Bản án số 36/2025/HNGĐ-ST ngày 23/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 36/2025/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 36/2025/HNGĐ-ST ngày 23/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 36/2025/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/09/2025
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: - Về quan hệ hôn nhân
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - ĐẮK LẮK
Bản án số: 36/2025/HNGĐ-ST
Ngày 23-9-2025
“Về việc: Ly hôn, tranh chấp về con
chung
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Dương Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Măng, nghề nghiệp: Nguyên cán bộ Hội phụ nữ Ea Hiu (nay
xã E)
2. Ông Hồ Thành, nghề nghiệp: Giáo viên
- Thư phiên toà: Nguyễn Thị Nhị - Thư Tòa án, Tòa án nhân dân khu
vực 4 - Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Trần Duy Quyền - chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 09 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk mở
phiên tòa xét xử thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ s
257/2025/TLST-HNGĐ ny 23 tng 6 m 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST-HN ngày 18
tháng 8 năm 2025 Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2025/QĐST-HNGĐ ngày 05
tháng 9 năm 2025, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Y, sinh ngày 16/07/1990. (Có đơn đề nghị xét xử
vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn 6B, E, tỉnh Đắk Lắk (trước đây E, huyện K, tỉnh Đắk
Lắk).
- Bị đơn: Anh Đàm Văn H, sinh ngày 02/09/1985. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn 6B, E, tỉnh Đắk Lắk (trước đây E, huyện K, tỉnh Đắk
Lắk).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hoàng Thị
Y trình bày:
2
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi với anh Đàm Văn H kết hôn trên sở tình yêu tự
nguyện, tìm hiểu, tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương đăng
kết hôn tại Ủy ban nhân dân E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (nay E, tỉnh Đắk
Lắk) vào ngày 25/08/2011, theo giấy chứng nhận kết hôn số 199, quyển số 01.
Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên
đến đầu năm 2022 thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan
điểm sống, tính tình không hòa hợp. Gia đình hai bên đã hòa giải cho chúng tôi nhiều
lần nhưng không thành. Đến khoảng tháng 10/2022 thì tôi về nhà bmẹ đẻ của tôi
tại thôn 7D, E đchứ không cùng anh H nữa. Chúng tôi đã sống ly thân từ đó
cho đến nay, hiện nay ai có cuộc sống người đó, không ai quan tâm đến ai nữa.
Xét mục đích hôn nhân của chúng tôi không đạt được, tình cảm vợ chồng không
còn. Nên tôi đã làm đơn khởi kiện xin được ly hôn với anh Đàm Văn H. Nguyện vọng
của tôi đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết cho tôi với anh Đàm Văn H được ly hôn.
- Về con chung: Giữa chúng tôi 01 con chung cu Đàm Gia H1, sinh
ngày 02/7/2014. Hiện cháu còn nhỏ đang ở cùng với anh Đàm Văn H. Nay vợ chồng
ly hôn thì tôi nguyện vọng được giao cháu Đàm Gia H1 cho anh Đàm Văn H
được trc tiếp tng nom, cm sóc, giáo dc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18
tuổi.
- Về cấp dưỡng: Theo đơn khởi kiện thì cấp dưỡng nuôi con chúng tôi tthỏa
thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên nay do tôi không trực tiếp nuôi con
nên hàng tháng tôi tự nguyện cấp dưỡng tiền nuôi cháu Đàm Gia H1 với mức cấp
dưỡng 1.500.000 đồng/tháng (Một triệu năm trăm nghìn đồng/tháng) cho đến khi
cháu đủ 18 tuổi và đủ khả năng lao động.
- Về tài sản chung: Chúng tôi không tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án
giải quyết.
- Về nchung: Chúng tôi không nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
Ngoài ra tôi không có yêu cầu gì thêm.
* Tại biên bản lấy lời khai, bị đơn anh Đàm Văn H khai: Với nội dung khởi
kiện xin ly hôn của chị Hoàng Thị Y thì tôi hoàn toàn không đồng ý. Tôi chỉ mong
chị Y quay về đoàn tụ. Do không đồng ý ly hôn nên không yêu cầu giải quyết về con
chung. Nếu Tòa án vẫn giải quyết cho chị Yến được ly hôn thì tôi nuôi con; Về cấp
dưỡng: Do không đồng ý ly hôn nên không yêu cầu. Trường hợp Tòa án vẫn cho chị
Y ly hôn với tôi thì yêu cầu chị Y cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung thì
không có. Ngoài ra không ý kiến gì thêm.
Quá trình làm việc, Tòa án đã mời các đương sự lên làm việc, tiến hành mở
phiên họp công khai chứng cứ hòa giải giữa các đương sự với nhau nhưng bị đơn
vắng mặt không có lý do trong khi đó chị Hoàng Thị Y vẫn giữ nguyên quan điểm xin
được ly hôn với anh Đàm Văn H. Do đó, căn cứ Điều 203 và Điều 220 của Bộ luật tố
tụng dân sự Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
3
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk tại
phiên tòa:
- Về ttụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán của Hội đồng xét xử,
Thư phiên tòa đương sự nguyên đơn đã thực hiện đúng đầy đủ theo quy
định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Đối với bị đơn quá
trình giải quyết vụ án, tại phiên họp công khai chứng cứ hòa giải cũng như tham
gia tại phiên tòa đều vắng mặt là vi phạm quy định tại các Điều 70, Điều 72 và khoản
2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nguyên đơn đơn đề nghị xét xử
vắng mặt tại phiên tòa không vi phạm quy định tại Điều 70, Điều 71 Điều 227,
Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xcăn cứ Điều 5, khoản 1 Điều 28,
điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228 của
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều
81, Điều 82, Điều 83; Điều 84; Điều 110; Điều 116; Điều 117; Điều 118 của Luật hôn
nhân và gia đình năm 2014.
+ Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị Y được lyn với anh Đàm Văn H.
+ Về con chung: Giao cháu Đàm Gia H1, sinh ngày 02/7/2014 cho anh Đàm
Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18
tuổi và có khả năng lao động.
+ Về cấp dưỡng: Chị Hoàng Thị Y tự nguyện cấp dưỡng tiền nuôi cháu Đàm Gia
H1 với mức cấp dưỡng 1.500.000 đồng/tháng (Một triệu năm trăm nghìn đồng/tháng)
cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và đủ khả năng lao động.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Chị Hoàng Thị Y anh Đàm Văn H xác định
anh chị không tài sản chung, không nợ chung nên không yêu cầu giải quyết
vậy không đề cập để xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về nội dung vụ án như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền: Căn cứ vào đơn khởi kiện thì bị đơn anh Đàm Văn H nơi cư
trú tại E, tỉnh Đắk Lắk nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu
vực 4 - Đắk Lắk theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39
của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ vào đơn khởi kiện của chHoàng Thị Y thì xác
định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định
tại khoản 1 Điều 28 của B luật tố tụng dân sự.
- Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Tại phiên toà lần thứ nhất, bị đơn anh
Đàm Văn H vắng mặt không do, Hội đồng xét xử hoãn phiên toà tiếp tục
tống đạt hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa thông báo cho các đương smở lại phiên
tòa lần hai. Tuy nhiên tại phiên toà, bị đơn anh Đàm Văn H vẫn vắng mặt không có lý
4
do; nguyên đơn đơn đề nghị xét xử vắng mặt. vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào
khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị
đơn.
[2] Về nội dung khởi kiện: ChHoàng Thị Y làm đơn xin được ly n với anh
Đàm Văn H. Hội đồng t xử thấy:
- Về quan hệ hôn nhân: Qua các tài liệu chứng cứ do đương scung cấp m
theo đơn khởi kiện việc thu thập chứng cứ của Tòa án trong hồ sơ thể hiện: Ch
Hoàng Thị Y với anh Đàm Văn H kết hôn trên cơ sở tình yêu tự nguyện, tìm hiểu,
tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương và đăng ký kết hôn tại Ủy ban
nhân dân xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã E, tỉnh Đắk Lắk) vào ngày
25/08/2011, theo giấy chứng nhận kết hôn số 199, quyển số 01. vậy, xác định hôn
nhân giữa chHoàng Thị Y và anh Đàm n H là hôn nhân hợp pháp.
Về mâu thuẫn: Căn cứ lời khai do chị Hoàng Thị Y cung cấp cho Tòa án thể
hiện “Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy
nhiên đến đầu năm 2022 thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng
quan điểm sống, tính tình không hòa hợp. Gia đình hai bên đã hòa giải cho chúng tôi
nhiều lần nhưng không thành. Đến khoảng tháng 10/2022 thì tôi về nhà bố mđẻ của
tôi tại thôn 7D, E để chứ không cùng anh H nữa. Chúng tôi đã sống ly thân
từ đó cho đến nay, hiện nay ai có cuộc sống người đó, không ai quan tâm đến ai nữa”;
Theo biên bản xác minh của Tòa án tại địa phương (BL 24) thể hiện “...Q trình anh
chị sinh sống tại địa phương tvợ chồng anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn,
anh H hay hành vi bạo lực gia đình với chị Hoàng Thị Y. ChY hiện nay không
sống cùng với anh H nữa. Thời gian chị Y không cùng với anh H cũng đã lâu, hiện
nay chỉ có anh H ng con trai là cháu Đàm Gia H1 ở với nhau...”.
Theo quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định vợ
chồng nghĩa vụ yêu thương chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ
nhau, có nghĩa vụ chung sống với nhau.
Như vậy, căn cứ vào tình trạng hôn nhân thực tế giữa chị Hoàng Thị Y với anh
Đàm n H, xét mâu thuẫn giữa anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống
chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Hoàng ThY
yêu cầu xin được ly hôn đối với anh Đàm Văn H là có căn cứ. Vì vậy, căn cứ khoản 1
Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện xin
ly hôn của chị Hoàng Thị Y, cho chị Hoàng Thị Y được ly hôn với anh Đàm Văn H.
- Về con chung: Quá trình chung sống, giữa anh chị với nhau 01 con chung là
cháu Đàm Gia H1, sinh ny 02/7/2014. Hiện cu còn nhỏ, đang sống cùng với
anh Đàm Văn H. Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân gia đình
năm 2014: “2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền nghĩa vụ
của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án
quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của
con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng ca con.
5
Qua lời khai của cháu Đàm Gia Huy cung cấp cho Tòa án thì cháu nguyện
vọng được ở với bố là anh Đàm Văn H. Và bản thân anh Đàm Văn H cũng có nguyện
vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đàm Gia H1; còn chị Hoàng Thị Y t
nguyện vọng giao cháu Đàm Gia H1 cho anh Đàm Văn H trực tiếp trông nom, chăm
sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
vậy, đđảm bảo quyền lợi của con chung chưa thành niên. Căn cứ vào Điều
81, Điều 82, Điều 83 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình thì Hội đồng xét xử
thấy: giao cháu anh Đàm Văn H, sinh ngày 02/7/2014 cho anh Đàm Văn H trực tiếp
trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng khi ly hôn là phù hợp.
Chị Hoàng Thị Y được quyền đi lại, thăm nom, chăm c, giáo dục con chung
không ai được quyền ngăn cản. Tuy nhiên, chị Y không được lạm dụng việc thăm
nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc,
nuôi dưỡng và giáo dục con chung.
quyền lợi của con chung các đương sự quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi
con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Quá trình làm việc tại Tòa án thì chị Hoàng Thị
Y tự nguyện cấp dưỡng tiền nuôi cháu Đàm Gia H1 với mức 1.500.000 đồng/tháng
(Một triệu năm trăm nghìn đồng/tháng) cho đến khi cháu đủ 18 tuổi đủ khả năng
lao động. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện với mức cấp dưỡng nuôi
con của chị Y với mức 1.500.000 đồng/tháng (Một triệu năm trăm nghìn
đồng/tháng). Thời gian cấp dưỡng tính t khi bản án hiệu lực pháp luật cho đến
khi cháu Đàm Gia H1 đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung: Chị Hoàng Thị Y và anh Đàm Văn H xác định anh chị không
có tài sản chung n không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không
đề cập để xem xét.
- Về nợ chung: Chị Hoàng Thị Y anh Đàm Văn H xác định anh chị không
nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập
để xem xét.
[3] Về án phí: Chị Hoàng Thị Y phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí dân sự
sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
[4] Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 -
Đắk Lắk tại phiên tòa phù hợp với chứng cứ trong hồ vụ án, đúng pháp luật
nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
khoản 4 Điều 147, Điều 203, Điều 220, khoản 2 Điều 227, Điều 228; Điều 266, Điều
271 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
6
Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều
84, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Điều 118 của Luật hôn nhân gia đình năm
2014.
Áp dụng khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Y được ly hôn với anh Đàm Văn H.
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Đàm Gia H1, sinh ngày 02/7/2014 cho chị
anh Đàm Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi
cháu đủ tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Chị Hoàng Thị Y được quyền đi lại, thăm nom, chăm c, giáo dục con chung
không ai được quyền ngăn cản. Tuy nhiên, chị Hoàng Thị Y không được lạm dụng
việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom,
chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.
quyền lợi của con chung các đương sự quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi
con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Hoàng Thị Y tự nguyện cấp dưỡng tiền
nuôi cháu Đàm Gia H1 với mức cấp dưỡng 1.500.000 đồng/tháng (Một triệu năm
trăm nghìn đồng/tháng), thời gian cấp dưỡng tính từ khi bản án hiệu lực pháp luật
cho đến khi cháu Đàm Gia H1 đủ 18 tuổi và đủ khả năng lao động.
4. Về tài sản chung và công nợ chung: Tòa án không xem xét, không giải quyết.
5. Về án phí: Chị Hoàng Thị Y phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án
phí ly hôn thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí
chị Y đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk (nay là Thi hành án dân sự
tỉnh Đắk Lắk) theo biên lai thu số 0003287 ngày 09 tháng 6 năm 2025.
Chị Hoàng Thị Y phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự thẩm về cấp dưỡng
nuôi con.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bđơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền
kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể tngày nhận được bản án hoặc bản án
được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Đắk Lắk;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- VKSND khu vực 4 - Đắk Lắk;
- THADS tỉnh Đắk Lắk;
- UBND xã E, tỉnh Đắk Lắk
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, V.P.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THÂ
̉
M PHA
́
N - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Phan Thị Dƣơng Thanh
7
8
9
10
Tải về
Bản án số 36/2025/HNGĐ-ST Bản án số 36/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 36/2025/HNGĐ-ST Bản án số 36/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất