Bản án số 45/2020/HSST ngày 17/02/2020 của TAND TP. Vinh, tỉnh Nghệ An về tội cố ý gây thương tích

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 45/2020/HSST

Tên Bản án: Bản án số 45/2020/HSST ngày 17/02/2020 của TAND TP. Vinh, tỉnh Nghệ An về tội cố ý gây thương tích
Tội danh: 104.Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Vinh (TAND tỉnh Nghệ An)
Số hiệu: 45/2020/HSST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/02/2020
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VINH
TỈNH NGHỆ AN
Bản án số: 45/2020/HSST
Ngày: 17/02/2020
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Hà Thị Thanh Hương
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn C Thẩm và bà Nguyễn Thị Lệ
Hằng.
- Thư phiên toà: Ông Trần n Hoài - Thư Tòa án nhân dân thành
phố Vinh - tỉnh Nghệ An.
- Đại diện VKSND thành phố Vinh tham gia phiên toà: Nguyễn Th
Bích Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh,
tỉnh Nghệ An. Xét xử sơ thẩm C khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:
11/2020/HSST ngày 10 tháng 01 năm 2020. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số 53 /2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2020 đối với các bị cáo:
1. Đặng Minh C, sinh ngày 27/7/1995. Giới tính: Nam; Nơi trú chỗ
hiện nay: Khối 12, phường B, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao
động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc
tịch: Việt Nam; con ông: Đặng Ngọc K, sinh năm 1964 Nguyễn Thị H,
sinh năm: 1968; Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo được tại ngoại. Hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi
trú. Có mặt tại phiên tòa.
2. Đặng Ngọc K, sinh tháng 11 năm 1964. Giới tính: Nam; Nơi trú
chỗ hiện nay: Khối 12, phường B, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; Nghề
nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 7/10; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo:
Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đặng Văn C (đã chết) Lê Thị N
(đã chết); Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1968 có 02 con, lớn sinh năm 1992,
nhỏ sinh năm 1995. Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/9/2019 đến ngày 13/12/2019 được hủy
bỏ tạm giam. Hiện tại ngoại và bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi trú.
mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: Anh Lê Minh T, sinh năm: 1972
Trú tại: Khối 12, phường B, thành phố V, tỉnh N.
2
Vắng mặt tại phiên tòa (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
* Người làm chứng:
1. Anh Huy C, sinh năm 1985. Trú tại: Khối 12, phường B, thành phố
V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa.
2. Ông Khắc T, sinh năm 1952. Trú tại: Khối 12, phường B, thành phố
Vinh, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ ngày 02/02/2019 Đặng Ngọc K đi bộ đến nhà bà
Thị H, sinh năm 1947 trú tại khối 12, phường B, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
để đòi khoản nợ mà H đã nợ Nguyễn Thị H (vợ ông K), nhưng H
không nhà. Lúc này trong nhà H chỉ vợ chồng anh Minh T (con
trai H). Giữa Ký anh T to tiếng cãi vã, xúc phạm nhau, vợ anh T chị
Hằng can ngăn nói ông K về. Lúc này biết ông K cãi nhau nhà anh T thì
chị Hoa (vợ Ký) cầm theo nửa viên gạch Đặng Minh C (con trai Ký) cầm típ
sắt chạy đến nhà anh T, nhưng được anh Huy C (hàng xóm cạnh nhà anh T)
ra can ngăn nên K, chị H và C đi v.
Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, anhMinh T đi mua đồ sinh hoạt cho gia
đình, khi về qua nhà ông Lê Văn Cường, trú cùng khối 12, phường B, thành phố
V, tỉnh N (là hàng xóm cạnh nhà Đặng Ngọc K) thấy ông C đang nấu bánh
chưng trước cổng nhà, nên dừng xe máy lại để hút thuốc lào. Lúc này, Đặng
Minh C đi từ trong nhà mình ra ngoài ngõ thì nhìn thấy anh T. Do bức xúc việc
lúc chiều giữa bmình anh T, nên C đi lại gặp anh T. Giữa Tuấn C đã
cãi vã, to tiếng với nhau. Lúc này Đặng Ngọc K đang trong nhà, khi nghe
tiếng C và anh T cãi nhau ngoài cổng thì đi ra, thấy anh T và Đặng Minh C đang
đứng đối diện nhau cạnh nồi bánh chưng nhà ông C, thấy anh T lấy trong túi
quần bên phải ra một sợi xích làm bằng kim loại dài 120 cm, tung vphía C
nhưng không trúng. Còn Đặng Minh C lấy một chiếc Típ sắt, đường kính 2,1cm
(phi21) bị cong vênh một đầu, lao vào đánh anh T. C dùng tay phải cầm típ sắt
vụt liên tiếp hướng từ trên xuống, từ phải qua trái ngang người anh T. Thấy vậy
Đặng Ngọc K nhặt một thanh củi dài 80 cm, đường kính 4cm trong đống củi
bên đường, chạy lại đánh vào người anh T giúp sức cho C. Lúc này anh T vừa
đưa tay lên chống đỡ vừa lùi ra hướng đường Hồ Sỹ Tân. C cùng nhau
đuổi đánh anh T làm anh T ngã xuống đường, sau đó C Ký bỏ vảo nhà đóng
cổng lại.
3
Hậu quả: Anh Minh T bị vỡ mỏm khuỷu tay trái, gãy xương bàn năm
rạn xương đốt một ngón 4 bàn tay phải được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện
115, tỉnh Nghệ An, vào viện 01 giờ 15 phút ngày 03/02/2019, ra viện ngày
11/02/2019.
Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể do C an phường B lập hồi 0 giờ
ngày 03/02/2019 có những dấu vết sau: 01 (một) vết thương nham nhở hình sao
ở cung gò má bên trái, sưng tại vùng chẩm, máu chảy nhiều; một vết sức nề hạn
chế vận động khuỷu tay bên trái; một vết sưng nề biến dạng ngón IV bàn tay
phải.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 32-TTPY ngày
20/02/2019 của Trung tâm pháp y sở y tế Nghệ An kết luận:
1. - Gãy mõm khuỷu tay trái đã phẩu thuật còn phương tiện kết hợp xương.
- Chấn thương gãy xương bàn V, gãy rạn xương đốt 1 ngón IV bàn tay
phải đang bó bột.
- Sẹo vết thương hình chữ T khóe mắt bên trái sẹo mổ kết hợp xương
nằm dọc khuỷu tay trái.
2. Tổn thương thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định
18% (Mười tám phần trăm).
Quá trình điều tra Đặng Minh CĐặng Ngọc K đều đã khai nhận hành vi
phạm tội của mình.
* Vật chứng vụ án: 01 (một) chiếc Típ sắt dài 70 cm, đường kính 2,1cm
(phi 21) đã bcong vênh một đầu; 01 (một) chiếc gậy gỗ dài 80 cm đường kính
04 cm; 01 (một) sợi xích dài 120 cm, làm bằng kim loại; 01 (một) chiếc mũ bảo
hiểm màu xanh trắng, in chữ (BIDV), phần trên đã bị nứt vỡ vỏ nhựa,
vành mũ gãy vỡ một phần.
* Về dân sự: Bị cáo Đặng Ngọc K, Đặng Minh C đã tự nguyện bồi thường
thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại cho anh Minh T với số tiền 140.000.000
đồng (một trăm bốn mươi triệu đồng). Anh T đã nhận đủ số tiền bồi thường
thiệt hại về sức khỏe và không có yêu cầu gì thêm về dân sự.
Tại Bản o trạng số 53/CT-VKSTPV ngày 10/01/2020, Viện kiểm sát
nhân n thành phố Vinh đã truy tố các bị cáo Đặng Ngọc K, Đặng Minh C v
tội Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 điều 134 Bộ luật
Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh giữ quyền C tố tại phiên
tòa vẫn ginguyên quyết định truy tố như tại Bản cáo trạng số 53/CT-VKS-
TPV ngày 10/01/2020 đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điểm đ Khoản 2
Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm
2015: xử phạt Đặng Minh C từ 24 (Hai mươi tư) đến 27 (Hai mươi bảy) tháng
4
nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 48 (Bốn mươi tám) tháng
đến 54 (Năm mươi tư) tháng. Áp dụng Điểm đ Khoản 2 Điều 134; điểm b, s
khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015: xử phạt
Đặng Ngọc K t 18 (Mười tám) đến 21 (Hai mươi mốt) tháng nhưng cho
hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 36 (Ba mươi sáu) tháng đến 42 (Bốn
mươi hai) tháng. Về trách nhiệm dân sự: Do các bị cáo đã tự nguyện bồi thường
cho người bị hại, người bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường và không có ý kiến
thêm nên miễn xét. Về xử vật chứng: áp dụng điều 106 BLTTHS, điều 47
Bộ luật hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc Típ sắt dài 70 cm, đường kính
2,1cm (phi 21) đã bị cong vênh một đầu; 01 (một) chiếc gậy gỗ dài 80 cm
đường kính 04 cm; 01 (một) sợi xích dài 120 cm, làm bằng kim loại 01 (một)
chiếc bảo hiểm màu xanh trắng, in chữ (BIDV), phần trên mũ đã bnứt
vỡ vỏ nhựa, vành mũ gãy vỡ một phần; Trả lại 20.000.000 đồng cho Bị cáo Ký.
Về án phí: n cứ khoản 2 Điều 135 khoản 2 Điều 136 Bộ luật ttụng hình
sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội buộc các bị cáo Đặng Minh C, Đặng Ngọc K mỗi bị cáo phải chịu
200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
tại phiên tòa, các bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo
trạng của Viện kiểm sát đã quy kết, không tranh luận chỉ đề nghị Hội
đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Riêng Bị cáo Ký trình
bày do trước đây các bcáo chưa thỏa thuận được phần bồi thường thiệt hại sức
khỏe với anh T nên Bị cáo đã tự nguyện nộp trước số tiền bồi thường
20.000.000 đồng tại quan Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh. Nay
các bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho anh T nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên
trả lại số tiền này cho bị cáo theo Biên lai thu tiền mà bị cáo đã nộp cho Tòa án.
Tại phiên tòa vắng mặt người bị hại anh Minh T. Anh T đã đơn xin
xét xvắng mặt và đơn trình bày về phần bồi thường thiệt hại về sức khỏe
thì các bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho anh T số tiền 140.000.000 đồng nên anh
không yêu cầu thêm về phần dân sự. Đồng thời anh T đnghị Hội đồng
xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo cho các bcáo được cải
tạo, giáo dục tại địa phương.
NHN ĐNH CA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của quan điều tra C an
thành phố Vinh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm
sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự,
thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa,
các bị cáo và những người tham gia tố tụng không người nào ý kiến hoặc
khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
5
tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Căn cứ vào: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay,
lời khai của bị hại anh Lê Minh T (BL 40 59); người làm chứng anh Lê Huy C
(BL 175-186), ông Khắc T (BL 187-194); Biên bản thực nghiệm điều tra;
Bản ảnh thực nghiệm điều tra; Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể; Bản kết
luận giám định pháp y về thương tích; vật chứng đã được thu giữ các chứng
cứ, tài liệu khác có tại hồ vụ án đầy đsở để khẳng định: vào khoảng
22 giờ ngày 02/02/2019, tại khu vực ngõ 1 đường Hồ Sỹ Tân thuộc khối 12,
phường B, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An Đặng Minh C đã hành vi dùng 01
(một) chiếc típ sắt dài 70 cm, đường kính 2,1cm (phi21) bị cong vênh một đầu
để đánh vào người anh Minh T Đặng Ngọc K đã hành vi dùng 01
(một) thanh củi dài 80 cm, đường kính 04 cm để đánh vào người anh Minh
T. Hậu quả anh Minh T bị gãy mõm khuỷu tay trái, gãy xương bàn V, gãy
rạn xương đốt 1 ngón IV bàn tay phải; Sẹo vết thương hình chữ T khóe mắt bên
trái sẹo mổ kết hợp xương nằm dọc khuỷu tay trái. Tổn thương thể do
thương tích gây nên tại thời điểm giám định 18%. Do đó, hành vi các bị
cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định
tại điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS 2015 như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã
quy kết.
[2.2]. Đây vụ án thuộc loại nghiêm trọng, tại nơi tập trung đông dân cư,
các bị cáo đã liều lĩnh thực hiện hành vi phạm tội xâm hại trực tiếp đến sức
khoẻ của con người được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an
ninh chính trị, trật tự an toàn hội tại địa phương nên cần phải xét xử nghiêm
mới đủ để giáo dục riêng cũng như phòng ngừa chung.
[2.3]. Xét vai trò, nhân thân của các bị cáo trong vụ án Hội đồng xét x
thấy rằng:
Đây vụ án đồng phạm các bị cáo Đặng Minh C, Đặng Ngọc K đều đã
trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, nguyên nhân xảy ra sự việc xuất phát từ
sự thiếu kiềm chế của các Bị cáo Khi giải quyết khúc mắc, mâu thuẫn trong
cuộc sống, sinh hoạt thường ngày. Bị cáo C giữ vai tchính trong vụ án nên
phải chịu hình phạt cao hơn Bị cáo Ký, Bị cáo Ký tham gia đánh anh T giúp sức
cho C nên cũng cần phải xét xử nghiêm.
Tuy nhiên, xét thấy quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo
đều thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã tự
nguyện khắc phục bồi thường thiệt hại cho người bị hại; người bị hại vắng mặt
nhưng đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. vậy cần áp dụng các
6
tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để
xem xét giảm nhmột phần hình phạt cho các bị cáo. Riêng đối với Bị cáo Ký
HĐXX thấy cần áp dụng điều 54 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ và cho Bị cáo Ký
được hưởng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt phù hợp. Các
bị cáo nhân thân tốt, nơi trú ổn định, ràng, nhiều tình tiết giảm
nhẹ nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống hội mà cho
các bị cáo hội được cải tạo, giáo dục tại địa phương thể hiện sự khoan
hồng của nhà nước đối với người phạm tội như đề nghị của Đại diện Viện kiểm
sát và đề nghị của người bị hại là có căn cứ, cần chấp nhận.
[2.3]. Về trách nhiệm dân sự: Anh Minh T đã nhận đầy đtiền bồi
thường thiệt hại về sức khỏe là 140.000.000 đồng (Một trăm bốn ơi triệu
đồng chẵn) không yêu cầu thêm đối về phần dân sự nên Hội đồng xét x
miễn xét.
[3]. Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc Típ sắt dài 70
cm, đường kính 2,1cm; 01 (một) chiếc gậy gỗ dài 80 cm, đường kính 04 cm mà
các bcáo sử dụng làm C cụ phạm tội; Tịch thu tiêu hủy 01 (một) sợi xích kim
loại dài 120 cm 01 (một) chiếc bảo hiểm màu xanh trắng, in chữ
(BIDV) đã bị vỡ một phần do không còn giá trị sử dụng.
Đối với số tiền 20.000.000 đồng mà bị cáo Đặng Ngọc K nộp tại Chi cục
thi hành án dân sự thành phố Vinh để tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả.
Do người bị hại đã nhận đầy đủ số tiền bồi thường thiệt hại từ các bị cáo nên
khoản tiền này không còn liên quan đến vụ án cần trả lại cho Bị cáo Ký.
[4]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố các bị cáo Đặng Minh C, Đặng Ngọc K đều phạm tội “Cố ý
gây thương tích”.
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51;
Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Đặng Minh C 24 (Hai ơi ) tháng
nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng.
Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 điều 134; điểm b, s khoản 1 điều 51; Điều 54;
Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Đặng Ngọc K 18 (ời tám) tháng
nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng. Thời
gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố Vinh, tỉnh
Nghệ An giám sát giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình các bị
cáo trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát,
giáo dục các bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi trú thì thực hiện
theo quy định tại khoản 1 điều 69 Luật thi hành án hình s.
7
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa
vụ 02 lần trở lên thì Tòa án thể quyết định buộc người được hưởng án treo
phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử vật chứng: áp dụng điều 106 BLTTHS, điều 47 Bộ luật hình
sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc Típ sắt dài 70 cm, đường kính 2,1cm; 01
(một) chiếc gậy gỗ dài 80 cm, đường kính 04 cm; 01 (một) sợi xích kim loại dài
120 cm 01 (một) chiếc mũ bảo hiểm màu xanh trắng, có in chữ (BIDV) đã bị
vỡ một phần .
(Các vật chứng hiện tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự
thành phố Vinh theo phiếu nhập kho vật chứng số NK 0173 ngày 12/02/2020).
Trả lại số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) cho bị cáo Đặng
Ngọc K theo Biên lai thu tiền số 0002250 ngày 10 tháng 02 năm 2020 của Chi
cục thi hành án dân sự thành phố Vinh.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 khoản 2 Điều 136 Bộ luật t
tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Buộc các bo Đặng Minh C, Đặng Ngọc K
mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai tm ngàn đồng) tiền án phí hình sự
thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 332, 333 của Bộ luật tố
tụng hình sự các bị cáo quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày
kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết C khai./.
Nơi nhận:
- Các bị cáo, người bị hại;
- VKSND thành phố Vinh;
- VKSND tỉnh Nghệ An;
- C an thành phố Vinh;
- Trại tạm giam C an tỉnh Nghệ An;
- Chi cục THADS thành phố Vinh;
- Sở Tư pháp Tỉnh Nghệ An;
- UBND phường B;
- Lưu HS
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa
Hà Thị Thanh Hƣơng
Tải về
Bản án số 45/2020/HSST Bản án số 45/2020/HSST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất