Bản án số 42/2019/HS-ST ngày 17/04/2019 của TAND TP. Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 42/2019/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 42/2019/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 42/2019/HS-ST ngày 17/04/2019 của TAND TP. Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh về tội tàng trữ trái phép chất ma túy |
|---|---|
| Tội danh: | 249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Uông Bí (TAND tỉnh Quảng Ninh) |
| Số hiệu: | 42/2019/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 17/04/2019 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ UÔNG BÍ
TỈNH QUẢNG NINH
Bản án số: 42/2019/HS-ST
Ngày: 17-4-2019
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Huy Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Dung và bà Nguyễn Thị Thương.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mai Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí
tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Viết Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2019, tại
phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố
Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai
vụ án hình sự sơ thẩm
thụ lý
số: 39/2019/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số: 40/2019/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Văn T, tên gọi khác: không có; sinh ngày 01/9/1991, tại thị
xã Q, Quảng Ninh. Nơi cư trú: Xóm 3, thôn 7, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh;
nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính:
Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn H và bà Phạm Thị
X; vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1990 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ
nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2010 bị Tòa án nhân
dân huyện Yên Hưng (Nay là thị xã Quảng Yên) xử phạt 15 tháng tù về tội “Cưỡng
đoạt tài sản”, ngày 19/3/2011 chấp hành xong hình phạt tù; bị cáo bị bắt quả tang
ngày 04/01/2019, hiện bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Uông Bí, có
mặt tại phiên tòa.
* Người chứng kiến: 1. Anh Nguyễn Bình Ph, sinh năm: 1980.
Địa chỉ: Tổ 15, khu 5B, phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
2. Anh Hoàng Văn Th, sinh năm: 1983.
Địa chỉ: Tổ 5, khu 9, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

2
án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 00 phút, ngày 04/01/2019, Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội
phạm về ma túy – Công an thành phố Uông Bí phối hợp cùng Công an phường
Thanh Sơn, trong khi làm nhiệm vụ tại tổ 3, khu 9, phường Thanh Sơn đã phát hiện
bắt quả tang Vũ Văn T có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy, khi lực lượng
Công an kiểm tra, T đã thả từ trong lòng bàn tay phải xuống nền đường ngay chỗ
chân T đứng 01 gói nilon màu trắng, kích thước khoảng (3x3)cm, chứa chất tinh
thể màu trắng. Ngoài ra Công an còn thu giữ 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu
đen cùng sim số 0339.869.838; 01 xe mô tô Hoda Wave màu xanh, BKS 14K7 –
7257.
Tại bản Kết luận giám định số 172/GĐMT ngày 09/01/2019, của Phòng kỹ
thuật hình sự, Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma túy
(thu của Vũ Văn T); loại Methamphetamie; khối lượng 0,321 (không phảy ba hai
một ) gam.
Tại Cơ quan điều tra Vũ Văn T khai nhận: Khoảng 18 giờ 50 phút, ngày
04/01/2019 T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển kiểm
soát 14K7- 7527 đến nhà Bùi Đức Th ở tổ 1, khu 8, phường T, thành phố U để trả
nợ Th 300.000đ. Khi gặp Th, Th bảo T dùng số tiền của T để mua ma túy, còn số
tiền nợ trả Th sau, T đồng ý và đưa 300.000đ cho Th. Th bảo T đợi rồi đi khoảng
05 phút thì quay lại, đưa cho T 01 túi ma túy. T cầm túi ma túy ở tay phải rồi điều
khiển xe đi về nhà, trên đường về bị Công an yêu cầu dừng lại để kiểm tra, thấy
vậy T dừng xe và thả túi ma túy xuống nền đường ngay sát vị trí chân T đang
đứng, nhưng đã bị Công an phát hiện và thu giữa vật chứng.
Tại cáo trạng số: 51/CT-VKSUB ngày 28/3/2019 của Viện kiểm sát nhân
dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép
chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đúng như tóm tắt nội
dung vụ án đã nêu.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí giữ nguyên quyết định
truy tố đối với bị cáo theo bản Cáo trạng; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c
khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 12
đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 04/01/2019.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người không có nghề nghiệp, không có tài
sản riêng, đề nghị HĐXX không áp dụng.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật
hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma
túy hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong số 172/GĐMT của
phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, còn nguyên vẹn.

3
+ Đối với chiếc điện thoại Nokia, màu vỏ đen, gắn sim số 0339.869.838, tạm
giữ của Vũ Văn T, quá trình điều tra xác định T không sử dụng vào việc thực hiện
hành vi phạm tội, đã trả lại cho gia đình bị cáo.
+ Đối với chiếc xe mô tô BKS 14K7 -7527, Cơ quan điều tra đã trả lại cho
chủ sỡ hữu là anh Vũ Tuấn H, nên không đề cập.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều
tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của
Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về
thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình
điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài
liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết
định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp
pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời
khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả
tang do Công an phường Thanh Sơn, thành phố Uông Bí lập hồi 20 giờ 10 phút,
ngày 04/01/2019, với vật chứng thu giữ của bị cáo, kết luận giám định và các tài
liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Hồi 20 giờ 00 phút, ngày 04/01/2019, tại tổ 2, khu 9, phường Thanh sơn, thành phố
Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh Vũ Văn T là người có đủ năng lực, trách nhiệm hình sự
có hành vi tàng trữ trái phép 0,321 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích
để sử dụng thì bị Công an phát hiện bắt giữ, thu giữ vật chứng. Hành vi của bị cáo
đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c
khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí truy
tố và kết luận về hành vi phạm tội đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng
tội.
[3] Về hình phạt:
[3.1] Hình phạt chính:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc
quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là nguyên nhân làm phát sinh các
loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người đã trưởng thành,
nhận thức đầy đủ hành vi mình thực hiện là vi phạm pháp luật, nhưng với ý thức
coi thường pháp luật, bị cáo đã cố ý phạm tội.

4
*Về tình tiết tăng nặng: không có.
* Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa có
thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ những đánh giá, phân tích nêu trên. Căn cứ vào hành vi, tính chất, mức
độ phạm tội của bị cáo cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự, HĐXX xét thấy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội
của bị cáo, bắt bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác tác dụng
giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.
[3.2] Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình
sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000
đồng. Xét bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, mua ma túy để
sử dụng không nhằm mục đích bán kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung
là phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Về các tình tiết tiết khác của vụ án: Đối tượng tên Th bán ma túy cho T,
qua xác minh không có mặt tại địa phương, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm
rõ, xử lý sau.
[4] Về xử lý vật chứng: Số ma túy Methamphetamine, thu giữ của bị cáo là
vật Nhà nước cấm lưu hành, nên tịch thu tiêu hủy.
+ Đối với chiếc xe mô tô BKS 14K7 – 7257 và 01 điện thoại di động Nokia
thu giữ của bị cáo, đã được xử lý trong giai đoạn điều tra, nên không xem xét.
[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm
và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma
tuý”.
Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình
sự.
Xử phạt: Vũ Văn T 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt
04/01/2019.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình
sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 172/GĐMT của phòng kỹ thuật
hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, hoàn lại sau giám định, còn nguyên vẹn.

5
(Số vật chứng trên có tình trạng và đặc điểm như Biên bản giao nhận vật
chứng ngày 28 tháng 3 năm 2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành
phố Uông Bí và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a
khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí,lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Vũ Văn T phải chịu 200.000
đ
(Hai trăm nghìn đồng) án phí
hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng
hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án
17/4/2019.
Nơi nhận:
- Bị cáo;
- TAND tỉnh Quảng Ninh;
- Viện kiểm sát ND-TP. Uông Bí;
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh QN;
- Công an TP Uông Bí;
- Chi cục THA DS TP. Uông Bí;
- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh.
- Lưu hồ sơ, VP./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vũ Huy Hùng

6
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng