Bản án số 34/2019/HNGĐ-ST ngày 19/09/2019 của TAND huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh về tranh chấp ly hôn; quyền nuôi con, cấp dưỡng nuôi con và tranh chấp chia tài sản chung khi ly hôn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 34/2019/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 34/2019/HNGĐ-ST ngày 19/09/2019 của TAND huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh về tranh chấp ly hôn; quyền nuôi con, cấp dưỡng nuôi con và tranh chấp chia tài sản chung khi ly hôn
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Càng Long (TAND tỉnh Trà Vinh)
Số hiệu: 34/2019/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/09/2019
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông K yêu cầu ly hôn với bà Linh
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÀNG LONG
TỈNH TRÀ VINH
Bản án số: 34/2019/HNGĐ-ST.
Ngày 19-9-2019.
V/v Tranh chấp ly hôn; quyền nuôi
con, cấp dưỡng nuôi con tranh
chấp chia tài sản chung khi ly hôn
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên.
Các Hội Thẩm nhân dân: 1/ Ông Trương Thanh Nhàn.
2/ Ông Nguyễn Văn Hòa.
Thư phiên tòa: Ông Đinh Văn - Thư Toà án nhân dân huyện Càng
Long.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh tham gia
phiên tòa: Ông Phạm Văn Tính - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Càng Long,
tỉnh Trà Vinh mphiên toà xét xử thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý
số: 562/2018/TLST-HNGĐ, ngày 24 tháng 12 năm 2018 về: Tranh chấp ly hôn;
quyền nuôi con, cấp dưỡng nuôi con, tranh chấp chia tài sản chung khi ly hôntheo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 134/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 19 tháng 8 năm
2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Phạm Minh K, sinh năm 1985.
Địa chỉ: ấp L C B, xã AT A, huyện C L, tỉnh Trà Vinh (Có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn ông Phạm Minh Khoa
là: Luật Nguyễn Văn N - Văn Phòng Luật Giang Minh Châu Thuộc đoàn
Luật sư tỉnh Trà Vinh (Có mặt)
Bị đơn: Lê Thị L, sinh năm 1984. Địa chỉ: ấp L C B, A T A, huyện C L,
tỉnh Trà Vinh. (Có mặt)
Con chung của vợ chồng: Em Phạm Minh H, sinh ngày 06 tháng 8 năm 2010 (
mặt). Địa chỉ: ấp L C B, xã A T A, huyện C L, tỉnh Trà Vinh.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Phạm Văn B, sinh năm 1960. Địa chỉ: ấp L C B, A T A, huyện C
L, tỉnh Trà Vinh. (Có mặt)
2/ Thị N, sinh năm 1958. Địa chỉ: ấp L C B, A T A, huyện C L, tỉnh
Trà Vinh.
2
Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị N là ông Phạm Văn Bé B, sinh năm
1960. Địa chỉ: ấp L C B, xã A T A, huyện C L, tỉnh Trà Vinh. Theo văn bản ủy quyền
ngày 10 tháng 6 năm 2019 (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ KIỆN:
Tại đơn khởi kiện các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng
như tại phiên tòa m nay ông Phạm Minh K nguyên đơn lời trình bày như
sau: Ông với Thị L do quen biết nhau được sự đồng ý của gia đình hai bên
đi đến xác lập quan hệ hôn nhân, tchức lễ cưới vào năm 2009 đăng kết
hôn tại Ủy ban nhân dân A T A, huyện C L, tỉnh Trà Vinh vào ngày 18 tháng 9
năm 2009. Nữ trang trong ngày cưới tổng cộng 10 chỉ vàng 24 kra chỉ vàng 24kra
gồm 01 đôi bông tai, sợi dây chuyền 04 chỉ vàng 24 kra, lắc tay 05 chỉ vàng 24 kra và
nhẫn cưới 05 phân vàng 18 kra, số nữ trang này hiện do bà L đang quản lý.
Sau khi cưới thời gian đầu ông, bà chung sống với nhau hạnh phúc bên nhà ông,
đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng xảy ra mâu thuẫn
do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cự cải nhau gia đình hai bên
nhắc nhỡ nhiều lần nhưng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ
chồng ngày càng lạnh nhạt, gia đình không hạnh phúc. Nên ông yêu cầu xin được ly
hôn với bà L.
Về con chung: Trong thời gian chung sống ông với L với nhau một
người con chung em Phạm Minh H, sinh ngày 06 tháng 8 năm 2010 hiện đang
sống với L. Sau khi ly hôn ông thống nhất theo nguyện vọng của con nếu con
nguyện vọng sống với ông thì ông nuôi, ngược lại nếu con nguyện vọng sống với
bà Linh thì bà L nuôi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Nếu con nguyện vọng sống với L thì ông tự
nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 745.000đồng (Bảy trăm bốn mươi lăm nghìn
đồng) và cấp cho đến khi con tròn 18 tuổi.
Về tài sn chung: Trong thời gian chung sống ông với L tạo lập được tài
sản chung gồm các vật dụng sinh hoạt trong gia đình như: Một bộ salol mua vào năm
2013 giá 17.600.000đồng; Một tủ kệ đựng Tivi mua vào năm 2016 giá là
10.000.000đồng và xây một hàng rào lưới B40 cao 1,4m dài 23,4m giá trị
19.000.000đồng. Mái che tiền chế xây dựng vào năm 2017 giá trị 6.000.000đồng
(Sáu triệu đồng). Ông với L đã thỏa thuận về tài sản này, ông nhận phần tài sản
bằng hiện vật, ông thống nhất giao lại cho L số tiền 20.000.000đồng (Hai mươi
triệu đồng).
Phần căn nhà cấp bốn mà bà L yêu cầu thì ông không đồng ý, đây là nhà của
ba mẹ ông ông B với N, do ông cưới L về chung sống với cha mẹ ruột
ông ông B N. Ông thừa nhận căn nhà này xây dựng vào năm 2013, Nhà
nước cho ông B số tiền xây nhà tình nghĩa là 40.000.000đồng, phần còn lại
ông B, bà N vô xây dựng căn nhà. Chuồng heo do vợ chồng xây dựng nhưng bà L
cần thì cứ dỡ đem đi ông không ý kiến, số tiền trong tài khoản ATM theo ông
trước giờ là không có số tiền này.
3
Phần nữ trang trong ngày cưới do L đang quản sử dụng ông thống nhất để
lại cho bà Linh sử dụng, ông không yêu cầu gì.
Về nợ chung người khác nợ vợ chồng: Không có nên ông không yêu cầu gì.
Tại các đơn yêu cầu phản tố, các bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án
cũng như tại phiên tòa hôm nay bà Lê Thị L là bị đơn có lời trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: với ông Phạm Minh K do quen biết nhau được sự
đồng ý của gia đình hai bên đi đến xác lập quan hhôn nhân, tổ chức lcưới vào
năm 2009 đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân A T A, huyện C L, tỉnh Trà
Vinh vào ngày 18 tháng 9 năm 2009. Nữ trang trong ngày cưới tổng cộng 10 chỉ
vàng 24 kra chỉ vàng 24kra gồm: 01 đôi bông tai 01 chỉ vàng 24 kra, sợi dây chuyền
04 chỉ vàng 24 kra, lắc tay 05 chỉ vàng 24 kra nhẫn cưới 05 phân vàng 18 kra, số
nữ trang này hiện nay không còn, trong thời gian chung sống đã bán snữ trang
này để nuôi con và xây nhà.
Sau khi cưới thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc bên nhà
ông, đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng xảy ra mâu thuẫn
do bất đồng quan điểm sống, do ông K quen người phụ nữ khác bên ngoài, khi
về nhà vợ chồng thường xuyên cự cải nhau, gia đình hai bên nhắc nhỡ nhiều lần
nhưng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, tình cảm vchồng ngày càng lạnh
nhạt, gia đình không hạnh phúc. Nay ông K yêu cầu xin ly hôn với thì bà cũng
đồng ý.
Về con chung: Trong thời gian chung sống với ông K với nhau một
người con chung em Phạm Minh H, sinh ngày 06 tháng 8 năm 2010 hiện đang
sống với bà. Sau khi ly hôn bà thống nhất theo nguyện vọng của con nếu con
nguyện vọng sống với bà thì bà nuôi, ngược lại nếu con có nguyện vọng sống với ông
K thì ông K nuôi, bà không cấp dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Nếu con có nguyện vọng sống với bà thì bà yêu cầu ông
K nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 745.000đồng (Bảy trăm bốn mươi lăm
nghìn đồng) và cấp cho đến khi con tròn 18 tuổi.
Về tài sản chung: L cho rằng trong thời gian chung sống ông K tạo
lập các tài sản chung gồm: Một căn nhà cấp 4 vách tường, mái tol, nền gạch men xây
dựng vào năm 2013 trên phần đất của ông Phạm Văn B và bà Thị N tọa lạc tại
ấp L C B, xã A T A, huyện C L, tỉnh Trà Vinh giá trị căn nhà c xây dựng khoảng
260.000.000đồng (Hai trăm sáu mươi triệu đồng), trong này Nhà nước có cho ông Lê
Văn Bé B số tiền là 40.000.000đồng, vợ chồng bà có hốt hụi, làm ăn tiền bù vô để
xây nhà cho vợ chồng bà ở do ông K với bà sống chung với ông Bé B, bà N.
Ngoài căn nhà thì ông K còn mua được các vật dụng sinh hoạt trong gia
đình gồm: Một bộ salol mua vào năm 2013 giá 17.600.000đồng; Một tủ kệ đựng Tivi
mua vào năm 2016 giá 10.000.000đồng xây một hàng rào lưới B40 cao 1,4m dài
23,4m gtrị 19.000.000đồng. Mái che tiền chế xây dựng vào năm 2017 giá trị
6.000.000đồng (Sáu triệu đồng). với ông K đã thỏa thuận về tài sản này, nhận
phần giá trị với số tiền là 20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng) phần tài sản hiện vật
giao lại cho ông K tiếp tục quản lý, sử dụng.
4
Ngoài ra trong thời gian chung sống bà với ông K xây một chuồng heo giá trị
20.000.000đồng tiền trong tài khoản ATM của ông K với số tiền
80.000.000đồng. L yêu cầu chia đôi xin hưởng số tiền 50.000.000đồng,
nhưng tại phiên hòa giải bà L đã xin rút lại yêu cầu giá trị chuồng heo tiền trong
tài khoản ATM.
Theo kết quả định giá tài sản của Hội đồng định giá huyện C L đã định thì phần
tài sản căn nhà cấp bốn giá trị 207.281.753đồng, Linh thống nhất với kết
quả định gtài sản này. Tại phiên tòa hôm nay L yêu cầu được hưởng một phần
giá trị tài sản căn nhà với số tiền là 80.000.000đồng (Tám mươi triệu đồng), phần căn
nhà các vật dụng sinh hoạt trong nhà thống nhất giao lại cho ông K, ông B
và bà N tiếp tục quản lý sử dụng.
Về nợ chung và về người khác nợ vợ chồng: Không có nên bà không yêu cầu gì.
Tại bản tự khai và tại phiên hòa giải em Phạm Minh H trình bày như sau: Em
con ruột của ông Phạm Minh K mẹ Thị L, hiện nay cha mẹ em không
còn sống chung với nhau. Sau khi cha mẹ ly hôn, nguyện vọng của em muốn sống
với mẹ là bà Lê Thị L.
Theo ông Phạm Văn Bé B có lời trình bày như sau: Căn nhà cấp 4 vách tường,
mái tol, nền gạch men xây dựng vào năm 2013 xây dựng trên phần đất của ông đứng
tên quyền sử dụng đất căn nhà tài sản của ông. Nhà nước cho ông số tiền
40.000.000đồng, ông với bà N có bù thêm số tiền để xây dựng căn nhà này, đây là tài
sản của ông, không phải là tài sản của K và L. Nay bà L yêu cầu một phần giá trị n
nhà này thì ông không đồng ý.
Riêng các tài sản như: Một bộ salol; Một tủ đựng Tivi; Một hàng rào lưới B40;
Mái che tiền chế; chuồng heo tài khoản trong thẻ ATM do K với L tự thỏa thuận
với nhau ông không có ý kiến.
Thị N vắng mặt ủy quyền cho ông B tham gia tố tụng. thống
nhất theo ý kiến của ông Bé B, do ông Bé B quyết định bà không có ý kiến gì.
Quan điểm của Kiểm sát viên kết luận trình tự thủ tục thụ hồ vụ án, xác
định quan hệ pháp luật, xác định người tham gia tố tụng, thành phần hòa giải và thành
phần Hội đồng xét xử sơ thẩm đều đúng qui định pháp luật. Các văn bản ttụng từ
khi nhận đơn khởi kiện cho đến khi ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử đều tống đạt
đầy đủ cho các đương sự nhận. Tuy nhiên về xác định quan hệ tranh chấp Vị cho rằng
Thẩm phán xác định chưa đầy đủ đề nghị Hội đồng xét xử xác định đúng quan hệ
tranh chấp khi xét xử vụ án tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã tiến hành
đầy đủ trình tthủ tục đúng theo qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội
đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo qui định pháp luật.
Về nội dung vụ án: Ý kiến phát biểu của Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
huyện Càng Long đnghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 14, Điều 51, 55,
59, 61, 62, 81, 82, 83, 84. 107 110 của Luật hôn nhân gia đình 2014; Áp dụng các
điều 26, 28, 35, 39, 92, 147, 227, 228 244 của Bộ luật tố tụng dân sự Nghị
5
quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quan hệ hôn nhân: Cho ông K với bà L được ly hôn với nhau.
Về con chung: Giao em Phạm Minh H, sinh ngày 06 tháng 8 năm 2010 cho
Lê Thị L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, theo nguyện vọng của con.
Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc ông Phạm Minh K nghĩa vụ cấp dưỡng cho
em Phạm Minh H mỗi tháng 745.000đồng (Bảy trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) cấp
cho đến khi em Học tròn 18 tuổi.
Về tài sản chung: Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Lê Thị L.
Công nhận sự tự nguyện thỏa thuận của ông K với L về phần tài sản các
vật dụng sinh hoạt trong gia đình với stiền 20.000.000đồng ông K được quyền
tiếp tục quản lý sử dụng các tài sản gồm: Bộ Salon, Tủ đựng Tivi, mái che tiền chế và
hàng rào lưới B40.
Đình chỉ giải quyết yêu cầu bà L đã rút lại bao gồm: Chuồng heo trị giá
10.000.000đồng (Mười triệu đồng) tiền trong tài khoản trong thẻ ATM
40.000.000đồng (Bốn mươi triệu đồng) do bà L tự nguyện rút lại yêu cầu này.
Ngoài ra còn đề nghị buộc các đương sự phải chịu án phí hôn nhân thẩm;
án phí dân sự sơ thẩm; án phí cấp dưỡng và các chi phí, lệ phí định giá theo quy định
của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên
tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Thị N người quyền lợi nghĩa vụ liên
quan trong vụ án. Tại phiên Tòa hôm nay N vắng mặt ủy quyền cho ông Phạm
Văn B tham gia tố tụng. Căn cứ các Điều 227 và Điều 228 của Bộ Luật tố tụng
dân sự Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông K với bà L đi đến xác lập quan hệ hôn nhân năm
2009, hôn nhân tổ chức lễ cưới và đăng kết hôn theo qui định pháp luật vào
ngày 18 tháng 9 năm 2009 tại Uỷ ban nhân dân A T A, huyện C L, tỉnh Trà Vinh.
Từ đó xác định hôn nhân giữa ông K với bà Lhôn nhân hợp pháp.
[3] Về nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn: Trong quá trình chung sống giữa ông K
với bà L do bất đồng quan điểm sống và ông K quen người phụ nữ khác bên ngoài
dẫn đến ông thường xuyên cự cải nhau, gia đình hai bên khuyên ngăn nhưng
không thành, mâu thuẫn vợ chồng kéo dài từ năm 2015 đến cuối năm 2018 thì
ông, đã sống ly thân nhau cắt đứt quan hệ vợ chồng cho đến nay. Nay ông đều
mong muốn được ly hôn với nhau.
[4] Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa ông K với L do bất
đồng ý kiến trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cự cải, mâu thuẫn kéo dài
nhưng ông, không tìm cách tháo gở, trao đổi hàn gắn tình cảm vợ chồng để gia
6
đình đoàn tụ cùng nhau chăm sóc nuôi dạy con chung nhằm xây dựng gia đình hạnh
phúc, khi mâu thuẫn phát sinh ông bỏ mặt nhau, không còn quan tâm đến
nhau. Tđó làm tình cảm vợ chồng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn, đời sống
chung không thể kéo dài mục đích hôn nhân không đạt được. Tại phiên tòa hôm
nay ông K với bà L thừa nhận vợ chồng không còn chung sống từ cuối năm 2018 cho
đến nay, nay tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc, thời gian tới không thể tiếp
tục chung sống được với nhau nữa nên ông, thống nhất ly hôn với nhau tự
nguyện căn cứ phợp với quy định tại Điều 55 của Luật hôn nhân gia đình
năm 2014, Hội đồng xét xử nghĩ nên cho ông bà được ly hôn với nhau.
[5] Về con chung: Ông K với L thừa nhận em Phạm Minh H con chung
của ông bà. Sau khi ông K với L ly hôn với nhau em H nguyện vọng sống với
L, đây sự tự nguyện của em, không ai ép buộc ông K với L điều thống
nhất theo nguyện vọng của em nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà L yêu cầu ông K nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi
em Phạm Minh H mỗi tháng 745.000đồng cấp cho đến khi em H tròn 18 tuổi. Xét
thấy yêu cầu này của bà L phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với điều
kiện giá cả kinh tế thị trường như hiện nay. Đối với các khoản chi phí hằng ngày cho
việc ăn, học ngày càng nhiều đây yêu cầu rất cần thiết và để đảm bảo cuộc sống
cho em H phát triển tốt về mọi mặt. Nên việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của bà L
phù hợp với Điều 82 Luật hôn nhân gia đình quy định Cha, mẹ không trực tiếp
nuôi con nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, ông K cũng thống nhất mức cấp dưỡng
này. Hội đồng xét xử nghĩ buộc ông K phải nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi em H mỗi
tháng 745.000đồng cấp cho đến khi em H tròn 18 tuổi phù hợp quy định tại các
Điều 82, 83, 110, 116 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[7] Về tài sản chung: Ông K không đặt ra yêu cầu chia tài sản chung. Phần nữ
trang ngày cưới tổng cộng 10 chỉ vàng 24kra nhẫn cưới 05 phân vàng 18 kra ông
thống nhất giao cho bà Linh tiếp tục quản lý và sử dụng ông không đặt ra yêu cầu giải
quyết.
Các tài sản gồm: Một bộ salol mua vào năm 2013; Một tủ kệ đựng Tivi mua vào
năm 2016 xây một hàng rào lưới B40 cao 1,4m dài 23,4m; Mái che tiền chế xây
dựng vào năm 2017. L với ông K đã thỏa thuận về các tài sản này, ông K tự
nguyện giao cho bà L stiền 20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng) phần tài sản
hiện vật cho ông K tiếp tục quản lý, sử dụng. Hội đồng xét xử xét thấy đây stự
nguyện của ông K với bà L Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này.
Phía L yêu cầu một phần giá trị của căn nhà cấp 4 vách tường, mái tol, nền
gạch men xây dựng vào năm 2013 trên phần đất của ông Bé B và bà N, bà xin hưởng
stiền là 80.000.000đồng (Tám mươi triệu đồng), phần tài sản hiện vật thống
nhất giao lại cho ông K, ông Bé B và bà N tiếp tục quản lý sử dụng.
Ông Bé B thì cho rằng căn nhà là tài sản của ông với bà N. Nhà nước có cho ông
số tiền là 40.000.000đồng (Bốn mươi triệu đồng), ông với bà N thêm số tiền để
7
xây dựng căn nhà này, đây tài sản của ông, không phải i sản của K L. Nay
bà L yêu cầu một phần giá trị căn nhà này thì ông không đồng ý.
Hội đồng xét xử xét thấy L kết hôn và vchung sống với gia đình ông K từ
năm 2009 đăng kết hôn theo quy định của pháp luật đến năm 2013 thì xây
dựng căn nhà cấp bốn. Qúa trình ông K với bà L chung sống với nhau là 10 năm bà L
công sức đóng góp vào việc duy trì tài sản chung tạo lập căn nhà này. Xét về
yêu cầu phản tố của bà L xin hưởng một phần tài sản chung của căn nhà với số tiền
80.000.000đồng không phù hợp. Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận một phần về công
sức đóng góp công sức của vợ chồng vào khối tài sản chung của hộ gia đình phù
hợp với quy định tại diểm b, khoản 2 khoản 5 điều 59, khoản 1 Điều 61 Luật Hôn
nhân gia đình năm 2014 quy định Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia
đình ly hôn nếu tài sản của vợ chồng, trong khối tài sản chung của gia đình
không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung
của gia đình, căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì,
phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Viêc chia
một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; Nếu không
thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết”.
Theo kết quả định giá của Hội đồng định giá tài sản thì giá trị căn nhà
207.281.753đồng (Trong này mái che tiền chế giá trị 4.804.800đồng ông K với
L đã thỏa thuận được Nhà nước tiền căn nhà tình nghĩa cho ông B N số
tiền 40.000.000đồng) như vậy tổng giá trị căn nhà 207.281.000đồng -
4.804.800đồng - 40.000.000đồng = 162.477.000đồng. Hiện tại ông K, ông B và
N đang sử dụng căn nhà này nên nghĩa vụ giao lại cho bà L số tiền
40.619.500đồng (Bốn mươi triệu sáu trăm mười chín nghìn năm trăm đồng) phù
hợp với công sức đóng góp của bà L trong khối tài sản chung của hộ gia đình ông K,
ông B và N. Phần yêu cầu của L không được chấp nhận chênh lệch với số
tiền là 39.380.500đồng.
[8] Đối với phần yêu cầu về tài sản là chuồng heo, số tiền trong tài khoảng ATM
tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Chi nhánh Càng Long
vào ngày 10 tháng 8 năm 2019 bà L đơn xin rút lại một phần yêu cầu chia tài sản
chung, xét thấy đây là sự tự nguyện của L. Nên Hội đồng xét xử thống nhất đình
chỉ phần yêu cầu này của bà L.
[9] Về nợ chung và người khác nợ vợ chồng: Không có ông, bà không đặt ra nên
Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[10] Xét lời trình bày luật Nguyễn Văn N người bảo vệ quyền lợi ích
hợp pháp cho nguyên đơn ông Phạm Minh K cho rằng: Vquan hệ hôn nhân giữa
ông K với L là hôn nhân hợp pháp, đây quyền nhân thân của đương sự các
bên đương sđã thống nhất ly hôn với nhau nên không ý kiến; Về con chung:
Thống nhất theo nguyện vọng của con sống với ai người đó nuôi, người không trực
tiếp nuôi con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
8
Vtài sản chung: Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn cho
rằng L yêu cầu chia một phần căn nhà với số tiền 80.000.000đồng không
sở. Các hóa đơn L cung cấp không phù hợp, đây tài sản chung của
hộ gia đình ông K, ông B N. L chỉ công sức đóng góp trong khối tài
sản chung của hộ gia đình. Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn
yêu cầu Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu phản tố của L. Riêng vphần
tài sản là các vật dụng trong gia đình do ông đã thỏa thuận được nên ghi nhận sự
thỏa thuận này.
Xét ý kiến của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn được
Hội đồng xét xử chấp nhận.
{11} Về chi phí định giá tài sản: Tổng số tiền 550.000đồng (Năm trăm năm
mươi nghìn đồng). Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
{12} Về án phí hôn nhân thẩm; án phí cấp dưỡng án phí dân sự thẩm
Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 28; Điều 147, 165, 227, 228 và 244
và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào các Điều 19, 51, 55, 59, 61, 62, 81, 82, 83, 84, 107 và 110 của Luật
hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ vào điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12
năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Minh K.
Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Phạm Minh K với bà Lê Thị L được ly hôn với
nhau.
Về con chung: Giao em Phạm Minh H, sinh ngày 06 tháng 8 năm 2010 cho
Thị L được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Theo nguyện vọng của em
Phạm Minh H sống với bà Lê Thị L.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con quyền, nghĩa vụ thăm nom
con, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản. Có quyền yêu cầu thay đổi
người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Phạm Minh K nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi em
Phạm Minh H, sinh ngày 06 tháng 8 năm 2010 mỗi tháng 745.000đồng (Bảy trăm
bốn mươi lăm nghìn đồng) cấp cho đến khi em H tròn 18 tuổi.
Về tài sản chung: Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Lê Thị L.
- Buộc ông K, ông B N nghĩa vụ giao cho bà Linh công sức đóng
góp của L vào khối tài sản chung của hgia đình với số tiền 40.619.500đồng
(Bốn mươi triệu sáu trăm mười chín nghìn năm trăm đồng). Không chấp nhận yêu
9
cầu khởi kiện của L với số tiền 39.380.500đồng (Ba mươi chín triệu ba trăm
tám mươi nghìn năm trăm đồng)
Công nhận sự thỏa thuận của ông K với bà L về phần các tài sản gồm: Một bộ
salol; Một tủ kệ đựng Tivi và xây một hàng rào lưới B40 cao 1,4m dài 23,4m một
Mái che tiền chế. Ông K tự nguyện giao lại cho Linh stiền 20.000.000đồng
(Hai mươi triệu đồng).
Đình chỉ giải quyết yêu cầu L đã rút lại bao gồm: Chuồng heo trị giá
10.000.000đồng và tiền trong tài khoản trong thẻ ATM là 40.000.000đồng (Bốn mươi
triệu đồng) do bà L tự nguyện rút lại yêu cầu này.
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp Cơ quan
thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngàyđơn yêu
cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người
được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền trên, hàng tháng
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo
lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
Về án phí hôn nhân thẩm: Buộc ông Phạm Minh K nghĩa v nộp
300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào 300.000đồng tiền tạm ứng
án phí theo biên lai thu tiền số: AA/2015/0018644, ngày 20/12/2018 do ông K nộp
cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Càng Long thu. Ông Phạm Minh K đã nộp đủ
án phí hôn nhân.
Lê Thị L không phải nộp án phí hôn nhân.
Về án cấp dưỡng nuôi con: Ông K nghĩa nộp số tiền 300.000đồng (Ba
trăm nghìn đồng)
Về án phí dân sự thẩm: Buộc Thị L nghĩa vụ nộp số tiền
2.031.000đồng (Hai triệu không trăm ba mươi mốt nghìn đồng) nhưng được trừ qua
số tiền tạm ứng án phí 625.000đồng theo biên lai thu tiền số AA/2018/0000626
ngày 28/3/2019 số tiền tạm ứng án phí 1.250.000đồng theo biên lai thu tiền số
AA/2018/0003612 ngày 15/5/2019 do Thị L nộp cho Chi cục Thi hành án dân
sự huyện Càng Long thu biên lai thu tiền số AA/2018/0000484, ngày 25/01/2019
do chi cục Thi hành án dân shuyện Càng Long thu. Thị L được nhận lại số
tiền án phí chênh lệch là 1.844.000đồng (Một triệu tám trăm bốn mươi bốn nghìn
đồng)
Ông Phạm Minh K; Ông Phạm Văn B và Thị N mỗi người phải
nghĩa vụ nộp stiền án phí 2.031.000đồng (Hai triệu không trăm ba mươi mốt
nghìn đồng).
Về chi phí định giá: Tổng số tiền 550.000đồng (Năm trăm năm mươi nghìn
đồng).
+ Buộc bà Thị L phải chịu số tiền là 137.500đồng (Một trăm ba mươi bảy
nghìn năm trăm đồng) bà L đã nộp đ số tiền này.
10
+ Buộc ông Phạm Minh K; ông Phạm n B Thị N mỗi người
phải chịu số tiền 137.500đồng (Một trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm đồng).
Hoàn trả cho bà L số tiền 412.500đồng (Bốn trăm mười hai nghìn năm trăm đồng)
khi thu được từ ông K, ông Bé B và bà N.
Các đương sự mặt tại phiên toà quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể
từ ngày tuyên án. Các đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15
ngày kể tngày tuyên án. Đối với các đương sự vắng mặt tại phiên tòa quyền
kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết
công khai theo qui định tại Điều 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 02 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 9 Luật Thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành
án dân sự”.
Nơi nhn:
- TAND tỉnh Trà Vinh;
- VKSND huyện; tỉnh;
- Chi cụcTHADS huyện;
- Các đương sự;
- Luật sư;
- Lưu HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
(Đã ký)
Nguyễn Thị Liên
Tải về
Bản án số 34/2019/HNGĐ-ST Bản án số 34/2019/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất