải màu nâu sẫm, kiểu áo cà sa của nhà sư có dính máu người,
do lượng dấu vết ít, chất lượng dấu vết kém nên không phân tích được kiểu
gen.”
Tại bản Kết luận giám định số 646/KL-KTHS ngày 03/02/2026 của V1 -
Bộ C1 đối với 02 que tăm bông (ký hiệu số 02), 02 chai nhựa có nhãn
“THUỐC TRỪ SÂU Danitol-S 50EC” (ký hiệu số 07), kết luận:
“ - Trên 02 que tăm bông (ký hiệu số 02) và trong 02 chai nhựa đều có
nhãn hiệu “THUỐC TRỪ SÂU Danitol-S 50EC” (ký hiệu số 07) đều tìm thấy
fenpropathrin và fenitrothion.
- Fenpropathrin là thuốc trừ sâu, có liều gây chết trung bình LD50 đối với
chuột qua đường miệng là 66,7-70,6mg/kg thể trọng.
- Fenitrothion là thuốc trừ sâu, có liều gây chết trung bình LD50 đối với
chuột qua đường miệng là 1700-1720mg/kg thể trọng.
Hiện tại chưa có tài liệu khoa học nào công bố liều độc, liều gây chết cụ thể
của fenpropathrin và fenitrothion đối với người”
Tại bản Kết luận giám định số 1547/KL-KTHS ngày 06/02/2026 của
Phòng K - Công an Thành phố H, kết luận: “ 01 bình hình trụ cao 0,15m,
đường kính 0,03m, vỏ kim loại màu xanh, nắp màu đen, thân bình có chữ
“american Style NATO” (ký hiệu số 08) là bình xịt hơi cay. Chất hóa học trong
bình là P1 (tên gọi khác: N1). Pelargonic acid vanillylamide có tác dụng vừa gây
hắt hơi, vừa làm chảy nước mắt và gây rát da”.
Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung thương
tích, thực hiện việc dẫn giải chị Nguyễn Thị N đi giám định bổ sung nhưng chị
N kiên quyết từ chối và không có yêu cầu, đề nghị gì khác.
Đối với anh Nguyễn Văn V và cháu Nguyễn Thị Huyền T bị Lưu Minh C
dùng bình xịt hơi cay vào vùng mặt, mắt, quá trình điều tra, anh V, cháu T từ
chối giám định và không có yêu cầu, đề nghị gì nên Cơ quan điều tra không đề
cập xử lý. Ngày 24/6/2026, Công an Thành phố H ra Quyết định xử phạt hành
chính đối với hành vi sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ không có giấy phép của
Lưu Minh C.
7
Về dân sự: Chị Nguyễn Thị N yêu cầu Lưu Minh C phải bồi thường số tiền
1.000.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 412/CT-VKS-P2 ngày 20/7/2026 Viện kiểm sát nhân
dân Thành phố Hà Nội truy tố Lưu Minh C phạm tội Giết người theo điểm n
khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
- Bị cáo trình bày bị cáo quen chị N qua Facebook, sau khi ra Hà Nội thì
bị cáo có tình cảm với chị N, chị N giới thiệu có chồng con và đang làm công
việc thẩm mỹ, hiện chị đang sống cùng nhà với chồng vì các con, chị N có hứa
với bị cáo sau khi giải quyết xong việc gia đình sẽ theo bị cáo vào Lâm Đồng
chung sống, ban đầu chị N hẹn thời gian 2 năm bị cáo đồng ý, sau đó chị N nói
cho thời gian 5 năm vì hiện công việc đang làm ăn tốt và con còn nhỏ, mẹ già thì
bị cáo cũng nhất trí. Sau đó chị N đã cắt liên lạc với bị cáo. Do biết chị N vẫn
sống cùng chồng không ly hôn, bị cáo ghen tức đã mang theo bình xịt hơi cay
thường mang theo để phòng thân, chuẩn bị 2 con dao để giết chị N, mang theo
thuốc trừ sâu để tự tử ra Hà Nội. Khi gặp chị N thì chị N bảo không nói chuyện
được ở đây vì có chồng ở cùng, chị N từ chối tình cảm không muốn đi theo bị
cáo, do ghen tuông nên bị cáo đã gây thương tích cho chị N. Bị cáo dùng con
dao đầu tiên dâm vào tường làm dao bị cong, bị cáo dùng con dao thứ hai đâm
chị N liên tiếp nhiều nhát với tư thế đứng đối diện, chị N ngồi ở giường, khi đâm
thì không chủ đích vào đâu, do dao bị gãy nên bị cáo dừng lại, lúc này anh V
xông vào cầm dao ở tay nên bị cáo mới xịt hơi cay về phía anh V, do cháu T
đứng bên cạnh nên cũng bị dính vào, chứ không phải do mâu thuẫn với anh V
mà bị cáo xịt hơi cay. Sau đó anh V kéo chị N ra ngoài thì bị cáo uống thuốc sâu
tự tử, bị cáo ra phòng khách ngồi, anh V gọi mọi người đưa chị N đi cấp cứu.
Nay bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, do ghen
tuông không kìm chế bản thân nên vi phạm, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn,
bị cáo là lao động chính, có chị gái mẹ bị cáo tàn tật đang ở cùng gia đình bị
cáo, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm được trở về gia
đình và xã hội. Về dân sự đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định của pháp
luật.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát Thành phố Hà Nội sau khi phân
tích nội dung, tính chất vụ án đã giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội
danh và điều luật như Cáo trạng đã nêu, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm n
khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 57 – BLHS:
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lưu Minh C từ 18 năm đến 20 năm tù về tội
Giết người.
8
Về dân sự: Áp dụng Điều 590- BLDS, buộc bị cáo phải bồi thường cho chị N
tổng số tiền 567.000.000đồng gồm các khoản sau: Chi phí cấp cứu, khám chữa
tại Bệnh viện Q1 là 52.000.000đồng. Chi phí mua thuốc 875.000đồng. Chi phí
thuê phương tiện đi lại: 2.000.000đồng. Chi phí bồi dưỡng phục hồi sức khỏe:
100.000.000đồng. Chi phí phẫu thuật thẩm mỹ, điều trị sẹo: 80.000.000đồng.
Chi phí phục hồi chức năng: 35.000.000đồng. Mất thu nhập thực tế của bị hại:
180.000.000đồng. Tổn thất tinh thần: 117.000.000đồng.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 – BLHS, Điều 106 – BLTTHS, tịch thu
tiêu hủy 01 mảnh kim loại dạng lưỡi dao, 01 thanh nhựa dạng cán dao, 01 con
dao dạng gọt hoa quả, 02 chai nhựa hình trụ, 01 bình khí hình trụ, 01 áo vải màu
nâu sẫm.
Tại phiên tòa, luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày:
- Luật sư Nguyễn Thị Kim M: Nhất trí về tội danh và điều luật truy tố bị
cáo. Đề nghị HĐXX xem xét nguyên nhân và nhận thức của bị cáo, xuất phát từ
việc cả 2 có tình cảm, chị N có những hành động làm cho bị cáo tin tưởng nghĩ
đó là yêu, đáng lẽ chị N nên có sự giải thích rõ ràng nhưng lại chủ động chặn tin
nhắn, bức xúc cách xử sự của chị N nên bị cáo đã có hành vi phạm tội. Bị cáo có
trình độ văn hóa thấp nên nhận thức pháp luật hạn chế, không làm chủ cảm xúc
và bản thân nên xác định chị N có một phần lỗi. Bị cáo khai báo thành khẩn, ăn
năn hối cải, đã nhận thức rõ hành vi vi phạm, mong muốn được hưởng sự khoan
hồng. Về dân sự chị N yêu cầu bồi thường 1 tỷ đồng, hoàn cảnh gia đình bị cáo
rất khó khăn, bản thân bị cáo và em gái chỉ học đến lớp 3, cả 3 mẹ con đều đi
làm thuê nên đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Nhân thân bị cáo
chưa có tiền án tiền sự nên đề nghị HĐXX áp dụng điểm s khoản 1 khoản 2
Điều 51 – BLHS, khoản 8 Điều 3 Nghị quyết 04/2025 của HĐTP TATC xử phạt
bị cáo mức hình phạt thấp hơn Viện kiểm sát đề nghị.
- Luật sư Phạm Thị H: Hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, mẹ bị cáo
là mẹ đơn thân nuôi 2 con, gia đình hiện đang ở nhà tình thương, có bác ruột ở
cùng là người tàn tật. Bị cáo có tuổi đời còn trẻ, được nuôi dạy trong hoàn cảnh
không đầy đủ bố mẹ, trình độ văn hóa thấp, khi có tình cảm với chị N bị chị N
từ chối đã không kìm chế bản thân đã gây án, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ
hình phạt cho bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
9
Hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng
nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều
tra, truy tố và xét xử bị cáo và người tham gia tố tụng không có khiếu nại gì. Do
vậy các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đều là hợp pháp.
[2] Về nội dung:
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với các tài liệu
chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: Khoảng tháng 6/2025 Lưu
Minh C và chị Nguyễn Thị N quen biết nhau thông qua mạng xã hội Facebook.
Quá trình quen biết, Lưu Minh C nảy sinh tình cảm với chị N, do muốn níu kéo
mối quan hệ tình cảm với chị N nhưng bị từ chối nên Lưu Minh C đi từ Lâm
Đồng ra Hà Nội để gặp chị N nói chuyện. Khoảng 7 giờ ngày 28/10/2025, tại
phòng ngủ của gia đình chị N tại thôn B, xã H, Thành phố Hà Nội, do ghen
tuông Lưu Minh C có hành vi sử dụng dao bằng kim loại dạng dao gọt hoa quả
đâm nhiều nhát vào người chị N, trong đó có một nhát trúng vùng ngực trái vào
khoang liên sườn 3-4 đường giữa đòn trái làm chị N bị rách cơ ngực lớn, rách cơ
hoành trái (thông ổ bụng với khoang màng phổi trái), rách mặt trên, dưới gan
trái, nhiều nhát trúng vùng cổ bên trái, vai trái, mặt sau ngoài cánh tay phải, mặt
ngoài cánh tay trái, vùng cằm trái thấu vào trong khoang miệng làm rách môi
dưới, má trái, mu bàn tay phải làm đứt gân duỗi ngón 2, mặt trước cẳng chân
trái, đâm 02 nhát trúng đùi phải của chị N, đến khi dao bị gãy chuôi C mới dừng
lại, gây thương tích cho chị N với tỷ lệ 77%. Như vậy, chỉ vì ghen tuông khi
thấy chị N từ chối tình cảm của mình và vẫn chung sống cùng chồng, Lưu Minh
C đã có hành vi dùng dao đâm bị hại nhiều nhát vào nhiều vị trí trên cơ thể với
mục đích giết chết chị N, gây nên tỷ lệ thương tích rất lớn, trong đó có nhiều
nhát vào vị trí gây nguy hiểm đến tính mạng bị hại đã đủ yếu tố cấu thành tội
Giết người với tình tiết định khung là mang tính chất côn đồ theo quy định tại
điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự, điều khoản này quy định hình
phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, chung thân hoặc tử hình.
[3] Như vậy Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về
tội danh và điều luật như Cáo trạng là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm
đến sức khỏe, tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Bản thân bị cáo
buộc phải biết vấn đề tình cảm hai bên là phải hoàn toàn tự nguyện, bị cáo biết
rõ chị N vẫn chưa ly hôn chồng, chỉ vì cho rằng chị N không muốn có quan hệ
tình cảm với mình mà bị cáo đã có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng, bị
cáo phạm tội có dự mưu từ trước, dám vào tận trong nhà để giết bị hại thể hiện
sự táo bạo, liều lĩnh nên cần thiết phải xử lý nghiêm minh nhằm răn đe, giáo dục
chung.
10
[5] Khi quyết định hình phạt HĐXX xét:
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành
vi phạm tội, nhân thân chưa có tiền án tiền sự nên HĐXX xem xét áp dụng điểm
s khoản 1 khoản 2 Điều 51 - BLHS giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Do bị hại không chết nên bị cáo phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt,
HĐXX áp dụng quy định tại Điều 57 - BLHS cho bị cáo.
Bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, do vậy cần thiết phải áp dụng hình
phạt tù với thời hạn nhất định mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa
chung.
[6] Về dân sự:
Chị N có đơn yêu cầu bị cáo bồi thường các khoản sau:
- Chi phí cấp cứu, khám chữa tại Bệnh viện Q1: 300.000.000đồng.
- Chi phí mua thuốc 50.0000.000đồng.
- Chi phí thuê phương tiện đi lại: 2.000.000đồng.
- Chi phí bồi dưỡng phục hồi sức khỏe: 100.000.000đồng.
- Chi phí phẫu thuật thẩm mỹ, điều trị sẹo: 100.000.000đồng.
- Chi phí phục hồi chức năng: 35.000.000đồng.
- Mất thu nhập thực tế trong 9 tháng x20.000.000đồng/tháng =180.000.000đồng.
- Tổn thất tinh thần: 200.000.000đồng.
Xét thấy: Chi phí khám chữa bệnh tại Bệnh viện Q1 103 chị N xuất trình có hóa
đơn chứng từ hợp lệ là 105 triệu đồng, trong đó bảo hiểm chi trả
48.638.000đồng, thực tế bị hại chỉ chi trả 52.129.000đồng nên chỉ có căn cứ
chấp nhận 52.129.000đồng. Chi phí mua thuốc hóa đơn hợp lệ chỉ có căn cứ
chấp nhận 875.000đồng, chi phí thẩm mỹ có hóa đơn hợp lệ có căn cứ chấp
nhận 80.000.000đồng. Với tỷ lệ thương tích 77% và đa vết thương thì yêu cầu
bồi dưỡng phục hồi sức khỏe 100.000.000đồng, chi phí thuê phương tiện đi lại
2.000.000đồng là phù hợp nên có căn cứ chấp nhận. Chi phí phục hồi chức năng
có hóa đơn hợp lệ nên có căn cứ chấp nhận 35 triệu đồng. Đối với yêu cầu mất
thu nhập 20 triệu/tháng trong 9 tháng mặc dù không có tài liệu nhưng với nghề
nghiệp của chị N và tỷ lệ thương tích thì yêu cầu này là phù hợp nên chấp nhận
tổng số tiền mất thu nhập là 180 triệu đồng. Về tổn thất tinh thần theo quy định
có căn cứ chấp nhận toàn bộ là 117.000.000đồng. Vậy tổng số tiền có cơ sở
chấp nhận là 567.000.000đồng. Bị cáo cho rằng bị hại từ chối tình cảm của
mình, ghen tuông nên gây thương tích cho bị hại nên bị hại không có lỗi, buộc bị
cáo phải bồi thường toàn bộ 567.000.000đồng cho bị hại.
[7] Về vật chứng:
11
Đối với 01 mảnh kim loại dạng lưỡi dao, 01 thanh nhựa dạng cán dao, 01
con dao dạng gọt hoa quả, 02 chai nhựa hình trụ, 01 bình khí hình trụ, 01 áo vải
màu nâu sẫm đều là vật chứng vụ án nên tịch thu tiêu hủy.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ
thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51,
Điều 38, Điều 57 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Lưu Minh C 17 (mười bảy)
năm tù về tội Giết người. Thời hạn tù tính từ ngày 30/10/2025.
2. Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 590 của Bộ luật Dân sự; Điều 106,
Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
2.1, Về dân sự:
Buộc bị cáo Lưu Minh C phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị N tổng số
tiền 567.000.000đồng (năm trăm sáu mươi bảy triệu đồng), gồm: Chi phí khám
chữa bệnh tại Bệnh viện Q1 là 52.129.000đồng, tiền thuốc có hóa đơn
875.000đồng, thuê phương tiện đi lại khám chữa bệnh 2.000.000đồng, bồi
dưỡng phục hồi sức khỏe 100.000.000đồng, phẫu thuật thẩm mỹ có hóa đơn
80.000.000đồng, phục hồi chức năng có hóa đơn 35.000.000đồng, tổn thất tinh
thần 117.000.000đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn
yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án thì phải
trả lãi đối với số tiền chậm trả theo thỏa thuận của các bên nhưng không vượt
quá mức lãi suất được quy định tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự, nếu
không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 - Bộ
luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật
Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật Thi hành án dân sự.
2.2, Về vật chứng:
12
Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh kim loại dạng lưỡi dao, 01 thanh nhựa dạng
cán dao, 01 con dao dạng gọt hoa quả, 02 chai nhựa hình trụ, 01 bình khí hình
trụ, 01 áo vải màu nâu sẫm.
(Toàn bộ vật chứng hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng của Công an
Thành phố H).
2.3, Về án phí: Bị cáo Lưu Minh C phải nộp 200.000đồng án phí hình sự
sơ thẩm, 26.680.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
2.4, Về quyền kháng cáo:
Bị cáo Lưu Minh C có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án. Chị Nguyễn Thị N, anh Nguyễn Văn V, cháu Nguyễn Thị Huyền T
đều có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.
Anh V, cháu T chỉ có quyền kháng cáo về phần có liên quan.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Chử Phương Ngọc
13
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Chử Phương Ngọc
14
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 480/2026/HS-ST Bản án số 480/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 480/2026/HS-ST Bản án số 480/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất