Bản án số 41/2022/HNGĐ-ST ngày 29/07/2022 của TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 41/2022/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 41/2022/HNGĐ-ST ngày 29/07/2022 của TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Thái Bình (TAND tỉnh Thái Bình)
Số hiệu: 41/2022/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/07/2022
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chị L xin ly hôn anh V
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 41/2022/HNGĐ-ST
Ngày 28 tháng 7 năm 2022
V/v: Ly hôn
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm :
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Tiến Thịnh;
2. Ông Trương Công Định.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa:Vũ Thị Huế, Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên
toà: Bà Bùi Lan Anh.
Ngày 28 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thái Bình,
xét xử thẩm công khai vụ án n nhân gia đình thsố: 48/2022/TLST-
HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2022 vly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án
ra xét xử số: 32/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2022 Quyết định
hoãn phiên tòa số: 26/2022/QĐST HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2022 giữa các
đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu L, sinh năm 1982;
Hộ khẩu thường trú: Xóm 6, thôn N Trung, H, thành phố Thái Bình, tỉnh
Thái Bình.
Nơi trú: Số nhà 37, ngõ 36, tổ 11, phố Trần Khánh Dư, phường Bồ
Xuyên, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
Bị đơn: Anh Dương Thanh V, sinh năm 1977;
Hộ khẩu thường trú nơi trú: Xóm 6, thôn N Trung, H, thành phố
Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
(Tại phiên tòa vắng mặt chị L đơn xin xét xử vắng mặt, vắng mặt anh V
lần thứ hai không có lý do).
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 29 tháng 3 năm 2022 trong quá
trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Thu L trình bày và có yêu cầu
như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị anh Dương Thanh V kết hôn trên sở tự
nguyện có đăng ký kết hôn vào ngày 12 tháng 01 năm 2007 tại Ủy ban nhân dân
Đông Hòa, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng chung
sống tại thôn N Trung, xã H, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Quá trình chung
sống, vợ chồng hạnh phúc đến khoảng năm 2009 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên
nhân mâu thuẫn do tính cách vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm nên
quan hệ vợ chồng trở nên căng thẳng, tình cảm vợ chồng ngày càng đi xuống, mặc
vợ chồng đã nhiều lần tìm cách giải quyết nhưng không kết quả. Do mẫu
thuẫn trầm trọng nên ttháng 08/2017 đến nay, chị anh V sống ly thân mỗi
người một nơi, không quan tâm đến nhau nữa. Nay xác định tình cảm vchồng
không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Dương Thanh V.
Về con chung: Chị anh V hai con chung Dương Nguyễn HiA, sinh
ngày 23/3/2008 con Dương Thị VA, sinh ngày 13/9/2015. Ly hôn, chị
nguyện vọng được trực tiếp nuôi hai con HiA con VA, không yêu cầu anh
Dương Thanh V phải cấp dưỡng cho con.
Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Dương Thanh V đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng
không mặt tại Tòa án để giải quyết việc chị L đơn xin ly hôn anh. Tòa án
cũng đã tiến hành xác minh tại gia đình để ghi lời khai của anh V nhưng không
thực hiện được.
Xác minh tại gia đình anh Dương Thanh V, Nguyễn Thị X, mẹ đẻ của
anh V cung cấp: Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu L anh Dương Thanh V kết
hôn tự nguyện đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân Đông Hòa, thành phố
Thái Bình vào ngày 12/01/2007. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống cùng gia
đình bà, đến khoảng năm 2017 đến năm 2018 thì giữa anh chị phát sinh mâu thuẫn,
nguyên nhân mâu thuẫn do anh V làm ăn kinh tế thua lỗ, nợ nần. Từ năm 2017 đến
nay, chị L mang theo hai con về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, không ở cùng anh V, anh
chị sống ly thân từ đó đến nay, hiện nay anh V đi làm ăn xa thỉnh thoảng liên
lạc về nhưng anh V làm ở đâu, khi nào anh V về thì không biết. Mâu thuẫn của
hai anh chị, gia đình cũng đã hòa giải nhưng nay chị L vẫn kiên quyết xin ly hôn
thì đề nghị Tòa giải quyết theo quy định của pháp luật. Anh chị có hai con chung là
cháu Dương Nguyễn HiA, sinh ngày 23/3/2008 và cháu Dương Thị VA, sinh ngày
13/9/2015, hiện hai cháu đang cùng chị L. Nếu anh chị ly hôn, đề nghTòa án
giao hai con chung cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, vấn đề cấp dưỡng đề nghị Tòa
án giải quyết theo quy định. Về tài sản chung của anh chị thì gia đình không biết rõ
nên không có ý kiến gì.
3
Kết quả xác minh tại nơi cư trú của anh chị thôn N Trung, xã H, thành phố
Thái Bình thể hiện: Anh V chị L đăng hộ khẩu thường trú tại địa phương
thường xuyên sinh sống tại địa phương đến khi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn,
việc mâu thuẫn giữa chị L và anh V diễn ra từ khoảng năm 2017, nguyên nhân do
vợ chồng làm ăn kinh tế thua lỗ. Hiện tại anh chsống ly thân, từ cuối năm 2017
chị L đưa hai con chuyển về tại phường Bồ Xuyên, thành phố Tháu Bình, tỉnh
Thái Bình đến nay. Anh V thì đi làm ăn xa, anh V đi đâu làm đâu không
thông báo cho chính quyền địa phương và cơ sở thôn được biết. Anh chị có hai con
chung cháu Dương Nguyễn HiA, sinh ngày 23/3/2008 cháu Dương Thị VA,
sinh ngày 13/9/2015, hiện hai cháu đang cùng chị L. Về tài sản chung của anh
chị địa phương không nắm được.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình phát
biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết ván của Thẩm
phán, Hội đồng xét xử, Thư phiên a tkhi thụ vụ án đến trước thời điểm
Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo các quy định của pháp luật tố tụng dân sự,
nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật ttụng về quyền nghĩa vụ của mình
đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn không mặt trong suốt quá trình giải
quyết vụ án mặc đã được tống đạt hợp lệ các thông báo và giấy báo của Tòa án
tự từ bỏ quyền của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 228 Bộ
luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự. Về nội dung, đề nghị Hội đồng
xét xử áp dụng: Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị Nguyễn Thị Thu L
được ly hôn với anh Dương Thanh V. Về nuôi con chung: áp dụng các Điều 81,
82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, giao con chung là Dương Nguyễn HiA, sinh
ngày 23/3/2008 con Dương Thị VA, sinh ngày 13/9/2015 cho chị L trực tiếp
nuôi dưỡng, anh V không phải cấp dưỡng cho con. Về tài sản chung: Không giải
quyết trong vụ án này. Về án phí: áp dụng Điều 24, 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Toà án, chị L
phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ
án được thẩm tra công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được
tống đạt hợp lệ lần thứ hai vẫn không có mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử căn cứ
vào khoản 2 Ðiều 227, khoản 1 ; khoản 3 Ðiều 228 Bộ luật Ttụng dân sự, xét xử
vụ án vắng mặt các đương sự.
[2] Về hôn nhân: Chị L anh V kết hôn tự nguyện, khi kết hôn không vi
phạm điều kiện kết hôn, đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân Đông Hòa,
thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình ngày 12/01/2007 là hôn nhân hợp pháp.
Trong thời gian vchồng chung sống phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu
thuẫn theo chị L do tính cách không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống và vợ
4
chồng không còn tình cảm với nhau, anh V không ý kiến trình bày nhưng việc
anh chị mâu thuẫn dẫn đến vợ chồng hiện tại đang sống ly thân thật. Mâu
thuẫn vợ chồng đã mức trầm trọng đời sống chung trên thực tế đã không còn tồn
tại nên áp dụng Điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình, xử cho chị Nguyễn Thị
Thu L ly hôn anh Dương Thanh V.
[3] Về nuôi con chung: Chị L anh V hai con chung ơng Nguyễn
HiA, sinh ngày 23/3/2008 và con Dương Thị VA, sinh ngày 13/9/2015, hiện hai
con đang cùng chị L. Ly hôn, chị L nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng,
chăm sóc con HiA con VA. Anh V không ý kiến trình bày nhưng quan điểm
của gia đình anh V cũng thể hiện đồng ý giao hai con cho chị L trực tiếp nuôi
dưỡng. Cháu HiA cháu VA cũng nguyện vọng cùng mẹ để ổn định cuộc
sống cũng như việc học tập. Do vậy, Hội đồng xét xxét giao hai con cho chị L
trực tiếp nuôi dưỡng phù hợp với thực tế, nguyện vọng của các con đảm bảo
quyền lợi mọi mặt của con chung. chị L không yêu cầu anh V cấp dưỡng cho
con, nên anh V không phải cấp dưỡng cho con. Chị L anh V quyền yêu cầu
thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng cho con khi cần thiết.
[4] Về chia tài sản chung vợ chồng: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết,
anh V không ý kiến trình bày nên không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Chị L, anh V quyền yêu cầu giải quyết chia tài sản chung vợ chồng khi cần
thiết.
[5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu L phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn
sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83;
Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35,
điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Ðiều 227; khoản 1, khoản 3 Ðiều 228;
Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24; Điều 27 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án.
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Thu L ly hôn với anh Dương Thanh
V.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung Dương Nguyễn HiA, sinh ngày
23/3/2008 con Dương Thị VA, sinh ngày 13/9/2015 cho chị Nguyễn Thị Thu L
trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Dương Thanh V không phải cấp dưỡng cho con.
Anh V nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được với người trực tiếp nuôi
dưỡng, anh V quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai
5
được cản trở. Chị L và anh V quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con yêu
cầu cấp dưỡng cho con khi cần thiết.
3. Về chia tài sản: Không giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu L phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ
thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng chị L đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục Thi
hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, Biên lai thu tạm ứng án phí,
lệ phí Tòa án số 0000599 ngày 06 tháng 5 năm 2022, sang thi hành án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Thu L anh Dương Thanh V
quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản
án được tống đạt hợp lệ hay được niêm yết.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND TP Thái Bình;
- Chi cục THADS TP Thái Bình;
- UBND H, TP Thái Bình (Số
03/12.01.2007)
- Lưu HS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Nguyễn Thị Thu Hiền
6
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Nguyễn Thị Thu Hiền
7
8
Tải về
Bản án số 41/2022/HNGĐ-ST Bản án số 41/2022/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất