Bản án số 33/2025/DS-ST ngày 19/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 33/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 33/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 33/2025/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 33/2025/DS-ST ngày 19/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk |
| Số hiệu: | 33/2025/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 19/09/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Bà H N khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 -ĐẮK LẮK
Bản án số: 33/2025/DS-ST
Ngày: 19/9/2025.
V/v: “Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Lan
2. Bà Trịnh Thị Oanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Lường - Thư ký Tòa án nhân dân khu
vực 4 – Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Đắk Lắk tham gia phiên
toà: Bà Phạm Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 19/9/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 – Đắk Lắk xét xử sơ
thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 43/2025/TLST- DS, ngày 06 tháng 01 năm 2025 về
việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
34/2025/QĐXXST-DS, ngày 22 tháng 8 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số
21/2025/QĐST – DS, giữa các đương sự:
+ Nguyên đơn: Bà H N Êban, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Buôn B, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Nay là: Buôn B, xã E, tỉnh
Đắk Lắk. (Có mặt)
Đại diện theo ủy quyền của bà H N Niê: Bà Lê Thị H. Địa chỉ số xx L, xã
K, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt)
+ Bị đơn: Bà H H Bkrông, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Buôn Y, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Nay là Buôn Y, xã E, tỉnh
Đắk Lắk (Vắng mặt).
Đại diện theo ủy quyền của bà H H Bkrông: Ông Y Ph Niê, sinh năm 1981.
Địa chỉ: Buôn C, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk . Nay là buôn C, tỉnh Đắk Lắk
(Vắng mặt)
+ Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà H Y Niê.
Địa chỉ: Buôn Y, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Nay là Buôn Y, xã E, tỉnh
Đắk Lắk (Vắng mặt).
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
+ Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên
đơn bà H N Êban trình bày:
Do có mối quan hệ đồng nghiệp, vào ngày 12/8/2017, bà có cho bà H H
Bkrông vay số tiền 190.800.000 đồng. Khi vay tiền, hai bên có lập giấy vay tiền
nhưng không công chứng, chứng thực và không có tài sản thế chấp. Hai bên không
thỏa thuận lãi suất và thời gian trả nợ trong giấy vay tiền. Tuy nhiên, hai bên có
thỏa thuận miệng về thời gian vay là một tháng và lãi suất là 5.000 đồng/1.000.000
đồng/ngày. Ngoài khoản vay trên, bà H H Bkrông còn vay thêm các khoản khác
nhưng đã trả. Riêng đối với khoản vay ngày 12/8/2017 với số tiền
190.800.000đồng thì bà H H chưa thanh toán cho bà. Hiện tại khoản vay trên đã
quá hạn, bà cũng đã đôn đốc nhắc nhở để bà H H thanh toán nợ cho bà nhưng
không có kết quả. Vì vậy, bà H N Êban chỉ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết
buộc bà H H Bkrông phải trả cho bà số tiền vay gốc của ngày 12/8/2017 là
190.800.000 đồng, ngoài ra không có yêu cầu gì khác.
- Quá trình giải quyết vụ án bà H H Bkrông trình bày:
Bà H H thừa nhận, vào ngày 12/8/2017, bà có vay của bà H N Êban số tiền
190.800.000 đồng. Khi vay tiền, hai bên có lập giấy vay tiền nhưng không công
chứng, chứng thực, không thế chấp tài sản. Hai bên không thỏa thuận lãi suất và
thời gian trả nợ trong giấy vay tiền. Sau khi vay thì bà đã trả cho bà H N số tiền
150.000.000 đồng vào các ngày cụ thể như sau:
Ngày12/8/2017 trả 90.000.000đồng; ngày 09/02/2018 trả 25.000.000đồng;
ngày 08/3/2018 trả 15.000.000đồng; ngày 10/01/2018 trả 10.000.000đồng; ngày
29/01/2018 trả 10.000.000đồng
Hiện tại bà chỉ nợ bà H N số tiền còn lại là 40.800.000đồng. Tuy nhiên, do
số tiền trên bà vay dùm cho bà H Y Niê nên sau đó bà với bà H N và bà H Y đã
thỏa thuận: Bà H Y sẽ trả số tiền 40.800.000đồng cho bà H N thay cho bà. Việc
thỏa thuận này được lập thành biên bản và bà H N đã xác nhận, nên số nợ
40.800.000đồng không liên quan gì đến bà nữa. Tuy nhiên, sau đó bà H N vẫn
cho người đến nhà chửi bới lăng mạ tôi, đến trường nơi bà công tác quấy rối. Vụ
việc trên đã được UBND xã Ea Kênh giải quyết. Tuy nhiên, hiện nay bà H N vẫn
khởi kiện tôi. Do vậy, tôi đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của
pháp luật.
- Quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà H
Y Niê trình bày:
Ngày 12/8/2017 bà H Y có nhờ bà H H vay dùm của bà H N số tiền
190.800.000đồng lãi suất 5.000đ/tr/ngày, hạn trả nợ cuối cùng là tháng 10/2018.
Sau đó giữa bà H Y, bà H H với bà H N đã thỏa thuận bà H Y có nghĩa vụ trả cho
bà H N số tiền nói trên. Sau khi vay thì bà H Y đã trả cho bà H N số tiền
150.000.000 đồng vào các ngày như bà H H đã trình bày. Hiện tại bà H Y chỉ còn
nợ bà H N số tiền nợ gốc là 40.800.000đồng. Vì vậy, bà H Y xin được trả số trên

3
thay bà H H.
Tòa án đã tiến hành tổ chức hòa giải nhưng đại diện bị đơn, người có quyền
lợi nghĩa vụ liên quan cố tình không tham gia phiên hòa giải. Nguyên đơn vẫn
giữa nguyên yêu cầu khởi kiện, căn cứ Điều 203; Điều 220 Bộ luật tố tụng dân
sự, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
- Tại phiên tòa nguyên đơn thừa nhận sau khi vay, bị đơn đã thanh toán được
số tiền 20.000.000đồng. Ngoài khoản tiền trên thì bà H H có thanh toán cho bà số
tiền 40.000.000đồng, nhưng không phải thanh toán cho khoản vay
190.800.000đồng, mà số tiền này bà H H thanh toán cho khoản vay mà bà H H đã
vay ngày 09/10/2017. Vì vậy, bà H N xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với
số tiền nợ gốc là 20.000.000đồng. Đồng thời yêu cầu HĐXX buộc bà H H Bkrông
thanh toán cho bà số tiền nợ gốc còn lại là 170.800.000 đồng. Ngoài ra không yêu
cầu gì khác.
Tại phiên tòa đại diện bị đơn ông Y Ph Niê, người có quyền lợi nghĩa vụ
liên quan bà H Y Niê vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk tham dự phiên
tòa phát biểu:
+ Việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng: Hội đồng xét xử,
Thẩm phán, Thư ký, đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân
sự; Thành phần Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đúng theo quyết định đưa
vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Y Ph Niê,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà H Y Niê vắng mặt không có lý do. Căn
cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị HĐXX tiến hành xét xử
vắng mặt ông Y Ph Niê và bà H Y Niê.
+ Về nội dung: Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c
khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 463, khoản
1 Điều 466 của Bộ luật dân sự 2015.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà H
N Êban, buộc bà H H Bkrông phải trả cho bà H N Êban số tiền vay gốc là
170.800.000 đồng. Bà H N Êban không yêu cầu tính lãi suất nên không đề cập
giải quyết.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền vay
gốc là 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
(HĐXX) nhận định về nội dung vụ án như sau:
[1]. Xét về hình thức: Căn cứ đơn khởi kiện của bà H N Niê, Tòa án nhân
dân khu vực 4 - Đắk Lắk xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp
hợp đồng vay tài sản” được quy định tại khoản 3 Điều 26 của BLTTDS.
4
[2] Về thẩm quyền và Tố tụng: Tại thời điểm bà H N Êban khởi kiện bị đơn
bà H H Bkrông cư trú tại Buôn Y, xã E (nay là buôn Y, xã E, tỉnh Đắk Lắk) nên
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk, được quy
định điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân
sự. Tại phiên tòa đại diện bị đơn ông Y Ph Niê, người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan bà H Y Niê vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào Điều 227 và
Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt
ông Y Ph Niê, bà H Y Niê.
[3]. Xét về nội dung khởi kiện:
[3.1] Xét yêu cầu khởi kiện của bà H N Êban về việc đề nghị Toà án buộc
bà H H Bkrông phải trả số tiền vay gốc 170.800.000đồng, HĐXX xét thấy: Tuy
quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà H H, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
bà H Y Niê cho rằng: Khoản tiền nói trên bà H H vay dùm cho bà H Y Niê, sau
khi vay bị đơn đã trả cho nguyên đơn số tiền tổng cộng là 150.000.000đồng. Trong
đó: Ngày 12/8/2017 trả 90.000.000đồng; ngày 09/02/2018 trả 25.000.000đồng;
ngày 08/3/2018 trả 15.000.000đồng; ngày 10/01/2018 trả 10.000.000đồng; ngày
29/01/2018 trả 10.000.000đồng, hiện tại bên vay chỉ còn nợ của bà H N Êban số
tiền 40.800.000đồng. Vì vậy, bà H Y chấp nhận thành toán số tiền
40.800.000đồng cho bà H N Êban. Trong khi đó quá trình giải quyết vụ án nguyên
đơn bà H N Êban chỉ thừa nhận sau khi vay số tiền 190.800.000 đồng, bà H H
chỉ thanh toán cho bà được 20.000.000đồng tiền nợ gốc. Đồng thời bà H N thừa
nhận ngày 09/02/2018 bà H H trả 25.000.000đồng; ngày 08/3/2018 bà H H trả
15.000.000đồng. Tuy nhiên, số tiền này bà H H trả cho khoản vay bà H H đã vay
bà ngày 09/10/2017 không liên quan đến khoản vay ngày 12/8/2017. Đối với số
tiền 90.000.000đồng mà bà H H khai đã thanh toán ngày 12/8/2017, bà H N Êban
thừa nhận bà là người viết và phô tô ra để bà H H biết, vì khoản tiền này bà vay
dùm cho bà H H và bà đã phải trả cho bên cho vay, chứ không phải bà đã nhận
tiền của bà H H. Để có căn cứ cho việc giải quyết vụ án Tòa án đã yêu cầu bị đơn
xuất trình bản chính các chứng cứ liên quan đến việc thanh toán số tiền nói trên.
Tuy nhiên, phía bị đơn không xuất trình tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa
án. Như vậy, căn cứ lời khai của các đương sự, tài liệu chứng cứ do Tòa án thu
thập, HĐXX có căn cứ khẳng định ngày 12/8/2017 bà H H Bkrông có vay của bà
H N Êban số tiền 190.800.000đồng. Quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà H H thừa
nhận chữ ký, chữ viết H H Bkrông trong giấy mượn tiền mà là H N Êban dùng để
khởi kiện bà là do bà ký và viết ra. Các đương sự tham gia giao dịch là những
người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nhận thức rõ việc làm của mình và
không có sự ép buộc trong quá trình thực hiện giao dịch dân sự này. Khi thực hiện
hợp đồng vay thì bên vay bà H H là người trực tiếp ký và viết giấy vay tiền cho
bà H N giữ. Nên cần xác định việc giao kết hợp đồng giữa bà H N và bà H H là
phù hợp với quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Tuy nhiên, sau khi
vay bà H H chỉ thanh toán cho bà H N số tiền 20.000.000đồng, số tiền còn lại là
170.800.000đồng, mặc dù bà H N đã nhiều lần yêu cầu bà H H thanh toán khoản
tiền trên nhưng không có kết quả. Ngoài ra quá trình giải quyết vụ án bà H H và
5
Y Niê cho rằng khoản tiền nói trên là H N vay dùm cho bà H Y, sau khi bà H H
trả được 150.000.000đồng các bên đã thỏa thuận chuyển nghĩa vụ trả nợ cho bà
H Y đối với số tiền còn lại. Tuy nhiên, nguyên đơn (bà H N) không thừa nhận
việc này và vẫn yêu cầu bà H H phải trả số tiền gốc là 170.800.000đồng. Phía bị
đơn và người liên quan cũng không cung cấp được chứng cứ (như biên nhận có
chữ ký của bà H N) để chứng minh cho việc đã trả 150.000.000 đồng và việc bà
H N đồng ý cho bà H Y gánh nợ thay.
Hợp đồng vay tài sản được xác lập giữa bà H N Êban và bà H H Bkrông.
Do đó, bà H H Bkrông là người phải có nghĩa vụ trả nợ trực tiếp cho bà H N theo
hợp đồng đã ký. Việc bà H H cho bà H Y cho rằng bà H H vay số tiền trên cho bà
H Y và giữa H H cho bà H Y thỏa thuận bà H Y trả số nợ trên cho bà H N nhưng
không được bà H N thừa nhận, cũng không cung cấp được tài liệu nào chứng minh
việc H N đồng ý để bà H Y trả nợ thay H Nuêl, nên không làm thay đổi nghĩa vụ
của bà H H đối với bà H N khi chưa được bà H N đồng ý bằng văn bản. Đến nay,
bà H H không trả cho bà H N số tiền đã vay là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên
vay theo quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự.
Khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
“Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật
thì phải trả vật cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng trừ trường hợp có thỏa
thuận khác”.
Xét thấy yêu cầu khởi kiện của bà H N Êban là có căn cứ, vì vậy Hội đồng
xét xử áp dụng Điều 463 và khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự, chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà H H Bkrông phải trả cho bà H N Êban
số tiền nợ gốc 170.800.000 đồng là đúng với quy định của pháp luật.
[3.2] Đối với việc quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn xin rút yêu cầu đối
với số tiền nợ gốc là 20.000.000đ. HĐXX xét thấy việc nguyên đơn xin rút yêu
cầu này là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật. Vì vậy, HĐXX áp dụng
Điều 217, khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ một phần yêu cầu
khởi kiện nêu trên.
[3.3]. Xét yêu cầu tính lãi suất: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại
phiên tòa, nguyên đơn bà H N Êban không yêu cầu tính lãi suất đối với số tiền
cho vay. Do đó, HĐXX không đề cập giải quyết.
[4]. Về án phí: Do HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn, căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày
30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, bị đơn bà H H Bkrông phải chịu
toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Mức án phí là: 170.800.000 đồng x 5% =
8.540.000 đồng.
Do HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp
nhận nên bà H N Êban, được nhận lại 4.770.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp.
6
[5]. Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4
– Đắk Lắk tại phiên Toà là có căn cứ, đúng pháp luật nên HĐXX chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng
dân sự năm 2015.
Áp dụng Điều 463, khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự 2015.
Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày
30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà H N
Êban.
Buộc bà H H Bkrông phải trả cho bà H N Êban số tiền vay gốc là
170.800.000 đồng (Một trăm chín mươi triệu tám trăm nghìn đồng).
“Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu
thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các
khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải bàu khoản tiền lãi của số
tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ
luật dân sự năm 2015”.
Về tiền lãi suất: Bà H N Êban không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà H N Êban về việc buộc bà H H
Bkrông trả số tiền vay gốc 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng)
Về án phí:
Buộc bà H H Bkrông phải chịu 8.540.000 đồng (Chín triệu năm trăm bốn
mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả lại cho bà H N Êban 4.770.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp
theo biên lai thu số AA/2023/0014402 ngày 24/12/2024, tại Chi cục Thi hành án
dân sự huyện Krông Pắc (Nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 4 – ĐắkLắk).
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn
15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có
quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được
bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
“Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi

7
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự”.
Nơi nhận: T.M - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND tỉnh Đắk Lắk; Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- TAND tỉnh Đắk Lắk;
- VKSND khu vực 4 – Đắk Lắk; (Đã ký)
- THADS khu vực xx – Đắk Lắk;
- Các đương sự;
- Lưu VP, Hồ sơ.
Nguyễn Thị Thu Hiền
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm