Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 06/03/2024 của TAND huyện Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 46/2024/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 46/2024/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 06/03/2024 của TAND huyện Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Thủy Nguyên (TAND TP. Hải Phòng) |
| Số hiệu: | 46/2024/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 06/03/2024 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | NGuyễn Lê Huy |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

``
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUỶ NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 46/2024/HS-ST
Ngày 06-03-2024
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Luyến
Bà Nguyễn Thị Lý
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền - Thư ký Toà án nhân dân huyện
Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải
Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên,
thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:
29/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số 33/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Lê H, sinh năm 1976 tại Quảng Ninh. Nơi cư trú: Tổ 1, khu Trạo
Hà, phường Đức Chính, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Công
nhân; trình độ văn hoá: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không;
quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh Thuỷ và bà Nguyễn Thị Hải; có vợ
Ngô Thị Thanh Huyền và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; hiện áp dụng biện
pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Văn
Thành, sinh năm 1973, nơi cư trú: Khu Xuân Cầm, phường Xuân Sơn, thị xã Đông
Triều, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
2
- Người làm chứng: Anh Đoàn Văn Đăng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Lê H là công nhân Công ty TNHH Thành Đạt 268 có địa chỉ tại khu
Xuân Cầm, xã Xuân Sơn, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh do anh Nguyễn Văn
Thành, sinh năm 1973 làm giám đốc. Khoảng tháng 5/2023, do không có giấy
phép lái xe ô tô hạng FC nên Huy nảy sinh ý định làm giấy phép lái xe ô tô hạng
FC giả để sử dụng khi điều khiển xe ô tô đầu kéo trên đường nếu bị lực lượng chức
năng kiểm tra thì Huy sẽ xuất trình để không bị xử lý. Để thực hiện ý định trên,
Huy thông qua mạng xã hội Facebook liên lạc và thỏa thuận với người sử dụng tài
khoản Facebook “Bán bằng lái toàn quốc” (không rõ nhân thân, lai lịch) đặt mua
01 giấy phép lái xe hạng FC giả với số tiền 1.500.000 đồng. Sau đó Huy cung cấp
các thông tin cá nhân, ảnh chân dung và lấy mã số trên giấy phép lái xe ô tô hạng
B2 của Huy (Huy có giấy phép lái xe hạng B2 số 220074000328 do Sở Giao thông
- Vận tải tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 11/01/2023) và để lại số điện thoại di động của
Huy để liên lạc. Khoảng 10 ngày sau, thông qua nhân viên giao hàng (không xác
định được đơn vị giao hàng), Huy nhận được 01 phong bì bên trong có 01 giấy
phép lái xe ô tô số 220074000328, hạng FC mang tên Nguyễn Lê H, sinh ngày
14/4/1976, nơi cư trú: phường Đức Chính, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, ghi
nơi cấp: Sở Giao thông - Vận tải tỉnh Quảng Ninh và trực tiếp trả số tiền 1.500.000
đồng tiền làm giấy phép lái xe giả cho người giao hàng. Sau khi thực hiện xong
giao dịch, Huy đã xóa mọi thông tin liên lạc với bên giao hàng trên điện thoại. Sau
đó, Huy nói dối với anh Đoàn Văn Đăng, sinh năm 1982, trú tại thôn Phong Nội,
xã Bình Dân, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương (lái xe của Công ty Thành Đạt
268) về việc Huy đã có giấy phép lái xe ô tô hạng FC.
Khoảng 15 giờ ngày 05/9/2023 anh Nguyễn Văn Thành giao cho anh Đoàn
Văn Đăng điều khiển xe đầu kéo nhãn hiệu CNHTC mang BKS 14C - 348.25 và
Sơmi Rơ moóc tải nhãn hiệu CIMC mang BKS 98R - 005.46 chở gạch đến thành
phố Hải Phòng vào ngày 06/9/2023. Do có việc bận và nghĩ rằng Huy đã có giấy
phép lái xe ô tô hạng FC nên anh Đăng nhờ Huy điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS:
14C-348.25 kéo theo Sơmi Rơmoóc BKS: 98R-005.46 chở hàng đi giao thay anh
Đăng, Huy đồng ý. Khoảng 04 giờ ngày 06/9/2023, Huy một mình điều khiển xe ô
tô đầu kéo kéo theo Sơmi Rơmoóc nêu trên chở gạch từ thị xã Đông Triều, tỉnh
Quảng Ninh đến khu vực Tràng Cát, quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Sau khi
giao hàng xong, khoảng 7 giờ 25 phút cùng ngày, khi Huy đang điều khiển xe trên
đường tỉnh lộ 359 đoạn thuộc địa phận xã Tân Dương, huyện Thủy Nguyên, thành
3
phố Hải Phòng thì bị Tổ tuần tra kiểm soát của Trạm Cảnh sát giao thông Lưu
Kiếm, Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố Hải Phòng ra tín hiệu yêu
cầu dừng xe do vi phạm luật giao thông đường bộ. Quá trình kiểm tra Nguyễn Lê
H đã xuất trình cho tổ công tác giấy tờ liên quan và 01 giấy phép lái xe ô tô số
220074000328, hạng FC mang tên Nguyễn Lê H. Do nghi ngờ giấy phép lái xe
trên là giả nên Tổ công tác đã lập biên bản tạm giữ phương tiện và các giấy tờ có
liên quan đồng thời bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thủy
Nguyên giải quyết.
Cơ quan Công an đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở và khu vực có liên
quan của Nguyễn Lê H không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan.
Anh Nguyễn Văn Thành có lời khai thể hiện: Xe ô tô đầu kéo BKS: 14C-
348.25 kéo theo Sơmi Rơmoóc BKS: 98R-005.46 là tài sản của Công ty TNHH
Thành Đạt 268, việc Huy sử dụng giấy phép lái xe hạng FC giả để điều khiển xe
lưu thông trên đường, anh Nguyễn Văn Thành là giám đốc Công ty TNHH Thành
Đạt 268 không biết. Anh đã nhận lại xe và các giấy tờ liên quan nên không có yêu
cầu đề nghị gì.
Tại Kết luận giám định số 238/KL-KTHS ngày 12/10/2023 và số 261/KL-
KTHS ngày 27/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng
kết luận:
- 01 giấy phép lái xe ô tô số 220074000328, hạng FC mang tên Nguyễn Lê H,
sinh ngày 14/4/1976, nơi cư trú: phường Đức Chính, thị xã Đông Triều, tỉnh
Quảng Ninh, ghi nơi cấp: Sở Giao thông - Vận tải tỉnh Quảng Ninh là giả, được
làm giả bằng phương pháp in màu kỹ thuật số.
- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 14000453 của xe ô tô đầu kéo BKS:
14C-34825 tên chủ xe Công ty TNHH Thành Đạt 268 và 01 giấy chứng nhận đăng
ký Sơmi Rơ moóc số 000532 mang BKS: 98R-00546 mang tên Lê Xuân Thành là
thật.
Bản Cáo trạng số 45/CT-VKSTN ngày 24 tháng 01 năm 2024 của Viện
kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo
Nguyễn Lê H về tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo quy định tại
khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên
luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như nội dung bản cáo trạng và
đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51;
Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Lê H từ 09 tháng đến 12 tháng
tù về tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức nhưng cho hưởng án treo, ấn
4
định thời gian thử thách đối với bị cáo. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương
nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Bị cáo phải chịu án phí
hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo Nguyễn Lê H thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung
cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên tại
phiên tòa. Trong lời nói sau cùng, bị cáo nhận thấy hành vi bị cáo đã thực hiện là
sai trái, vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử khoan hồng khi quyết định
hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an
huyện Thủy Nguyên, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên,
Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự
thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại
phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu
nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng đã thu thập và thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều
tra, các bản Kết luận giám định số 238/KL-KTHS ngày 12/10/2023; số 261/KL-
KTHS ngày 27/10/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải
Phòng, lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, lời khai người
làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra,
công bố công khai tại phiên tòa thể hiện: Ngày 06/9/2023 tại đường tỉnh lộ 359
thuộc địa phận xã Tân Dương, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng Nguyễn
Lê H có hành vi sử dụng giấy phép lái xe ô tô số 220074000328, hạng FC giả để
điều khiển xe ô tô đầu kéo kéo theo Sơmi Rơmoóc tham gia giao thông vi phạm
luật giao thông đường bộ bị Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện. Bị cáo có đủ
năng lực hành vi hình sự, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã
phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341
của Bộ luật Hình sự như truy tố và đề nghị kết tội của Viện kiểm sát nhân dân
huyện Thủy Nguyên đối với bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.

5
[3] Tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, xâm phạm trật tự quản lý hành chính
nên cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4.2] Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành
khẩn khai báo, ăn năn hối hận là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy
định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt: Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính
chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng,
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo
Nguyễn Lê H phạm tội ít nghiêm trọng, nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự;
không có tình tiết tăng nặng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có
nơi cư trú ổn định, rõ ràng; trước khi thực hiện hành vi phạm tội này bị cáo luôn
chấp hành tốt các quy định của Nhà nước, bản thân bị cáo là người dân lao động
thuần tuý nhất thời vi phạm pháp luật nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết
phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù nên áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự
cho bị cáo được hưởng án treo với mức hình phạt trên mức khởi điểm của khung
hình phạt và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo cho bị cáo có cơ hội cải tạo
ngoài xã hội, làm lại cuộc đời cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng
ngừa chung. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát,
giáo dục trong thời gian thử thách. Theo quy định tại khoản 4 Điều 341 của Bộ luật
Hình sự bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng xét bị
cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị
cáo.
[6] Về vật chứng: 01 giấy phép lái xe ô tô số 220074000328, hạng FC mang
tên Nguyễn Lê H giả là vật chứng trực tiếp liên quan đến hành vi phạm tội của bị
cáo được chuyển cùng hồ sơ vụ án. Đối với xe ô tô đầu kéo BKS: 14C-348.25 và
Sơmi Rơmoóc mang BKS: 98R-005.46 cùng những giấy tờ liên quan, sau khi tiến
hành các hoạt động điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Công ty TNHH Thành
Đạt 268 là có căn cứ và phù hợp với các quy định của pháp luật.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp
luật.
[8] Trong vụ án này còn có đối tượng làm giả giấy phép lái xe ô tô hạng FC
cho Nguyễn Lê H, quá trình điều tra hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch cụ
thể nên Cơ quan điều tra tách ra, làm rõ xử lý sau. Đối với anh Đoàn Văn Đăng
nghĩ rằng Huy đã có giấy phép lái xe ô tô hạng FC (do Huy đã nói dối với anh
Đăng là Huy có giấy phép lái xe ô tô hạng FC) và nhờ Huy điều khiển xe ô tô đầu

6
kéo BKS: 14C-34825 kéo theo Sơmi Rơmoóc BKS: 98R-00546 giao hàng nhưng
anh Đăng không biết giấy phép lái xe ô tô hạng FC của Huy là giả nên Cơ quan
điều tra không xử lý là phù hợp với các quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lê H phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan,
tổ chức”.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ
luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Lê H 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo,
thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Lê H cho Ủy ban nhân dân phường Đức Chính, thị xã
Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực
hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:
Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính
đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo
tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú
mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không
được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều
trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế
đó.
Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép
và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục;
trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và
nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với
Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có
xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú.
Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã
nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được
giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú
hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.
Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.
7
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ
02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải
chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Chuyển theo hồ sơ vụ án 01 giấy phép lái xe ô tô giả có số
220074000328, hạng FC mang tên Nguyễn Lê H.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều
23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Lê H phải chịu 200.000 đồng án phí
hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Lê H có mặt tại phiên toà có quyền
kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án
về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15
ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án
dân sự.
Nơi nhận:
- TAND thành phố Hải Phòng;
- VKSND huyện Thuỷ Nguyên;
- VKSND thành phố Hải Phòng;
- Cơ quan điều tra Công an huyện Thuỷ Nguyên;
- Cơ quan thi hành án hình sự;
- Công an thành phố Hải Phòng;
- Chi cục THADS huyện Thuỷ Nguyên;
- Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
- UBND cấp xã (nơi bị cáo cư trú);
- Bị cáo;
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thị Hà
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 03/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Bản án số 33/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Bản án số 34/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 26/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 26/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 26/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 26/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm