Bản án số 48/2017/HNGĐ-ST ngày 19/09/2017 của TAND huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu về vụ án ly hôn về bạo lực gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 48/2017/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 48/2017/HNGĐ-ST ngày 19/09/2017 của TAND huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu về vụ án ly hôn về bạo lực gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Vĩnh Lợi (TAND tỉnh Bạc Liêu)
Số hiệu: 48/2017/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/09/2017
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chị X yêu cầu ly hôn với anh L
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN VĨNH LỢI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH BẠC LIÊU
Bản án số: 48/2017/ HNGĐ-ST
Ngày: 19/9/2017
V/v: ly hôn nuôi con khi ly hôn
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỢI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Thụy Lan Chi
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Trung Kiên
2. Ông Trần Hồng Tƣ
- Thư phiên tòa: Nguyễn Hồng Đào - TTòa án nhân n huyện
Vĩnh Lợi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu: Ông
Trƣơng Trung Tín - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 19 tháng 9 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi xét x
sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 161/2017/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 7
năm 2017 về việc “ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử số 45/2017/QĐXXST-HNngày 15 tháng 8 năm 2017 giữa các đương
sự:
1. Nguyên đơn: Chị Thị X, sinh năm 1992, (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp L, xã T, huyện L, tỉnh Bạc Liêu.
2. Bị đơn: Anh Phạm Văn L, sinh năm 1986, (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp L, xã T, huyện L, tỉnh Bạc Liêu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 19 tháng 7 năm 2017 và các lời khai tiếp theo tại Tòa
án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, nguyên đơn chị Thị X trình bày: chị đăng kết
hôn với anh Phạm Văn L tại Ủy ban nhân dân T, huyện L, tỉnh Bạc Liêu vào ngày
29/7/2011 (giấy đăng số 145/2011, quyển số 06). Quá trình chung sống chị anh
phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không hòa hợp; Thực tế, chị và anh L đã
ly thân khoảng 01 tháng nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu
cầu ly hôn với anh L.
2
Về nuôi con chung: Vợ chồng 01 người con chung cháu Phạm Tấn C sinh
ngày 05/11/2011 hiện đang sống chung với anh L. Nếu ly hôn, chị đồng ý giao cháu C
cho anh L tiếp tục nuôi dạy, chị không cần phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung chị với anh L tự thỏa thuận, nợ chung không có nên không yêu
cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn anh Phạm Văn L trình bày tại biên bản lấy lời khai biên bản
hòa giải ngày 27/7/2017 tại Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi: Về thời gian xây dựng
hôn nhân, con chung, tài sản chung nchung anh L đồng ý với lời trình bày của
chị Thị X Trong khoảng thời gian 06 năm chung sống thì vợ chồng anh mâu
thuẫn, cải vả. Nguyên nhân mâu thuẫn do thỉnh thoảng anh có đánh bài nên chị X biết
được cải vả với anh. Bản thân anh không kiềm chế được nên anh đánh chị X.
Hiện nay anh và chị X đã ly thân khoảng 01 tháng nay. Tuy nhiên, nay chị X yêu cầu
ly hôn với anh thì anh không đồng ý còn thương chị X. Trong trường hợp Tòa án
căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị X đối với anh thì anh yêu cầu được nuôi
cháu Phạm Tấn C, không yêu cầu chị X cấp dưỡng nuôi con. Nợ chung không có nên
không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tài sản chung anh chị X tthỏa thuận, không
yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi phát biểu ý kiến tại phiên tòa:
Về thủ tục tố tụng: Qua thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong tố tụng dân sự. Từ khi thụ cho đến phiên tòa hôm nay, Thư ký, Thẩm phán
được phân công giải quyết vụ án và Hội đồng xét xử tuân thủ đúng theo quy định của
Bộ luật tố tụng dân sự, các đương sự thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình,
Viện kiểm sát không phát hiện vi phạm.
Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ trong hồ vụ án thì hôn nhân giữa
chị Xuyên anh Lợi đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được cần chấp
nhận yêu cầu ly hôn của chị X đối với anh L. Cần ghi nhân sự thỏa thuận của anh L
chị X giao cháu C cho anh L tiếp tục nuôi dạy. Án phí hôn nhân gia đình chị X
phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án đã được xem xét tại phiên
tòa. Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi nhận định:
[1] Về tố tụng: Vào ngày 27 tháng 7 năm 2017 Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi
tiến hành thụ lý đơn khởi kiện về việc yêu cầu ly hôn của chị Thị X với anh Phạm
Văn L. Cùng thời gian nêu trên Tòa án cũng tiến hành làm việc được với anh L do
anh L tự đến Tòa án. Sau đó, Tòa án tống đạt đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng cho
anh L nhưng anh L không đến tham gia hòa giải xét xử. Riêng chị X đơn yêu
cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật
tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị X và anh L.
3
[2] Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Thị X anh Phạm Văn L là hôn nhân
hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng chị X và anh L phát sinh mâu thuẫn do
anh L đánh bài nên giữa anh chị X cải nhau mỗi lần cải vvới chị X thì anh L
luôn không kiềm chế được sự nóng giận hành động dùng bạo lực với chị X;
Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân tồn tại bền vững thì phải da trên cơ sở tự nguyện,
vợ chồng phải biết yêu thương, chăm c giúp đỡ lẫn nhau cùng nhau xây dựng gia
đình phát triển. Nguyên nhân của smâu thuẫn là do anh L không lo làm ăn, lại đi
đánh bài khi về thì vợ chồng cải vvới nhau; Khi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn
thì bản thân anh L lại không tìm cách giải quyết còn đánh chị X, làm mâu thuẫn
vợ chồng anh chị càng trầm trọng hơn thực tế, anh L chị X hiện nay đã ly thân.
Từ đó, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị X đối với anh L.
[3] Về tài sản chung: chị X anh L tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải
quyết. Về nợ chung anh L chị X thống nhất xác định quá trình chung sống vợ
chồng anh chị không nợ ai cũng như không ai nợ vợ chồng anh chị không
yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[4] Về con chung: chị X và anh L chung sống với nhau có một người con chung
cháu Phạm Tấn C; Theo yêu cầu của anh L nếu Tòa án căn cứ giải quyết ly hôn
thì anh yêu cầu nuôi dưỡng cháu Phạm Tấn C, điều này được chị X đồng ý. Do đó,
Hội đồng xét xử xét thấy cần ghi nhận sự thỏa thuận của anh L và chị X về con chung
tiếp tục giao cháu Phạm Tấn C sinh ngày 05/11/2011 cho anh L chăm sóc, giáo
dục. Ch vẫn quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai
quyền cản trở.
[5] Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Anh Phạm Văn L không yêu cầu chị
Thị X cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Án phíthẩm hôn nhân gia đình, chLê Thị X phải chịu 300.000 đồng
(Ba trăm nghìn đồng), nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lợi.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35 khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227,
khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia
đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí lệ pTòa
án.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Thị X đối với anh Phạm
Văn L.
4
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Phạm Tấn C, sinh ngày 05/11/2011 cho anh
Phạm Văn L nuôi dạy, giáo dục. Cháu C đang sống chung với anh L. Chị Lê Thị X có
quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Phạm Văn Lợkhông yêu cầu chị Thị X cấp
dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
3. Về tài sản chung: Chị Lê Thị X anh Phạm Văn L tự thỏa thuận nên không
yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về nợ chung: Không có nên không đặt ra xem xét.
5. Án phí thẩm hôn nhân gia đình, chị Thị X phải chịu 300.000 đồng
án phí sơ thẩm ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị X đã nộp
theo biên lai số 0004388 ngày 27 tháng 7 năm 2017 tại Chi cục thi hành án dân sự
huyện Vĩnh Lợi.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 Điều 9 của Luật thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của
Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời
hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc
không mặt khi tuyên án mà không do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính
từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND huyện Vĩnh Lợi;
- UBND xã T;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Thụy Lan Chi
Tải về
Bản án số 48/2017/HNGĐ-ST Bản án số 48/2017/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất