Bản án số 36/2019/HNGĐ-ST ngày 31/07/2019 của TAND huyện Đông Anh, TP. Hà Nội về tranh chấp chấm dứt việc nuôi con nuôi và xác nhận tài sản riêng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 36/2019/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 36/2019/HNGĐ-ST ngày 31/07/2019 của TAND huyện Đông Anh, TP. Hà Nội về tranh chấp chấm dứt việc nuôi con nuôi và xác nhận tài sản riêng
Quan hệ pháp luật: Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Đông Anh (TAND TP. Hà Nội)
Số hiệu: 36/2019/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 31/07/2019
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thị T và Đỗ Duy H tranh chấp yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi và xác nhận tài sản riêng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG ANH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 36/2019/HNGĐ - ST
Ngày: 31 - 7 - 2019.
V việc tranh chấp chấm dứt việc
nuôi con nuôi xác nhận tài sản
riêng.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thm phán - Ch to phiên toà: Nguyễn Thị Thu Thanh.
Các Hi thm nhân dân:
Hoàng Thị Lợi.
Ông Nguyễn Hữu Đệ.
- Thƣ ký phiên toà: Bà Nguyn Th Hưng Thm tra viên Toà án nhân
dân huyn Đông Anh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyn Đông Anh, thành ph Ni
tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Th Thúy Nga - Kim sát viên.
Ngày 31/7/2019, ti tr s Toà án nhân dân huyn Đông Anh, thành phố
Ni xét x sơ thm v án th s: 23/2019/TLST - HNGĐ ngày 10 tháng 01
năm 2019 về tranh chấp yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi và xác nhận tài sản
riêng theo Quyết định đưa v án ra xét x s: 34/2019/QĐXXST HNGĐ ngày
01 tháng 7 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2019/QĐST HNGĐ
ngày 17 tháng 7 năm 2019 gia các đương s:
Nguyên đơn: Đỗ Thị T, sinh năm 1946.
Hộ khẩu thường trú nơi ở: Thôn Z, xã U, huyện Đ, thành phố Nội. Có mặt
tại phiên tòa.
Bị đơn: Anh Đỗ Duy H, sinh năm 1983.
Hộ khẩu thường trú nơi ở: Thôn Z, xã U, huyện Đ, thành phố Nội. Có mặt
tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Nguyễn Thị Phương K, sinh năm 1984.
2
Hộ khẩu thường trú nơi ở: Thôn Z, xã U, huyện Đ, thành phố Nội. Có mặt
tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Về quan hệ nuôi con nuôi: C Đ Duy X 02 v và 6 ngưi con là:
Đ Th V, sinh năm 1938; bà ĐThị T, sinh năm 1946; ông ĐDuy P, sinh năm
1947; bà Đỗ ThR; ông Đ Duy L; ông Đỗ Duy Q. Bà T kng lp gia đình
cùng bố mẹ cho đến khi các cụ chết thì bà T mt mình nên đ nghị với ông
ĐDuy L, cho xin cu ĐDuy H là con th ba của ông L v làm con nuôi. Ông
L đồng ý cho bà T nhận anh Hm con ni. Ny 16/8/1986, T làm đơn xin xác
nhận đưc y ban nhân dân xã U xác nhận việc ni con nuôi, khi đó anh H
được 03 tuổi. Mặt khác hai bên cũng lập biên bản giao nhận con nuôi, có sự xác
nhận của cnh quyền địa pơng. Ông L vợ bà G ng tự viết giấy cho anh H
làm con ni của T. Sau khi làm xong các thtục T nhận anh H v nuôi cho
đến nay. Trong cuộc sống hàng ny, anh H và T vẫn chăm sóc cho nhau, giữa
và anh H không xảy ra xô xát, điu tiếng .
Đến m 2007, T y dựng gia đình cho anh H. Sau khi anh H lấy vợ, hai
vchồng anh H cùng vi . Khi chK là vợ anh H sinh con thì gia T và chị K
nảy sinh mâu thuẫn.
Theo T trình y: Chị K i rng không tch cùng , kng cho
cm sóc cu, cnh vì vậy giữa hai bên xảy ra mâu thun. Ch K bế con vn
ngoại sinh sng được vài ny t quay vxin li bà, ch K cũng t tay viết bản kiểm
điểm để xin lỗi. Khi gia bà và ch K nảy sinh mâu thuẫn, anh H không nói ch K
mà mọi vic đều nghe ý kiến của ch K quyết định. Cho đến khoảng năm 2013, do
ch K có mâu thun vi nhau nên cho anh, chphần đt 50m
2
trong din tích
đất của đã đưc cấp Giấy chng nhn đứng tên hộ gia đình ĐTh T đanh,
chị ra riêng m thtc đ sang tên cho anh H ngay thời điểm đó. Từ khi ra
rng, anh H, chị K tiếp tc kng chăm c, kng quan m đến cuc sống của .
Cho đến khoảng tháng 5/2018 khi anh H, ch K y nhà thì anh, ch y nhà
lấn sang phn đất của bà còn lại. có nói với anh, chị t hain xảy ra mâu thuẫn
trầm trng n. Bà yêu cầu Tòa án gii quyết chấm dt vic nuôi con nuôi của bà
đối vi anh ĐDuy H xác nhận cho bà là quyn s dụng đt và tài sản tn đt ti
thửa s 31, tbản đồ s 92 xóm Z , xã U, huyện Đ, thành phố Hà Nội là i sn của
rng kng liên quan đến anh Hân anh tên trong sổ hkhu với và
Giấy chng nhận quyền sử dụng đất cp cho hộ gia đình mang tên nhưng đây
3
tài sản của riêng , tạo dựng được tài sản y từ trước khi xin anh H m con
ni. c i sản trên đất do bà y dựng, anh H không đóng p .
Theo anh ĐDuy H trình bày: Anh nhất trí với lời trình bày của bà T về
thời gian, điều kiện gia đình quá trình xin anh làm con nuôi, mẹ con sinh
sống cùng nhau. Giữa mnuôi anh anh không vấn đề nhưng giữa
vợ anh không hợp nhau nên những bất đồng dẫn đến anh phải dọn ra riêng
từ năm 2009, 2010. Sau đó T cho anh 50 m
2
đất trong diện tích đất của
tại tha s31, tờ bản đs 92 m Z, U, huyện Đ, thành phố Nội v
chồng anh xây n rng tại đó t năm 2017 cho đến nay. Nay T muốn chấm dứt
quan hệ ni con nuôi với anh thực tế trong tm tâm anh kng muốn nhưng anh
biết theo quy đnh của pp luật t mẹ ni anh quyn và cương quyết nên anh
cũng nhất t chấm dứt việc ni con nuôi này để cho bà thoi mái tưởng và kng
phải vất vả. Vềi sản tại tha đất số 31, t bản đồ số 92 xóm Z, , U, huyện Đ,
thành phố Nội đã được UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số U 934691 ngày 15/9/2002 đứng tên hộ gia đình Đỗ Thị T, diện tích
163,5 m
2
và các công trình xây dựng trên đất thì anh xác nhận đây là tài sản riêng
của T, anh không công sức gì, đất từ trước khi xin anh làm con nuôi
còn các tài sản khác xây dựng anh không công sức gì. Sau đó anh H lời
khai xin thay đổi rút lại toàn bộ lời khai, ý kiến đã trình bày trước đó tại Tòa
án. Anh H xác định: Anh không đồng ý với yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi
của T. T đã cho anh diện tích 50 m
2
trong thửa đất thửa số 31, tờ bản đồ s
92 m Z, , xã U, huyện Đ, thành phố Nội, có nh thể , vị trí như Tòa án đã
xemt, thẩm định và anh đã đưc cp Giấy chng nhận quyền sử dụng đất đứngn
anhn phần đt này của riêng anh, kng ln quan gì đếnu cu của bà T. Anh
kng đồng ý cho T c nhận quyn sử dụng đất ti tha số 31, tờ bản đồ số 92
xóm Z, , xã U, huyện Đ, thành phố Nội, diện ch 163,5 m
2
các tài sản y
dựng trên đất là của rng bà T vì bà đã già yếu cần nời cm sóc và anh s sau này
sxảy ra tranh chấp.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Phương K trình
bày: Chị kết hôn với anh Đỗ Duy H năm 2008 và về chung sống cùng anh m
nuôi của anh Đỗ Thị T tại nhà đất T từ trước. Quá trình vợ chồng chị
sống chung cùng T, anh chị không công sức đóng góp vào khối tài sản
của bà T như anh H đã trình bày nên đó là tài sản riêng của bà. Tuy nhiên chị xác
định chị không liên quan đến việc T yêu cầu chấm dứt nuôi con nuôi với
anh H nên chị không ký bất kỳ biên bản gì với Tòa án.
4
Tại phiên tòa hôm nay: Nguyên đơn Đỗ Thị T vẫn giữ nguyên các ý
kiến, yêu cầu như trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án. xác định: Mặc
giữa bà và anh H không có mâu thuẫn trực tiếp mà mâu thuẫn chính là giữa bà và
vợ anh H nhưng do anh H không biết bảo ban vợ dẫn đến nhiều lần chị xử
không đúng mực với , đã tha thứ nhưng vẫn tái diễn. Anh chị ăn riêng đã
lâu không quan tâm chăm c nên phải tự lo cho mình. Do vậy kiên
quyết đnghị được chấm dứt việc nuôi con nuôi với anh Đỗ Duy H đề nghị
Tòa án xác nhận quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền trên đất tại tha số 31,
tbn đ s92 xóm Z, , xã U, huyện Đ, thành phố Hà Nội, diện tích 163,5 m
2
là tài
sản của riêng, anh H kngng sức đóng góp hoc quyn lợi trong khii
sản y. Thửa đất đang qun lý so với Giấy chứng nhận đã đưc cấp din ch
lớnn phn diệnch lớnny nằm về phía gp nhà ông N hàngm ca.
Ngun nn là do trước đây bà có mua thêm một phn đất của gia đình ông N đã
xâyng bao, sử dụng ổn định nhưng bà chưa khai xin cấp Giấy chứng nhận đối
với phần mua tm của gia đình ông N n Giấy chứng nhận chỉ cp theo đúng hồ sơ
địa cnh ban đầu mà địa pơng cấp đất cho bà. Bà không yêu cầu Tòa án gii quyết
đối với phần đất y quan hệ mua n gia với ông N liên quan đến phần đất
này. Diện ch đất 50 m
2
trong tha đất này đã cho anh H từ trước nay c
định vn cho anh H không yêu cầu a án giải quyết.
Bđơn anh ĐDuy H tnh bày: Quan hệ giữa anh bà T hn toàn bình
tng, anh vẫn quan tâm đến bà nhưng do bà và vợ anh mâu thuẫn mà nguyên nhân
là do v anh thẳng tính li kng ko nên trong cư xử có nhữngc làm T không
vừa ý. Anh vẫn mong bà T suy nghĩ li đ anh vẫn được coi là m tiếp tục quan
tâm, cm c . Tuy nhn nếu T đã kiên quyết t về mt pháp lý anh nht trí
cho T chấm dứt vic ni con nuôi đối vi anh n vtình cảm anh vẫn luôn coi
bà là m vẫn mong muốn được quanm, chăm sóc. Việc anh đồng ý chấm dứt
việc nuôi con ni gia bà T với anh do anh hoàn toàn tự nguyện, không bai ép
buộc vì anh không mun T phải vất vả, suy ng nhiều. Về tài sản là quyền sử
dụng đất và các tài sản gắn liền trên đất tại tha s 31, tờ bản đồ số 92 xóm Z, ,
U, huyện Đ, thành phố Nội, din ch 163,5 m
2
, anh H c định: Đt có nguồn
gốc của T đưc cấp từ tớc khi nhận anh m con nuôi, các i sản trên đất do
bà T y dựng anh không đóngp gìn đây i sn riêng của bà T. Phần đất 50
m
2
trong tha đất này T đã cho anh trước đó là của anh, kng n ln quan đến
tài sn T đang yêu cầu c nhận i sản riêng của bà.
Ni có quyn lợi, nga vliên quan chNguyễn Thị Pơng K tnh y:
Chị kết n với anh H năm 2008 về chung cùng anh H, bà T tại m Z, U.
5
Q trình chung sống, ch người thng nh, không khéo léo n gia ch T
xảy ra nhng mâu thuẫn, do đó ch tránh tiếp xúc để hạn chế va chạm với nhưng
anh H vn thường xuyên quan tâm, cm c T. Bản thân ch riêng nhưng
vẫn nhắc nh anh H đưa con sang chơi, hỏi thăm . Khi anh ch m nhà tn din
tích đt bà T cho, anh ch mi bà về cùng nng bà không về. Theo ch bà T
đang bị những ni kng tốt tác động khiến chấm dứt vic ni con ni với
anh H n ch mong T nghĩ lại. Ch K ý kiến tại phn a: Trong c mcon
nóng nảy ch i nhng điều không phải t chị xin li T và mong bỏ qua.
Vi sn quyền sử dụng đất các tài sản gắn liền trên đất tại thửa s31, t
bản đsố 92 xóm Z, xã U, huyn Đ, thành phHà Nội, diện tích 163,5 m
2
: Chị K xác
định chị không đóngp gì vào sựnh thành khốii sản này. Phần đất 50 m
2
trong
thửa đất này bà T đã cho anh H trưc đó ca anh H, không còn liên quan đến i
sản bà T đang yêu cầu Tòa án c nhận i sản rng của bà.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh phát biểu quan điểm về
việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán,
Hội đồng t xử, Thư đã tuân theo đúng quy định của pháp luật, không vi
phạm tố tụng.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh về việc
giải quyết vụ án:
Chấp nhận yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của Đỗ Thị T với anh
Đỗ Duy H. Chấm dứt việc nuôi con nuôi của bà Đỗ Thị T với anh Đỗ Duy H.
Xác nhận tài sản gồm: Quyền sdụng đất tại tha s31, tờ bn đ số 92
xóm Z, xã U, huyện Đ, tnh ph Hà Nội, diện tích 163,5 m
2
, đã được UBND huyện
Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U 934691 ngày 15/9/2002 đứng
tên hộ gia đình bà Đỗ Thị T và các tài sản gắn liền trên đất là tài sản riêng của bà
Đỗ Thị T.
Về án phí: Bà T người cao tuổi nên được miễn tiền án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cu các tài liu có trong h sơ v án được thm tra ti phiên
toà và căn c vào kết qu tranh lun ti phiên toà, nhn định:
[1] Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Bà Đỗ Thị T yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với
anh Đỗ Duy H theo quy định tại Điều 10 Luật nuôi con nuôi nên thẩm quyền giải
6
quyết của Tòa án nhân dân cấp thẩm quyền theo quy định của pháp luật tố
tụng dân sự. T anh H đều công dân Việt Nam, trú tại xóm Z, U,
huyện Đ, thành phố Nội nên thẩm quyền thuộc Tòa án nhân dân huyện Đông
Anh giải quyết. Ngoài ra T còn yêu cầu xác nhận tài sản đã được cấp giấy
chứng nhận tài sản gắn liền của riêng bà, không liên quan đến anh H t
theo quy định tại Điều 27 Luật nuôi con nuôi xác định tranh chấp này thuộc thẩm
quyền của Tòa án.
T chỉ yêu cầu xác nhận tha đất số 31, tbản đs92 m Z, U,
huyn Đ, tnh phHà Ni đã được UBND huyện Đông Anh cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số U 934691 ngày 15/9/2002 đứng tên hộ gia đình bà Đỗ
Thị T, diện tích 163,5 m
2
tài sản gắn liền trên đất tài sản riêng của còn
phần đất đang sử dụng ngoài Giấy chứng nhận đã được cấp khai của
mua của gia đình liền khộ ông N nhưng không yêu cầu Tòa án giải quyết
để tự giải quyết sau. Yêu cầu này của hoàn toàn phù hợp quy định của
pháp luật nên được chấp nhận.
[2] Về quan hệ nuôi con nuôi giữa Đỗ Thị T anh Đỗ Duy H: T
bác ruột của anh Đỗ Duy H nhưng do không lập gia đình nên đã làm các thủ tục
nhận anh Hcon nuôi và trực tiếp nuôi dưỡng anh H từ khi anh H được 03 tuổi.
Cho đến nay anh H đã thành niên, tự lập được về kinh tế, đã có gia đình riêng và
nhà riêng. Quá trình anh H làm con nuôi của T, giữa anh H không
có mâu thuẫn trực tiếp, chỉ từ sau khi anh H kết hôn thì giữa vợ anh H và bà T
những mâu thuẫn những mâu thuẫn này ảnh hưởng đến tình cảm giữa T và
anh H. Cụ thể, từ năm 2009, 2010 anh H đã dọn ra riêng đến năm 2013 thì
bà T cho anh H một phần đất trong thửa đất của bà ở xóm Z, xã U, Đ và đến năm
2018 thì vợ chồng anh H xây nhà, riêng tại đó. Do mcon riêng nên việc
quan tâm, chăm sóc không thường xuyên do vậy không muốn tiếp tục nhận
anh H con nuôi bà yêu cầu Tòa án cho chấm dứt việc nuôi con nuôi đối
với anh H. Anh H xác định: Trong thâm tâm anh không mong muốn chấm dứt
việc nuôi con nuôi giữa T với anh nhưng anh cũng không muốn phải suy
nghĩ nhiều nên về mặt pháp anh đồng ý cho T chấm dứt việc nuôi con nuôi
với anh còn anh vẫn luôn coi mẹ nuôi của anh. Anh H xác định việc anh
đồng ý chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa bà T với anh hoàn toàn tự nguyện,
không bị ai ép buộc. Anh H đã thành niên, tự lập được về kinh tế tự chủ trong
cuộc sống, anh H và bà T hoàn toàn tự nguyện trong việc chấm dứt việc nuôi con
nuôi giữa T đối với anh H nên theo quy định tại Khoản 1 Điều 25 Luật nuôi
con nuôi thì nguyện vọng chấm dứt việc nuôi con nuôi của bà T với anh H là phù
7
hợp quy định của pháp luật. Do vậy, chấp nhận yêu cầu chấm dứt việc nuôi con
nuôi của bà Đỗ Thị T đối với anh Đỗ Duy Hcó căn cứ.
[3] Về yêu cầu xác nhận tài sản riêng đối với quyền sử dụng đất ti thửa số
31, tờ bản đồ s 92 xóm Z, xã U, huyện Đ, thành ph Hà Nội, diện ch 163,5 m
2
và
các tài sản y dựng tn đất của rng T:
Thửa đất số 31, tbản đồ s92 m Z, U, huyện Đ, thành phố Hà Nội đã
được UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U 934691 ngày
15/9/2002 đứng tên hộ gia đình bà Đỗ Thị T, diện tích 163,5 m
2
, có nguồn gốc là
của Đỗ Thị T được địa phương cấp cho từ những năm 1970. Sau khi được địa
phương cấp đất T ra xây dựng c công trình trên đất, quản lý, sử dụng
cho đến hiện nay. Quá trình quản lý sử dụng đất này bà T đã mua thêm một phần
diện tích của gia đình ông N liền kề nhưng không khai xin đính chính
bản đồ địa chính, khi kê khai xin cấp Giấy chứng nhận không khai phần
mua thêm này nên diện tích bà được cấp Giấy chứng nhận là theo đúng diện tích,
hình thể trong bản đồ địa chính. Sau khi được cấp Giấy chứng nhận bà đã chuyển
nhượng một phần tặng cho anh H một phần nên diện tích theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất hiện nay bà còn được sử dụng 163,5 m
2
. Trên đất
còn xây dựng các công trình nhà hai tầng nhà cấp 4, sân gạch, tường bao.
Anh H và chị K đã có lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa xác nhận toàn bộ các tài
sản trên là của bà T, anh chị không có công sức đóng góp gì nên không có căn cứ
xác định anh H chị K công sức trong khối tài sản bà T đang quản lý. Do vậy
chấp nhận yêu cầu của T xác nhận thửa đất số 31, tờ bản đồ số 92 xóm Z, xã U,
huyn Đ, Thành ph Hà Nội đã được UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số U 934691 ngày 15/9/2002 đứng tên hộ gia đình bà Đỗ Thị T, diện
tích 163,5 m
2
các tài sản gắn liền trên đất tài sản riêng của bà T căn
cứ.
[4] Về án phí hôn nhân gia đình thẩm: Án phí đối với yêu cầu chấm dứt
việc nuôi con nuôi là án phí không giá ngạch, án phí đối với yêu cầu xác nhận tài
sản riêng án giá ngạch Đỗ Thị T nguyên đơn phải chịu theo quy
định của pháp luật. Tuy nhiên T sinh năm 1946, năm nay đã 73 tuổi thuộc
trường hợp người cao tuổi đơn xin miễn tiền tạm ứng án phí, án phí theo
quy định tại điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án nên bà được miễn nộp án phí.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo
quy định của pháp luật.
8
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Điều 10, Điều 25, Điều 27 Luật nuôi con nuôi; Khoản 8 Điều
28, Điều 203, Điều 227, Điều 228, Điều 271 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân
sự ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận đơn khởi kiện của Đỗ Thị T đối với anh Đỗ Duy H. Chấm
dứt việc nuôi con nuôi giữa bà Đỗ Thị T với anh Đỗ Duy H.
Xác nhậnc tài sản gồm: Thửa đất số 31, tờ bản đ số 92 xóm Z, xã U, huyện
Đ, Thành phHà Nội đã được UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số U 934691 ngày 15/9/2002 đứng tên hộ gia đình Đỗ Thị T, diện
tích 163,5 m
2
và các tài sản gắn liền trên đất là tài sản riêng của bà T.
Về án phí hôn nhân gia đình thẩm: Đỗ Th T phải chịu nhưng
thuộc trường hợp được miễn nộp tạm ứng án phí án phí nên bà không phải
nộp án phí.
Án x ng khai sơ thm Đỗ Thị T, anh Đỗ Duy H ch Nguyễn Th
Pơng K quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày k t ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND huyện Đông Anh;
- Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội;
- THA dân sự huyện Đông Anh;
- UBND U, huyện Đ, thành phố
Nội;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Nguyễn Thị Thu Thanh
9
10
11
12
13
HỘI THẨM NHÂN DÂNTHẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Cao Thị Thuý
14
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Người tham gia tố tụng. Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà:
- Viện KS ND h.Đông Anh.
- Tòa án ND TP.Hà Nội.
- THA huyện Đông Anh.
- Lưu HSơ vụ án.
Cao Thị Thuý
15
16
Tải về
Bản án số 36/2019/HNGĐ-ST Bản án số 36/2019/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất