Bản án số 36/2023/HS-ST ngày 15/05/2023 của TAND huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 36/2023/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 36/2023/HS-ST ngày 15/05/2023 của TAND huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Đồng Phú (TAND tỉnh Bình Phước)
Số hiệu: 36/2023/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/05/2023
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Trộm cắp tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN ĐỒNG PHÚ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH BÌNH PHƯỚC
Bản án số: 36/2023/HSST
Ngày: 15/5/2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Nguyên Hoàng
- Và các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Viết Xứng
Nguyễn Thị Thu Phương
Thư ghi biên bản phiên tòa: Ông Trương Văn Phương - Cán bộ Tòa án
nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước tham gia
phiên tòa: ông Bùi Anh Tuấn, Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở a án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh
Bình Phước xét xử thẩm vụ án hình sự thụ số 21/2023/HSST ngày 20/3/2023,
theo quyết định đưa vụ án ra xét xsố 28/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 4 năm
2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Ngọc L sinh năm 2000 tại Bình Phước.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; n giáo: không; Nghề nghiệp: Công
nhân; Trình độ học vấn: 7/12.
Nơi trú: khu phố Làng 3, phường T, thành phố X, tỉnh Bình Phước.
Ch ở hiện nay: xóm 6, thôn U, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Con ông Vũ Ngọc L, sinh năm 1958 và bà Tưởng Thị T, sinh năm 1965.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bbắt tạm giam từ ngày 22/12/2022, cho đến nay. Bị cáo mặt tại
phiên tòa.
Người bị hại: Trần Đăng K, sinh năm 1980 (có mặt)
Nơi cư trú: ấp R, xã P, huyện Đồng P, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo các tài liệu trong hsơ vụ án diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 24/3/2021, Ngọc L đi bđến nhà ông
Bùi Văn Bầu tại ấp Cầu Rạt, xã P, huyện Đồng Phú chơi. Trong quá trình chơi ở nhà
ông Bầu, L thấy xe bin số 93M1 - 319.03 của anh Trần Dăng K để trước
sân nhà ông B nên L nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của anh K bán ly tin tiêu
xài. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, L lợi dụng nhà ông Bầu không có người
nên L đã lén lút chiếm đoạt xe bin số 93M1 - 319.03 của anh K. Sau đó, L
điều khiển xe chiếm đoạt đến Tiến Hưng, thành phố Đồng Xoài bán cho
Đoàn Quang Lập với giá 5.000.000 đồng Lập đưa trước cho L 4.000.000 đồng,
Lập nợ lại 1.000.000 đồng. Số tiền được, L tiêu xài nhân hết. Khoảng 19 giờ
20 phút cùng ngày, sau khi phát hiện mất trộm xe mô tô, anh K đã đến Công an xã P,
huvện Đồng P trình báo sự việc.
Đến ngày 26/3/2021, K1 (không lai lịch) nhờ Nguyễn Thành C điều khiển
chiếc xe nói trên về giúp Kiều. Trên đường u thông đến thành phố Đồng
Xoài, tỉnh Bình Phước bị tai nạn giao thông. Qua tra cứu xác định là xe của anh Trần
Đăng K bị mất trộm trước đó nên Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bình
Phước đã bàn giao vật chứng cho Công an xã P, huyện Đồng Phú thụ lý.
Quá trình điều tra, Ngọc L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của
mình như trên.
Theo bản kết luận định giá tài sản số 43 ngày 18/6/2021 của Hội đồng định giá
tài sản tố tụng nh sự huyện Đồng Phú, kết luận: 01 (mt) xe bin s 93M1 -
319.03, nhãn hiu Honda, loi WINNERX, màu Đỏ - Bc - Đen giá tr
43.400.000 đồng.
Quá trình điều tra Cơ quan điều tra thu giữ:
- 01 (một) xe , không bin số, nhãn hiệu Honda, loại WINNERX, màu
Đ- Bạc - Đen (bị hư hỏng do tai nạn).
Về trách nhim n sự: Bị hại Trn Đăng K yêu cầu Ngọc L bồi thưng s
tiền 30.000.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 24/CT-VKS ngày 20/3/2023, Viện kiểm sát nhân dân
huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Ngọc L phạm tội “Trộm cắp tài
sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú giữ nguyên
cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc
L phạm tội “Trm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38;
Điều 50 Bộ luật Hình sự. Đnghị xphạt bị cáo Ngọc L mức án từ 02 năm đến
02 năm 06 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
- Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xgiảm nhẹ hình phạt cho bị cáo
và bị cáo xin lỗi người bị hại.
3
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào
kết quả tranh luận tại phiên tòa trên sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý
kiến của Kiểm sát viên, bị cáo những người tham gia t tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đồng
Phú, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, Kiểm sát viên trong
quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định
của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại
không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Ngọc L khai nhận hành vi phạm tội của mình như
nội dung Cáo trạng số 24/CTr-VKS ngày 20 tháng 3 năm 2023, của Viện kiểm sát
nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước đã truy tố.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo bản phù hợp với lời khai của người bị hại,
người liên quan về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, vật chứng vụ án.
Đồng thời phù hợp với kết luận của đại diện Viện kiểm sát cùng các tài liệu, chứng
cứ được xét hỏi công khai tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử đủ sở kết
luận: khoảng 16 giờ 30 phút ngày 24/3/2021, bị cáo Vũ Ngọc L đã có hành vi lén lút
chiếm đoạt 01 xe biển kiểm soát 93M1 319.03, nhãn hiệu Honda, loại
Winnerx màu đỏ - bạc đen của anh Trần Đăng K tại ấp R, P, huyện Đồng Phú,
tỉnh Bình Phước. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là 43.400.000 đồng.
[3] Hành vi bị cáo thực hiện nguy hiểm cho hội, xâm phạm đến tài
sản của người khác khách thể được pháp luật bảo vệ ngoài ra còn gây mất trật tự
trị an tại địa phương.
[4] Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú truy tố bị cáo Ngọc L phạm
tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự căn cứ,
đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là ít
nghiêm trọng. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm
hình sự, nhận thức làm chủ được hành vi của mình. Bị cáo nhận thức được việc
lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật bị pháp luật
nghiêm trị nhưng chỉ lợi cá nhân mà bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm
tội. vậy cần xét xử bị cáo mức án tương xứng với hành vi bị cáo đã thực hiện
mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
4
Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối ci,
phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại phiên tòa người bị hại xin
giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[6] Về quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm cho
hội của hành vi phạm tội, căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo
bằng hình phạt tù mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo.
Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên miễn áp dụng hình phạt bsung
cho bị cáo là phù hợp.
[7] Kết luận của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định
của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8] Về trách nhiệm dân sự: tại phiên tòa người bị hại Trần Đăng K yêu cầu bị
cáo bồi thường số tiền 30.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường theo
yêu cầu bị hại. Xét đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các bên phù hợp với quy định
pháp luật nên cần ghi nhận..
[9] Vật chứng vụ án: đối xe biển kiểm soát 93M1 319.03, nhãn hiệu
Honda, loại Winnerx màu đỏ - bạc đen là tài sản của anh K nên cần trả lại cho anh
K.
[10] Các vấn đề khác:
Đối với Đoàn Quang Lập theo lời khai của Vũ Ngọc L là người mua xe
bin số 93M1 - 319.03 L chiếm đoạt của Trần Đăng K nhưng Cơ quan điều tra
chưa làm việc được với Đoàn Quang L, tách ra xác minh xử sau nên Viện kiểm
sát không đề cập đến việc xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với người phụ nữ tên Kiều theo lời khai của Nguyễn Thành C người
nhờ Chung điều khiển xe về huyện Phú Riềng nhưng Cơ quan điều tra chưa
xác minh được nhân thân lai lịch, tách ra xác minh, xử sau nên Viện kiểm sát
không đề cập đến việc xử nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với Nguyễn Thành C được người phụ nữ tên Kiều nhờ điều khiển xe
về huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước nhưng Chung không biết đây tài sản do
Ngọc L phạm tội nên Vin kiểm sát không đề cập đến vic x nên Hội
đồng xét xử không xem xét.
[11] Về án phí: bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc L phạm tội “Trm cắp tài sản”.
5
2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38;
Điều 50 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc L 02 (Hai) năm tù. Hạn tù tính từ ngày 22/12/2022.
3. Trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo Ngọc L nghĩa vụ bồi thường cho người bị hại là ông Trần
Đăng K số tiền 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng.
Kể từ ngày án hiệu lực và khi đơn yêu cầu thi hành án, bên nghĩa vụ
chậm trả tiền thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất bản do
Ngân hành nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh
toán.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phi thi hành án dân sự
quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án
theo quy định tại Điều 6, 7 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án
được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
4. Vật chứng vụ án: áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tng hình s
Tr lại cho anh Trần Đăng K 01 xe mô tô biển kiểm soát 93M1 – 319.03, nhãn
hiệu Honda, loại Winnerx màu đ- bạc – đen.
4. Về án phí: áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự Nghị quyết số
326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội;
Buộc bcáo Ngọc L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng và
1.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người bhại được quyền
kháng cáo bản án.
Nơi nhận:
- TAND- VKSND tỉnh Bình Phước;
- VKSND huyện Đồng Phú;
- THADS huyện Đồng Phú;
- CA huyện Đồng Phú (03 bản);
- Phòng P27 Công an Bình Phước
- TT lịch pháp Sở pháp tỉnh
Bình Phước;
- Bị cáo; người tham gia tố tụng;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
(Đã ký và đóng du)
Nguyễn Nguyên Hoàng
6
Tải về
Bản án số 36/2023/HS-ST Bản án số 36/2023/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất