Bản án số 45/2020/HSPT ngày 11/02/2020 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tội đánh bạc
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 45/2020/HSPT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 45/2020/HSPT
| Tên Bản án: | Bản án số 45/2020/HSPT ngày 11/02/2020 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tội đánh bạc |
|---|---|
| Tội danh: | 248.Tội đánh bạc (Bộ luật hình sự năm 1999) |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đắk Lắk |
| Số hiệu: | 45/2020/HSPT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 11/02/2020 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 45/2020/HSPT
Ngày: 11 - 02 - 2020
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐĂK LĂK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Đức;
Các Thẩm phán: 1. Ông Trương Công Bình
2. Ông Trần Anh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Vũ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông
Dương Văn Đức - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét
xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2020/TLPT-HS ngày 02 tháng
01 năm 2020 đối với bị cáo Nguyễn Văn T. Do có kháng cáo của bị cáo đối với
Bản án hình sự sơ thẩm số 324/2019/HS-ST ngày 26/11/2019 của Tòa án nhân
dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm 1964, tại: Tỉnh Đắk Lắk; Nơi đăng ký
HKTT và nơi cư trú hiện nay: Đường X, phường TT, thành phố B; quốc tịch: Việt
Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn:
12/12; Con ông Nguyễn Văn Đ (đã chết) và Trần Thị S, sinh năm 1944; Bị cáo có
vợ là Phạm Thị Kim L (đã chết) và có 02 con; con lớn sinh năm 1994, con nhỏ
sinh năm 1996. Bị cáo có vợ hai là Phạm Thị H, sinh năm 1968. Tiền án: Không;
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/7/2019 đến ngày 26/7/2019 được tại ngoại -
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra trong vụ án còn có các bị cáo Phạm Thị H và Phạm Ngọc T1
nhưng không có kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tháng 5/2019, Phan Phạm Trường A (cháu ruột của Phạm Thị H), dẫn
bạn của mình tên B1, trú tại: Thành phố Hồ Chí Minh (chưa xác định được nhân
thân lai lịch) về Đăk Lăk chơi và gặp Phạm Thị H, Nguyễn Văn T. Quá trình nói
chuyện và thấy hoàn cảnh gia đình của T, H sống khổ cực, khó khăn, không có
nhà ở, không có thu nhập ổn định nên B1 đã gợi ý, hướng dẫn cho T và H đánh
2
bạc dưới hình thức ghi lô đề cho các con bạc rồi chuyển các số ghi lô đề cho B1
để nhận tiền hoa hồng thì T và H đồng ý. Do sử dụng điện thoại không thành thạo
nên T nhận ghi, đưa phơi lô đề cho các con bạc và tính tiền thắng, thua trực tiếp
với con bạc, còn H thống kê các con số lô đề mà các con bạc đánh rồi sử dụng
điện thoại liên hệ cho B1 biết số tiền đánh và các con số mà con bạc đánh. Số tiền
thắng thua, hoa hồng sẽ được B1 tính với T và H vào trưa ngày hôm sau.
Vào tối ngày 16/7/2019, Phạm Ngọc T1 và nhiều con bạc khác (không xác
định được nhân thân lai lịch) đi đến nhà T ở đường X, phường TT, thành phố B
(Nhà vợ chồng T mượn ở tạm), gặp T và H để đánh bạc dưới hình thức ghi lô đề
thắng thua bằng tiền thì T và H đồng ý. Tổng số tiền mà T và H đánh bạc là
131.850.000 đồng. Đến ngày 17/7/2019 trong lúc T và H đang thanh toán tiền
thắng thua thì bị bắt quả tang.
Quá trình điều tra T và H đã tự nguyện giao nộp số tiền: 23.000.000 đồng,
là số tiền thu lợi bất chính.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 324/2019/HS-ST ngày 26/11/2019 của
Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng b
khoản 2 Điều 321 BLHS; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51
BLHS
: Xử phạt bị cáo
Nguyễn Văn T
03 năm 03 tháng tù.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về các biện pháp tư pháp, án phí
và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 03/12/2019 bị cáo Nguyễn Văn T kháng cáo
xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và khai
nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng và bản
án hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, quan điểm của Kiểm sát viên cho rằng: Tòa án cấp sơ thẩm
xét xử bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2
Điều 321 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên mức hình phạt 03
năm 03 tháng tù mà bản án sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo là có phần nghiêm khắc.
Bởi lẽ, bị cáo vì hoàn cảnh mà nghe theo lời dụ dỗ ghi lô đề cho đối tượng tên B1
nhằm hưởng hoa hồng chứ bị cáo không phải là chủ lô đề. Sau khi bị phát hiện bị
cáo đã tự nguyện nộp toàn bộ số tiền thu lợi bất chính và khai nhận toàn bộ hành
vi phạm tội thể hiện sự ăn năn hối cải. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo cung cấp
thêm tình tiết là đang bị bệnh đái tháo đường, cao huyết áp, suy thận đang điều trị
tại bệnh viện và bị cáo cần có thời gian để tiếp tục điều trị. Bị cáo là lao động
chính trong gia đình có hoàn cảnh gia đình thực sự khó khăn (nuôi mẹ già yếu và
em ruột bị tâm thần). Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều
355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo
của bị cáo Nguyễn Văn T, sửa Bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt.
Áp dụng điểm b
khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự
. Xử phạt: Bị cáo
3
Nguyễn Văn T
03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời
gian thử thách là 05 (Năm) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm
. Các quyết
định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp
luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét
giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời
khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài
liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận:
Do hoàn cảnh quá khó khăn nên khi được B (không rõ lai lịch) chỉ dẫn cách
nhận ghi lô đề rồi chuyển hết tiền và số mà các con bạc đánh cho B để được
hưởng tiền hoa hồng, nên ngày 16/7/2019 bị cáo nhận ghi lô đề cho Phạm Ngọc
T1 và các đối tượng khác (không rõ lai lịch), đến ngày 17/7/2019 trong lúc đang
thanh toán tiền thắng thua thì bị bắt quả tang. Do đó, có đủ cơ sở pháp lý kết luận
hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm
b Khoản 2 Điều 321 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, Hội đồng xét xử xét thấy:
Mức hình phạt 03 năm 03 tháng tù mà bản án sơ thẩm đã xử phạt bị cáo là
có phần nghiêm khắc. Bởi lẽ, bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu;
quá trình xét xử đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của
mình; bị cáo có hoàn cảnh gia đình thực sự khó khăn như đại diện Viện kiểm sát
đã nêu, bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Quá trình xét xử phúc thẩm, bị cáo
cung cấp thêm tình tiết mới là bị cáo bị nhiều bệnh đang điều trị tại bệnh viện. Do
đó, xét thấy cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm cho bị cáo một phần hình
phạt và cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo
và thể hiện dược chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.
[3] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án
phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật
tố tụng hình sự – Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, sửa Bản án
hình sự sơ thẩm số: 324/2019/HS-ST ngày 26/11/2019 của Tòa án nhân dân thành
phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
4
[2]
Áp dụng điểm b
khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự
.
Xử phạt: Bị cáo
Nguyễn Văn T
03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo
về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm, tính từ ngày tuyên án
phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân phường TT, thành phố B,
tỉnh Đắk Lắk là nơi bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian
thử thách; Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương
trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú, thì
được thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định
của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị
cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[3] Về án phí: Áp dụng Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14,
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
-TAND tối cao;
- VKSND tỉnh Đăk Lăk (02 bản);
- Phòng HSNV Công an tỉnh Đăk Lăk;
- Phòng CSĐT Công an tỉnh Đăk Lăk;
- Sở Tư pháp;
- TAND TP. Buôn Ma Thuột;
- VKSND TP. Buôn Ma Thuột;
- Công an TP. Buôn Ma Thuột;
- Chi cục THADS TP. B;
- Bị cáo;
- Cổng thông tin điện tử TA;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Tấn Đức
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng