Bản án số 41/2023/HNGĐ-ST ngày 24/05/2023 của TAND huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 41/2023/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 41/2023/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 41/2023/HNGĐ-ST ngày 24/05/2023 của TAND huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Long Điền (TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) |
| Số hiệu: | 41/2023/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 24/05/2023 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG ĐIỀN
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 41/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 24-5-2023
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Bình.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thủy
2. Bà Nguyễn Thị Di.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tín – Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Long – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà
Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 73/2023/TLST-HNGĐ ngày
16 tháng 3 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử số: 38/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2023, giữa các đương
sự:
- Nguyên đơn: Bà Lâm Thị Ngọc T, sinh năm 1997;
Địa chỉ: Tổ F Ô, khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có đơn
xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn L, sinh năm 1989;
HKTT: Tổ I Ô, khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Ông Nguyễn L đang chấp hành án tại phân trại số 2, trại giam X. (có đơn xin xét
xử vắng mặt)

2
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 14/3/2023 và trong quá trình tố tụng tại Tòa, nguyên
đơn bà Lâm Thị Ngọc T trình bày:
Về hôn nhân: Bà T và ông L tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2016, có
tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo
Giấy chứng nhận kết hôn số 112 ngày 09/5/2016. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không
bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống tại tổ I Ô, khu phố H, thị trấn
L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2018 thì phát sinh mâu
thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp tính nhau, thường hay cãi vã dẫn đến bất
đồng quan điểm, xung đột, không hòa hợp, không tìm thấy tiếng nói chung dẫn đến
cuộc sống vợ chồng đi vào bế tắc và không có lối thoát. Nên hai vợ chồng đã ly thân từ
năm 2018 cho đến nay.
Nay nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn,
không còn tình cảm với nhau nên bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông L.
Về con chung: Bà T xác nhận bà và ông L có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc
Ánh T1, sinh ngày 01/12/2017. Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và
không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 21/4/2023, bị đơn ông Nguyễn L trình bày: Ông L và bà T
kết hôn năm 2016 trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn L,
huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Năm 2018 hai vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn do bất
đồng quan điểm sống. Nay bà T yêu cầu ly hôn thì ông L đồng ý và không có ý kiến gì
khác. Về con chung: Ông L và bà T có một người con chung, bà T yêu cầu được nuôi
con thì ông L đồng ý; về tài sản chung và nợ chung: Ông L và bà T không có nên không
yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông L có đơn xin vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc
giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử vụ án ly hôn
giữa bà T và ông L.
Tại phiên tòa:
Bà T và ông L vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Các đương sự không
thỏa thuận được về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham
gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng
xét xử đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo Điều 70, Điều 71
Bộ luật Tố tụng dân sự.

3
Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà T; về
con chung: Chấp nhận yêu cầu của bà T giao con chung Nguyễn Ngọc Ánh T1, sinh
ngày 01/12/2017 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, bà T không yêu cầu ông L cấp dưỡng
nên không xem xét; về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu giải quyết, nên
không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở kết
quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Lâm Thị Ngọc T yêu
cầu ly hôn với ông Nguyễn L nên xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con”; bị đơn ông L có địa chỉ cư trú tại huyện L nên vụ án thuộc thẩm quyền
giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo quy
định tại khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật
Tố tụng dân sự.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, bà T và ông L vắng mặt nhưng
có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà T và ông
L theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Bà T và ông L tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2016,
có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo
Giấy chứng nhận kết hôn số 112 ngày 09/5/2016. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không
bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống tại tổ I Ô, khu phố H, thị trấn
L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Theo bà T trình bày thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2018
thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp tính nhau, thường hay
cãi vã dẫn đến bất đồng quan điểm, xung đột, không hòa hợp, không tìm thấy tiếng nói
chung dẫn đến cuộc sống vợ chồng đi vào bế tắc và không có lối thoát. Nên hai vợ
chồng đã ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Nay nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng ngày
càng trầm trọng, không thể hàn gắn, không còn tình cảm với nhau nên bà T yêu cầu Tòa
án giải quyết cho ly hôn với ông L.
Tại bản tự khai ngày 21/4/2023, bị đơn ông Nguyễn L trình bày: Ông L và bà T
kết hôn năm 2016 trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn L,
huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Năm 2018 hai vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn do bất
đồng quan điểm sống. Nay bà T yêu cầu ly hôn thì ông L đồng ý và không có ý kiến gì
khác.
Từ trình bày của nguyên đơn và bị đơn cho thấy mâu thuẫn giữa bà T và ông L
là có thật, theo chiều hướng kéo dài và trầm trọng, ông bà đã thực sự không còn tình

4
cảm với nhau, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể
kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ vào vào khoản 1 Điều 56
Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với
ông L.
[2.2] Về nuôi con chung: Bà T và ông L có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Ánh
T1, sinh ngày 01/12/2017. Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không
yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy: Từ khi ông L đi thi hành án năm 2020 thì cháu T1 ở với mẹ, được mẹ
trực tiếp chăm sóc; tại bản tự khai của ông L ngày 21/4/2023 thì ông L đồng ý giao con
chung cho bà T nuôi dưỡng, nên HĐXX giao con chung Nguyễn Ngọc Á Tiên cho bà
T được trực tiếp nuôi dưỡng. Bà T không yêu cầu cấp dưỡng nên HĐXX không xem
xét.
[2.3] Về chia tài sản chung, nợ chung: Bà T và ông L không yêu cầu giải quyết
nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Bà T là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ
án ly hôn theo quy định của pháp luật.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy
định tại các Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[5] Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa –
Vũng Tàu là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 144, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ
luật Tố tụng dân sự 2015;
Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy đình về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho bà Lâm Thị Ngọc T ly hôn ông Nguyễn Lành .
2. Về nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Ngọc Ánh T1, sinh ngày
01/12/2017 cho bà Lâm Thị Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành
niên (đủ 18 tuổi). Bà T không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ đối với con chung. Người không
trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không được ai cản trở.

5
Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu của cha hoặc mẹ hoặc của cá nhân, tổ chức
được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định
việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng
nuôi con.
3. Về chia tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Bà T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ
thẩm, nhưng được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm
bà T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009473, ngày 15 tháng
3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Bà T đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt
khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản
án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
- VKSND huyện Long Điền;
- THADS huyện Long Điền;
- UBND TT Long Hải;
- Đương sự;
- Lưu.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký và đóng dấu)
Phạm Thị Bình
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 24/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 17/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 11/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 31/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 31/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 30/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 30/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 30/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 30/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 30/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 30/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm