Bản án số 39/2023/HNGĐ-ST ngày 30/09/2023 của TAND huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi về vụ án ly hôn về bạo lực gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 39/2023/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 39/2023/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 39/2023/HNGĐ-ST ngày 30/09/2023 của TAND huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi về vụ án ly hôn về bạo lực gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Mộ Đức (TAND tỉnh Quảng Ngãi) |
| Số hiệu: | 39/2023/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 30/09/2023 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | cho chị Huỳnh Thị Hồng T được ly hôn anh Lê Hữu P; giao con chung cho chị T nuôi dưỡng, buộc anh P cấp dưỡng cho con |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản
1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN MỘ ĐỨC Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
TỈNH QUẢNG NGÃI
Bản án số: 39 /2023/HNGĐ-ST
Ngày: 30- 9- 2023
V/v: “Ly hôn; tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Thanh Sang.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Trường Chinh
2. Bà Ngô Thị Kim Ngân
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Nguyễn Trọng Thành– Thư ký Tòa án nhân
dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức Tham gia phiên tòa: Bà
Trần Thị Thu Lệ - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức xét
xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 109/2023/TLST-HNGĐ, ngày 20 tháng 7
năm 2023 về việc “Ly hôn; tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án
ra xét xử số: 40/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 05 tháng 9 năm 2023 và Quyết
định hoãn phiên tòa số: 22/2023/QDDST-HNGĐ, ngày 21 tháng 9 năm 2023
giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Hồng T, sinh năm 2001; địa chỉ: Thôn T,
xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi.
2. Bị đơn: Anh Lê Hữu P, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện
M, tỉnh Quảng Ngãi.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Trần Văn H,
Trưởng Văn phòng L, thuộc đoàn luật sư tỉnh Q
Địa chỉ: thôn P, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi.
Nguyên đơn vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và bị đơn có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 10/7/2023, các lời khai trong quá trình giải
quyết vụ án nguyên đơn chị Huỳnh Thị Hồng T trình bày: Chị và anh Lê Hữu P
được hai bên gia đình tổ chúc lể cưới và tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND
xã Đ vào ngày 06/12/2019. Sau khi cưới hai vợ chồng sống hòa thuận với nhau
được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng
2
không hợp tính nhau, thường xuyên cãi vả, dẫn đến xô xát nhau; anh P đánh chị
và đuổi chị ra khỏi nhà; giữa chị và anh P không có tiếng nói chung; chị đã
nhiều lần chịu đựng để anh P có thời gian thay đổi, nhưng anh P vẫn tính nào tật
nấy, làm cho mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn, không có hướng khắc phục.
Chị và anh P đã sống ly thân nhau một thời gian. Nay tình cảm vợ chồng không
còn, nên chị T yêu cầu được ly hôn anh P.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Lê Huỳnh H1, sinh ngày
10/10/2019. Hiện đang sống với chị. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được nuôi cháu
H1, chị yêu cầu anh P cấp dưỡng cho cháu H1 mỗi tháng 2.000.000 đồng. Chị
làm công nhân tại khu công nghiệp VSIP thu nhập mỗi tháng 8.000.000 đồng;
anh P cho thuê nhạc đám cưới bình quân mỗi tháng 6.000.000 đồng.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.Về nợ chung: Không
có.
Tại bản tự khai ngày 04/8/2023, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên
tòa, bị đơn là anh Lê Hữu P và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị
đơn trình bày: Vợ chồng anh P và chị T có tìm hiểu nhau và có đăng ký kết hôn
như chị T trình bày là đúng. Trong cuộc sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn cải
vả, có lần anh P đánh chị T. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm
sống; anh P và chị T hiện tại đã sống ly thân nhau một thời gian, không ai quan
tâm đến ai; khi hòa giải tại Tòa án, anh P cho rằng mâu thuẫn vợ chồng không
nghiêm trọng có thể khắc phục được. Nên anh P không đồng ly hôn chị T. Tại
phiên tòa, anh P thấy mâu thuẫn vợ chồng là nghiêm trọng, chị T yêu cầu ly hôn
anh P đồng ý ly hôn.
Về con chung: vợ chồng có 01 con chung tên Lê Huỳnh H1, sinh ngày
10/10/2019; hiện đang sống với chị T; từ khi cháu H1 sống với mẹ anh P không
phụ cấp tiền chi chị T nuôi con. Khi ly hôn thì anh P yêu cầu được nuôi cháu
H1, không yêu cầu chị T cấp dưỡng cho con. Trường hợp Hội đồng xét xử giao
cháu H1 cho chị T nuôi dưỡng, thì anh P tự nguyện cấp dưỡng cho cháu H1 mỗi
tháng 2.000.000 đồng. Chị T làm công nhân tại khu công nghiệp VSIP thu nhập
mỗi tháng bao nhiêu anh P không biết; anh P cho thuê nhạc đám cưới và phụ
mẹ mổ heo bình quân mỗi tháng 10.000.000 đồng.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.Về nợ chung: Không
có.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho
đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư
ký phiên tòa tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành
pháp luật của nguyên đơn, bị đơn đúng quy định tại các Điều 70, 71, 72 của Bộ
luật tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết:
3
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Hồng T
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị T được ly hôn anh P
- Về con chung: Giao cháu Lê Huỳnh H1, sinh ngày 10/10/2019 cho chị
Huỳnh Thị Hồng T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh P
có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu H1 mỗi tháng 2.000.000đồng (Hai triệu đồng)
cho đến khi cháu H1 đủ 18 tuổi.
- Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Tại thời điểm chị Huỳnh Thị Hồng T khởi kiện thì anh Lê Hữu P
đang cư trú tại thôn T, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Do đó, Tòa án nhân
dân huyện Mộ Đức thụ lý vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn chị Huỳnh Thị Hồng T là đúng thẩm quyền theo quy
định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39
của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Nguyên đơn chị Huỳnh Thị Hồng T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ
hai mà vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2
Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử
vắng mặt chị T.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Hồng T và anh Lê Hữu P tự
nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M, tỉnh
Quảng Ngãi vào ngày 06 tháng 12 năm 2019. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị
T và anh P là hợp pháp.
Xét yêu cầu ly hôn của chị Huỳnh Thị Hồng T, Hội đồng xét xử thấy
rằng: Theo trình bày của chị T thì sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc
trong thời gian ngắn, sau đó vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, sống không
hạnh phúc. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vả,
dẫn đến xô xát nhau; anh P đánh chị và đuổi chị ra khỏi nhà; chị T đã nhiều lần
chịu đựng để anh P có thời gian thay đổi, nhưng anh P vẫn tính nào tật nấy, làm
cho mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn, không có hướng khắc phục. Trong
quá trình giải quyết vụ án, thẩm phán đã động viên chị T đoàn tụ với anh P,
nhưng chị T vẫn cương quyết yêu cầu được ly hôn anh P. Hơn nữa anh P cũng
thừa nhận giữa anh P và chị T đã xảy ra mâu thuẫn do không hợp nhau, bất
đồng về quan điểm sống, có lần anh P đánh chị T; anh P và chị T đều thừa nhận
đã sống ly thân một thời gian, không ai quan tâm đến ai, tại hiên hòa giải anh P
cho rằng mâu thuẫn không nghiệm trọng, anh P muốn chị T về đoàn tụ chung
sống, nhưng anh P không có biện pháp để khắc phục mâu thuẫn. Tại phiên tòa,
chị T yêu cầu ly hôn, anh P đồng ý ly hôn.
Từ những nhận định trên, có căn cứ xác định: Mâu thuẫn giữa nguyên
đơn và bị đơn là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn
4
nhân không đạt được. Việc nguyên đơn yêu cầu ly hôn là có căn cứ, phù hợp
với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp
nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.
[2.2] Về con chung: Theo lời khai của nguyên đơn, bị đơn và những tài
liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có căn cứ xác định chị Huỳnh Thị Hồng T
và anh Lê Hữu P có 01 con chung Lê Huỳnh H1, sinh ngày 10/10/2019. Khi ly
hôn chị T, anh P đều có nguyện vọng nuôi cháu H1. Hội đồng xét xử thấy rằng:
Việc giao con chung cho ai nuôi dưỡng phải đảm bảo về mọi mặc cho sự phát
triển trọn vẹn của cháu, cháu H1 tuy trên 36 tháng tuổi nhưng từ nhỏ đến giờ
cháu sống với chị T. Mặt khác, anh P thừa nhận từ khi ly thân đến nay cháu H1
sống với chị T, anh P không phụ cấp tiền nuôi cháu H1; điều đó thể hiện sự
thiếu trách nhiệm đối với con chung của anh P. Nên chị T yêu cầu được nuôi
dưỡng, chăm sóc là phù hợp. Do đó, căn cứ vào khoản 2, Điều 81 Luật hôn
nhân gia đình năm 2014, có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận nguyện vọng
của chị T được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lê Huỳnh H1.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Người không trực tiếp nuôi con phải có
nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chị T yêu cầu anh P phải cấp dưỡng cháu H1 mỗi
tháng 2.000.000 đồng và anh P cũng đồng ý cấp dưỡng cho cháu H1 khi Hội
đồng xét xử giao cháu H1 cho chị T nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử thấy rằng căn
cứ vào mức thu nhập của anh P và mức chi phí trung bình chăm sóc trẻ nhỏ tại
địa phương xã Đ, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận anh P cấp dưỡng cho
cháu H1 mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) cho đến khi cháu H1 đủ 18
tuổi.
[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị T và anh P trình bày không có,
Hội đồng xét xử không xét.
[3] Về án phí: Chị Huỳnh Thị Hồng T và anh Lê Hữu P phải chịu án phí
dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn trái với
nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức phù hợp
với nhận định của Hội đồng xét xử.
[6] Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp
luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1
Điều 39, các điều 144, 147, 235, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình;
Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Hồng T
5
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Huỳnh Thị Hồng T được ly hôn anh Lê
Hữu P
2. Về con chung: Giao cháu Lê Huỳnh H1, sinh ngày 10/10/2019 cho chị
Huỳnh Thị Hồng T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh P
có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu H1 mỗi tháng 2.000.000đồng (Hai triệu đồng)
cho đến khi cháu H1 đủ 18 tuổi. Thời gian cấp đưỡng tính từ ngày 30/9/2023.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan
thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có
đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền
phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi
hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức
lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác.
Anh Lê Hữu P có quyền nghĩa vụ thăm con chung mà không ai có quyền
cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị T và anh P trình bày không có,
không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xét.
4. Về án phí: Chị Huỳnh Thị Hồng T phải chịu 300.000đồng (ba trăm
nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, được khấu trừ vào
số tiền 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí do anh Huỳnh Quốc
C nộp thay cho chị Huỳnh Thị Hồng T theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí
Tòa án số 0005717 ngày 20/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộ
Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
Anh Lê Hữu P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân
sự sơ thẩm về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn
15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, bị đơn có
quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,
7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo
quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Quảng Ngãi THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện Mộ Đức
- Chi cục THADS huyện Mộ Đức
- Các đương sự;
- UBND xã Đức Thắng;
- Lưu hồ sơ.
Trần Thanh Sang
6
7
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng