Bản án số 42/2020/HSST ngày 21/08/2020 của TAND TX. Bình Long, tỉnh Bình Phước về tội trộm cắp tài sản và tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 42/2020/HSST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 42/2020/HSST
| Tên Bản án: | Bản án số 42/2020/HSST ngày 21/08/2020 của TAND TX. Bình Long, tỉnh Bình Phước về tội trộm cắp tài sản và tội tàng trữ trái phép chất ma túy |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TX. Bình Long (TAND tỉnh Bình Phước) |
| Số hiệu: | 42/2020/HSST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 21/08/2020 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THỊ XÃ BÌNH LONG Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH BÌNH PHƯỚC
Bản án số: 42/2020/HSST
Ngày 21 – 8 - 2020
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đình Tùng
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nông Thị Giới
2. Bà Vũ Thị Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Tân Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã
Bình Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Hùng Phong - Kiểm sát viên
Ngày 21 tháng 8 năm 2020, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân thị xã Bình
Long, tỉnh Bình Phước, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:
44/2020/HSST ngày 24 tháng 7 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
41/2020/HSST - QĐXX, ngày 06 tháng 8 năm 2020, đối với bị cáo: Cao Bình A,
sinh năm 1996, tại tỉnh Bình Phước; Tên gọi khác: Bình; Đăng ký hộ khẩu thường
trú và nơi ở: Tổ 7, ấp HY, xã TH, huyện HQu, tỉnh Bình Phước. Giới tính: Nam;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa; Trình độ học vấn:
5/12; Nghề nghiệp: Không; Tiền sự: Không; Tiền án: 2; Bản án số 03/2015/HSST
ngày 07/01/2015 của Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xử
phạt Cao Bình A 03 tháng tù, thời hạn tù bằng thời hạn tạm giam về tội “tiêu thụ tài
sản do người khác phạm tội mà có”. Bản án số 50/2017/HSST ngày 03/10/2017
của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước xử phạt Cao Bình A 2 năm
6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa xoá án tích. Con ông (không rõ), con bà
Cao Thị R (đã chết). Ngày 31/3/2020 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã
Bình Long bắt quả tang và tạm giữ, tạm giam cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Chị Trần Thị Thu Th, sinh năm 1972 (Có mặt)
Trú tại: Tổ 8, khu phố PhH, phường PhTh, thị xã BL, tỉnh Bình Phước
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Phan Thị Ng, sinh năm 1964 (Xin vắng mặt)
Trú tại: Tổ 5, khu phố Phú Nghĩa, phường Phú Đức, thị xã Bình Long, tỉnh
Bình Phước
2. Chị Trần Thị Kim Hồng, sinh năm 1993; trú tại: Tổ 7, khu phố Xa Cam
II, phường Hưng Chiến, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước (Vắng mặt)
2
3. Anh Nguyễn Thành Luân, sinh năm 1985; trú tại: Tổ 7, khu phố Xa Cam
II, phường Hưng Chiến, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước
4. Anh Bùi Văn Dũng, sinh năm 1987 (Xin vắng mặt)
Trú tại: Tổ 8, khu phố Phú Hưng, phường Phú Thịnh, thị xã Bình Long, tỉnh
Bình Phước
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau: Khoảng 1 giờ 00 phút, ngày 31/3/2020, Cao Bình A đi
tìm tài sản để chiếm đoạt, khi đi ngang nhà chị Trần Thị Thu Th tại tổ 2, ấp Ph L,
xã ThPh, thị xã BL phát hiện nhà không có cổng rào nên A dùng một cái kéo dài
16cm đem theo cạy chốt cửa sau nhà vào phòng khách. Do có ánh sáng đèn điện
nên A thấy có chị Th đang nằm ngủ trên võng. A lén lút chiếm đoạt một điện thoại
di động Samsung J5 màu đồng bị nứt bể màn hình, một điện thoại di động Mastel
màu cam đen loại phím bấm và 4.910.000đ (Bốn triệu chín trăm mười nghìn đồng)
trong rổ nhựa để dưới nền cạnh nơi chị Th nằm và lấy một điện thoại di động Oppo
A91 màu trắng xanh dương tím (có ốp lưng bằng nhựa dẻo) để trên người chị Th,
A cho các tài sản này vào bịch nylon và đi xuống nhà sau tìm kiếm tài sản để
chiếm đoạt tiếp, A mở cốp xe loại Future, biển số 93E1-246.88 lấy một sợi dây
kim loại màu xám (dạng mắt xích) dài 48cm; hai nhẫn kim loại màu vàng; một lắc
lật bằng vàng 18k, trọng lượng 4,06 chỉ; một dây chuyền đeo cổ bằng vàng 18k,
trọng lượng 4,73 chỉ. A đem toàn bộ số tài sản chiếm đoạt quay về nơi ở tại nhà
nghỉ Hương Ngọc thuộc tổ 4, ấp Phú Long, xã Thanh Phú, thị xã Bình Long. A lấy
tiền chiếm đoạt được trả cho người tên Đ 1.000.000đ (Một triệu đồng) và mua của
Đ 1.800.000đ (Một triệu tám trăm nghìn đồng) ma túy đá để sử dụng. An đưa điện
thoại Oppo A91; Samsung J5 và 1.610.000đ (Một triệu sáu trăm mười nghìn đồng)
cho bạn gái tên Trần Thị Kim H đi sửa, mua thức ăn; trả tiền phòng trọ. H sử dụng
số tiền do A đưa trả cho bà Phan Thị Ng chủ nhà nghỉ 600.000đ (Sáu trăm nghìn
đồng), phần còn lại trả nợ, mua thức ăn và card điện thoại. Sau đó đem điện thoại
Oppo A91 đưa cho anh Nguyễn Thành L, đưa điện thoại Samsung J5 cho anh Bùi
Văn D để sửa chữa. Đến khoảng 9 giờ 00 phút, ngày 31/3/2020, Cơ quan Cảnh sát
điều tra - Công an thị xã Bình Long phối hợp với Công an xã Thanh Phú tiến hành
kiểm tra phòng số 5/2 Nhà nghỉ Hương Ngọc phát hiện Cao Bình A đang cất giấu
trong ví da màu đen hai gói nylon trong suốt chứa tinh thể được hàn kín, kích
thước 3,5 x 2,2 cm; 3,2 x 3,0cm. A thừa nhận hai gói nylon chứa ma túy đá nên lực
lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật
chứng theo quy định (ký hiệu là M1).
Ngoài ra còn tạm giữ: một chai nhựa; một nỏ thuỷ tinh; một kéo kim loại dài
16 cm; 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng); một sợi dây chuyền màu bạc; hai nhẫn;
một lắc lật, một dây chuyền vàng; một điện thoại Mastel; một ví da.
Anh Nguyễn Thành L đã giao nộp một điện thoại Samsung J5; anh Bùi Văn
D giao nộp một điện thoại Oppo A91; bà Phan Thị Ng chủ nhà nghỉ giao nộp
600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng) cho Cơ quan điều tra.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐGTS ngày 01/4/2020 của Hội
đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Bình Long, kết luận: Một lắc lật
3
bằng vàng 18k, trọng lượng 4,06 chỉ, trị giá 10.350.000 đồng; một dây chuyền đeo
cổ bằng vàng 18k, trọng lượng 4,73 chỉ, trị giá 12.060.000 đồng; một điện thoại di
động samsung J5 màu đồng bị nứt bể màn hình, trị giá 500.000 đồng; một điện
thoại di động Oppo A91 màu trắng xanh dương tím có ốp lưng bằng nhựa dẻo, trị
giá 5.200.000 đồng; một điện thoại di động Mastel, màu cam đen, loại phím bấm,
trị giá 100.000 đồng. Tổng trị giá 28.210.000đ (Hai mươi tám triệu hai trăm mười
nghìn đồng).
Tại bản Kết luận giám định số 76/2020/GĐ-MT ngày 07/4/2020 của Phòng
Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Phước, kết luận: “Tinh thể màu trắng có
trong hai gói nylon (ký hiệu M1) được niêm phong gửi giám định là Ma túy, loại
Methamphetamine, có khối lượng 0,9986gam (không phẩy chín chín tám sáu gam).
Mẫu vật hoàn lại (sau giám định) được niêm phong có khối lượng 0,7535gam”.
Vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã xử lý trả cho: Trần Thị Thu Th: Một
lắc lật bằng vàng 18k, trọng lượng 4,06 chỉ; một dây chuyền đeo cổ 18k, có trọng
lượng 4,73 chỉ; một điện thoại di động hiệu samsung J5, màu đồng đã bị nứt màn
hình; một điện thoại oppo A91 màu trắng, xanh, dương, tím có ốp lưng và vỏ hộp
điện thoại kèm theo; một điện thoại di động nhãn hiệu Mastel, hai nhẫn kim loại
màu vàng; một sợi dây kim loại màu xám; 1.100.000đ (Một triệu một trăm nghìn
đồng); một túi nilon màu xanh có dòng chữ bệnh nhân Trần Thị Thu Th.
Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017,
khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu huỷ: Một mẫu tinh
thể Methamphetamien có khối lượng 0,7535gam là chất cấm lưu hành; một chai
nhựa dài 8cm, trên đầu cắm một nỏ thủy tinh một ống hút nhựa màu hồng và một
cái kéo bằng kim loại dài 16cm là công cụ sử dụng ma tuý.
Tịch thu nộp ngân sách: Một điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen là
công cụ Cao Bình A dùng để thực hiện hành vi phạm tội.
Trả cho Cao Bình A: Một ví da màu đen nhãn hiệu D&G; Một áo thun màu
xanh, ngắn tay, cổ tròn.
Về dân sự: Căn cứ vào Điều 584, 585 và 589 Bộ luật dân sự 2015 và Điều 48
Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 buộc Cao Bình A trả lại cho
chị Trần Thị Thu Th 3.810.000đ (Ba triệu tám trăm mười nghìn đồng).
Những vấn đề liên quan: Trần Kim H có sử dụng 1.610.000đ (Một triệu sáu
trăm mười nghìn đồng) và đem điện thoại Oppo A91 và Samsung J5 đi sửa chữa
nhưng H không biết các tài sản này là do Cao Bình A phạm tội mà có nên không
xử lý. Bùi Văn D và Nguyễn Thành L có nhận sửa chữa điện thoại của Trần Kim H
nhưng D và L không biết các điện thoại này do phạm tội mà có nên không xử lý.
Cao Bình A khai nhận mua ma tuý của đối tượng tên Đ không rõ lai lịch nên
không có căn cứ xử lý đối tượng này.
Tại bản cáo trạng số: 42/CT - VKS ngày 23/7/2020 của Viện Kiểm sát truy
tố Cao Bình A về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
theo quy định tại khoản 2 Điều 173, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm
2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết
định truy tố như bản cáo trạng căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi và hậu quả,
các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử
4
tuyên phạt bị cáo Cao Bình A mức án từ 2 năm đến 2 năm 6 tháng tù về tội “Trộm
cắp tài sản” và mức án từ 5 năm đến 5 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép
chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử tổng hợp thành hình phạt thành hình phạt
chung buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ,
toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố
tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra
Công an thị xã Bình Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long,
Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa:
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ
tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên
tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra
bị cáo Cao Bình A khai nhận vào khoảng 01giờ 00 phút, ngày 31/3/2020, Cao Bình
A đã lén lút chiếm đoạt tài sản của chị Trần Thị Thu Th tại tổ 2, ấp PhL, xã ThPh, thị
xã BL gồm những tài sản sau: Một điện thoại di động Samsung J5 màu đồng bị nứt
bể màn hình, một điện thoại di động Mastel màu cam đen loại phím bấm, một điện
thoại di động Oppo A91 màu trắng xanh dương tím có ốp lưng bằng nhựa dẻo, một
sợi dây kim loại màu xám dạng mắt xích dài 48cm, hai nhẫn kim loại màu vàng,
một lắc lật bằng vàng 18k, trọng lượng 4,06 chỉ; một dây chuyền đeo cổ bằng vàng
18k, trọng lượng 4,73 chỉ và số tiền 4.910.000đ (Bốn triệu chín trăm mười nghìn
đồng). Tổng trị giá tài sản mà bị cáo Cao Bình A chiếm đoạt của chị Th theo kết
luận định giá tài sản số 25/KL - HĐĐGTS ngày 01/4/2020 của Hội đồng định giá tài
sản trong tố tụng hình sự thị xã Bình Long là 28.210.000 đồng và 4.910.000 đồng
tiền đựng trong rổ nhựa tổng cộng là 33.120.000đ (Ba mươi ba triệu một trăm hai
mươi nghìn đồng). Đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại
khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, nhưng tại
thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Cao Bình A đang có hai tiền án: Bản
án số 03/2015/HSST ngày 07/01/2015 của Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành,
tỉnh Bình Phước xử phạt Cao Bình A 03 tháng tù thời hạn tù bằng thời hạn tạm
giam về tội “tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và Bản án số
50/2017/HSST ngày 03/10/2017 của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình
Phước xử phạt Cao Bình A 02 năm 06 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”, chưa xoá
án tích nay tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội cho nên bị cáo A phải chịu tình tiết
định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm nguy hiểm theo quy định tại
điểm điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm
2017. Sau khi chiếm đoạt được tài sản của chị Thảo bị cáo A lấy tiền mua ma túy
5
về sử dụng, khoảng 9 giờ 00 phút ngày 31/3/2020 quá trình kiểm tra và khám xét
nơi ở của bị cáo A, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Bình Long phối hợp
với Công an xã Thanh Phú tiến hành kiểm tra phòng số 5/2 Nhà nghỉ Hương Ngọc
tại tổ 4, ấp Phú Long, xã Thanh Phú, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước phát hiện
Cao Bình A đang cất giấu trong ví da màu đen hai gói nylon trong suốt chứa tinh
thể được hàn kín, kích thước 3,5 x 2,2 cm; 3,2 x 3,0cm. Bị cáo A thừa nhận hai gói
nylon chứa ma túy đá, lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả
tang và niêm phong vật chứng theo quy định (ký hiệu là M1). Tại kết luận giám
định số 76/2020/GĐ-MT ngày 07/4/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an
tỉnh Bình Phước, kết luận: “Tinh thể màu trắng có trong hai gói nylon (ký hiệu M1)
được niêm phong gửi giám định là Ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng
0,9986gam (không phẩy chín chín tám sáu gam). Đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ
trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm
2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, bị cáo A đang có hai tiền án chưa xoá án tích, nay
tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội cho nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung
tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm o
khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Như vậy bi
cáo Cao Bình A phải chịu mức tổng hợp hình phạt của hai tội theo quy định tại
khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của bị hại, người làm
chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm và quá trình
thực hiện tội phạm, phù hợp biên bản phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ
có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Bản cáo trạng số 42/CT - VKS
ngày 23/7/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long truy tố bị cáo A là
đúng người đúng tội.
Bị cáo Cao Bình A thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi sai trái của
mình chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng mức án thấp, hứa chấp
hành tốt và không tái phạm.
[3] Bị cáo A mang theo một cây kéo sắt lén lút đột nhập vào nhà của chị Th
chiếm đoạt tiền và vàng, vòng, điện thoại di động là liều lĩnh, táo bạo là rất nguy
hiểm, sau khi chiếm đoạt được tài sản của chị Th thì bị cáo dùng tiền chiếm đoạt
được mua ma túy về tàng trữ để sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã
hội xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp tài sản của bị hại và xâm phạm
đến trật tự quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình
chung của xã hội, gây hoang mang trong nhân dân. Cần phải có một mức án
nghiêm nhằm răn đe đối với bị cáo đồng thời giáo dục, phòng ngừa chung. Tuy
nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng cân nhắc cho bị cáo được
hưởng các tình tiết giảm nhẹ, phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo
điê
̉
m s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,
giảm cho một phần hình phạt lẽ ra bị cáo phải chịu.
Đại diện Viện kiểm sát đề xuất mức án phù hợp với nhận định của Hội đồng
xét xử nên được chấp nhận.
[4] Vật chứng vụ án: Một điện thoại di động Samsung J5 màu đồng bị nứt bể
màn hình, một điện thoại di động Mastel màu cam đen loại phím bấm, một điện
thoại di động Oppo A91 màu trắng xanh dương tím có ốp lưng bằng nhựa dẻo, một
6
sợi dây kim loại màu xám dạng mắt xích dài 48cm, hai nhẫn kim loại màu vàng,
một lắc lật bằng vàng 18k, trọng lượng 4,06 chỉ; một dây chuyền đeo cổ bằng vàng
18k, trọng lượng 4,73 chỉ và số tiền 4.910.000đ (Bốn triệu chín trăm mười nghìn
đồng), đã trả lại cho bị hại chị Trần Thị Thu Th.
Một mẫu tinh thể Methamphetamien có khối lượng 0,7535gam là chất cấm
lưu hành; một chai nhựa dài 8cm, trên đầu cắm một nỏ thủy tinh một ống hút nhựa
màu hồng và 01 cái kéo bằng kim loại dài 16cm là công cụ sử dụng ma tuý cần tịch
thu tiêu hủy.
Một điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen của Cao Bình A dùng để
gọi điện mua ma túy cần tịch thu bán nộp ngân sách Nhà nước:
Một ví da màu đen nhãn hiệu D&G; Một áo thun màu xanh, ngắn tay, cổ
tròn là tài sản của bị cáo An cần trả cho Cao Bình A.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Cao Bình A có nghĩa vụ phải hoàn trả
cho chị Trần Thị Thu Th số tiền 3.810.000đ (Ba triệu tám trăm mười nghìn đồng).
[6] Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án thì bị cáo Cao
Bình A phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và
190.500đ (Một trăm chín mươi nghìn năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Cao Bình A phạm tội “Trộm cắp tài sản” và phạm tội
“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Về hình phạt: Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173, điê
̉
m s khoản 1 Điều
51; điểm 0 khoản 2 Điều 249, điê
̉
m s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 55 của Bộ
luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: Cao Bình A 2 (Hai)
năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 5 (Năm) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép
chất ma túy”. Tổng hợp thành hình phạt chung bị cáo phải chấp hành 7 (Bảy) năm
tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 31/3/2020).
2. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo có nghĩa vụ hoàn trả cho chị Trần Thị Thu
Th số tiền 3.810.000đ (Ba triệu tám trăm mười nghìn đồng).
3. Vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung
2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên tịch thu tiêu huỷ: Một mẫu tinh thể Methamphetamien có khối lượng
0,7535gam là chất cấm lưu hành; một chai nhựa dài 8cm, trên đầu cắm một nỏ
thủy tinh một ống hút nhựa màu hồng và 01 cái kéo bằng kim loại dài 16cm.
Tịch thu nộp ngân sách: Một điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen.
Tuyên trả cho Cao Bình A: Một ví da màu đen nhãn hiệu D&G; Một áo thun
màu xanh, ngắn tay, cổ tròn. Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/7/2020.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án thì bị cáo Cao
Bình A phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và
190.500đ (Một trăm chín mươi nghìn năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản
án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự vắng mặt tại phiên tòa
7
có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án
hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Tòa án ND tỉnh Bình Phước; Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- VKSND thị xã Bình Long;
- Công an thị xã Bình Long;
- Chi Cục THA DSTX Bình Long;
- Phòng PV27 – CAT Bình Phước;
- Bị cáo, bị hại;.
- Người CQLNVLQ;
- Lưu hồ sơ.
Lê Đình Tùng
8
Thành viên Hô
̣
i đồng xét xử Thâ
̉
m pha
́
n - Chủ ta phiên ta
Nguyễn Thanh Minh Phạm Mạnh Biện Lê Đình Tùng
9
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Tòa án ND tỉnh Bình Phước; Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- VKSND thị xã Bình Long;
- Công an thị xã Bình Long;
- Chi Cục THA DSTX Bình Long;
- Phòng PV27 – CAT Bình Phước;
- Bị cáo, bị hại;.
- Người CQLNVLQ;
- Lưu hồ sơ.
Lê Đình Tùng
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Bản án số 80/2026/KDTM-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 22/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 16/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Bản án số 16/2026/KDTM-PT ngày 14/02/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 14/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm