Bản án số 34/2022/HS-PT ngày 22/04/2022 của TAND TP. Đà Nẵng về tội cướp giật tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 34/2022/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 34/2022/HS-PT ngày 22/04/2022 của TAND TP. Đà Nẵng về tội cướp giật tài sản
Tội danh: 136.Tội cướp giật tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Đà Nẵng
Số hiệu: 34/2022/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/04/2022
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 34/2022/HS-PT
Ngày: 22/4/2022
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Đỗ Thị Thúy Năng
Các Thẩm phán: Ông Phan Vĩnh Chuyển
Ông Ngô Hà Nam
- Thư phiên toà: Ông Đặng Hoàng Long - Thư Toà án nhân dân thành
phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân n thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Bạch Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 22/4/2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phĐà Nẵng xét xử phúc
thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 118/2021/TLPT-HS ngày 27 tháng
12 năm 2021 đối với bcáo Trần Ngọc Hoàn Th do có kháng cáo của bcáo đối với
Bản án hình sự thẩm số 119/2021/HS-ST ngày 23 tháng 11 năm 2021 của Tòa án
nhân dân quận Th, thành phố Đà Nẵng.
B cáo kháng cáo:Trần Ngọc Hoàn Th, tên gọi khác: Không; sinh ngày
09/11/1987; tại Đà Nẵng; nơi trú: Tổ A, phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng;
nghề nghiệp: Không. trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo:
Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Trung Ng (còn sống) và Huỳnh Thị
Ngh (chết); có vợ Đinh ThMỹ D ã ly hôn), 02 con, con lớn sinh năm 2012,
con nhỏ sinh năm 2013.
Tiền sự: Không.
Tiền án: Tại Bản án số 89/2019/HSST ngày 22/11/2019 bị Tòa án nhân dân
thành phố Đà Nẵng xử phạt 18 tháng về tội "Cướp giật tài sản", chấp hành xong
hình phạt tù vào ngày 30/6/2020.
Nhân thân: Tháng 5 năm 2011, bị Công an phường B, quận Hải Châu, thành phố
Đà Nẵng xử phạt hành chính về sử dụng trái phép chất ma túy.
Ngày 25/3/2022, quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Kỳ, tỉnh
Quảng Nam quyết định khởi tố bị can số 64/QĐ-CQĐT-ĐTTH đối với Trần Ngọc
2
Hoàn Th về tội: Trộm cắp tài sản” quyết định tạm giữ từ ngày 17/3/2022, lệnh
tạm giam từ ngày 26/3/2022. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Người giám hộ cho bị cáo Trần Ngọc Hoàn Th: Ông Trần Ngọc L, sinh năm
1976; Địa chỉ: Tổ B, phường T, quận Th, thành phố Đà Nẵng (anh ruột của bị
cáo). Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Ngọc Hoàn Th: Ông Bùi Xuân N - Luật
Công ty Luật M- thuộc đoàn luật sư thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 01/3/2021, Trần Ngọc Hoàn Th đi
bộ qua trước quán phê số A đường Tr, phường V, quận Th, thành phố Đà Nẵng
thì thấy chị Phan Thị Thu H cùng 01 người bạn của chị Nguyễn Đình M
đang ngồi uống phê trong quán, trên tay chị H cầm 01 điện thoại di động hiệu
Iphone 7, màu vàng (ốp lưng màu xanh). Lúc này, Trần Ngọc Hoàn Th đi đến giật
chiếc điện thoại nói trên rồi bỏ chạy. Chị H liền truy hô, đuổi theo cùng quần chúng
nhân dân bắt giữ cùng vật chứng là chiếc điện thoại nêu trên.
Tại biên bản định giá tài sản ngày 10/3/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong
Tố tụng hình sự quận Th xác định điện thoại di động hiệu Iphone 7 nêu trên có giá trị
3.200.000 đồng.
Quá trình làm việc Trần Ngọc Hoàn Th biểu hiện mắc bệnh tâm thần nên
ngày 05/3/2021 quan Cảnh sát điều tra Công an quận Th đã ra Quyết định trưng
cầu giám định số 42/ĐTTH để yêu cầu xác định tình trạng tâm thần trước, trong khi
và sau thời điểm thực hiện hành vi nói trên đối với Trần Ngọc Hoàn Th.
Kết luận giám định số: 371/KLGĐ ngày 20.4.2021 của Trung Tâm pháp y tâm
thần khu vực miền Trung thuộc Bộ Y tế đã kết luận như sau:
Trước thời điểm gây án:
Về y học: Rối loạn tâm thần hành vi do sử dụng Methamphetamine
(F19.50)/Rối loạn loại phân liệt (F21).
Về khả năng nhận thức khả năng điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận
thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
Tại thời điểm gây án:
Về y học: Trạng thái loạn thần cấp do hoang tưởng, ảo giác chi phối của rối loạn
tâm thần giống tâm thần phân liệt trong rối loạn tâm thần hành vi do sử dụng
Methamphetamine (F19.50)/Rối loạn loại phân liệt (F21).
3
Về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Mất khả năng nhận thức
và mất khả năng điều khiển hành vi.
Thời điểm hiện tại:
Về y học: Rối loạn loạn thần giống tâm thần phân liệt trong rối loạn tâm thần
nh vi do sử dụng Methamphetamine (F19.50) hiện tại tạm ổn/ Rối loạn phân liệt
(F21). Đối tượng cần được điều trị bắt buộc hoặc điều trị nội trú tại sở chuyên
khoa tâm thần và cách ly với ma túy.
Về khả năng nhận thức khả năng điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận
thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
Với nội dung trên, tại Bản án thẩm s 119/2021/HS-ST ngày 23/11/2021
của Tòa án nhân dân quận Th, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Trn Ngc Hoàn Th phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Căn cứ: khoản 1 Điều 171; điểm s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản
1 Điều 52 BLHS
Xử phạt: Trần Ngọc Hoàn Th 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt
tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Ngoài ra, bản án thẩm còn quyết định v x vt chng, án phí quyn
kháng cáo bn án.
Ngày 30/12/2021, b cáo Trn Ngc Hoàn Th đơn kháng cáo với ni dung:
Xin xét x theo trình t phúc thm, gim nh hình pht cho b cáo.
Tại phiên tòa, đại din Vin Kim sát nhân dân thành ph Đà Nẵng quan
đim v vic gii quyết v án như sau:
V th tc t tng: Đơn kháng cáo ca b cáo Trn Ngc Hoàn Th theo đúng
th tc và trong thi hạn kháng cáo nên đảm bo hp l.
Về nội dung: Xét vnội dung đơn kháng cáo của bị cáo thì thấy Bản án
thẩm s119/2021/HS-ST ngày 23/11/2021 của Tòa án nhân dân quận Th, thành phố
Đà Nẵng đã xét xử bcáo về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 BLHS
căn cứ, đúng pháp luật, mức án 02 (hai) năm tù mà cấp thẩm xử phạt đối với bị
cáo tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo. Tại phiên tòa phúc
thẩm bị cáo không tình tiết giảm nhẹ nào mới nên đề nghị HĐXX xem xét căn cứ
điểm a khoản 1 Điều 355 Điều 356 Bộ luật T tụng hình sự không chấp nhận
kháng cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Bcáo Trần Ngọc Hoàn Th thừa nhận hành vi phạm tội, giữ nguyên kháng cáo
và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
4
Luật sư Bùi Xuân N bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến
nhân thân, hoàn cảnh gia đình, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người giám h cho bị cáo ông Trần Ngọc L xin Hội đồng xét xử xem xét
đến nhân thân, hoàn cảnh gia đình, bị cáo phạm tội do ảo giác, giảm nhẹ hình phạt
cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Tại phiên a phúc thẩm bị cáo Trần Ngọc Hoàn Th đã thừa nhận hành vi
phạm tội của mình. Lời thừa nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ
khác trong hồ vụ án, do đó HĐXX đủ sở khẳng định: Khoảng 12 giờ 15
phút ngày 01/3/2021 tại số A đường Tr, phường V, quận Th, thành phố Đà Nẵng, bị
cáo đã hành vi cướp giật của chị Phan Thị Thu H 01 điện thoại di động hiệu
Iphone 7, màu vàng (ốp lưng màu xanh) có giá trị 3.200.000 đồng.
Vì vậy, Bản án sơ thẩm số 119/2021/HS-ST ngày 23/11/2021 của Tòa án nhân
dân quận Th, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo Trần Ngọc Hoàn Th về tội “Cướp
giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự đúng người, đúng tội, đúng
pháp luật.
[2]. Xét nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo thì thấy: Hành vi
phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác
được pháp luật bảo vệ. Ngày 22/11/2019 bcáo bị Tòa án nhân dân thành phố Đà
Nẵng xử phạt 18 tháng về tội "Cướp giật tài sản", sau khi chấp hành xong hình
phạt , chưa được xóa án tích, lra bị cáo phải lấy đó làm bài học cho mình, từ bỏ
ma túy, nhưng bị cáo vẫn tiếp tục sử dụng ma túy và đi vào con đường phạm tội. Lần
phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm. Do đó, đối với bị cáo cần phải xử
phạt một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác
dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Xét khi quyết định hình phạt,
Tòa án cấp thẩm đã đánh gđúng tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm
tội của bị cáo gây ra, đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
quy định tại điểm s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức
án 02 (hai) năm là phù hợp, không nặng. Bcáo kháng cáo xin được giảm nhẹ hình
phạt nhưng không tình tiết giảm nhẹ mới nào, nên Hội đồng xét xử không chấp
nhận kháng cáo của bị cáo luận cứ bào chữa của luật sư, giữ nguyên Bản án
thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
5
[3] Các quyết định khác của Bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trn Ngc Hoàn Th. Giữ nguyên Bản
án sơ thẩm.
Căn cứ: khoản 1 Điều 171; điểm s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản
1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc Hoàn Th 02 (hai) năm về tội Cướp giật tài
sản” , thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt giam thi hành án.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Bcáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND thành phố Đà Nẵng;
- Vụ GĐKT 1-TAND tối cao;
- VKSND quận Th;
- CQCSĐT CA Q. Thanh Khê;
- Phòng HSNV- CA Tp. Đà Nẵng;
- TAND quận Th;
- Chi cụcTHADS quận Th;
- Sở Tư pháp Tp. Đà Nẵng;
- CQCSĐT CA Tp.Tam Kỳ;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu: HS; HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Đỗ Thị Thúy Năng
6
Tải về
Bản án số 34/2022/HS-PT Bản án số 34/2022/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất