Bản án số 33/2024/HNGĐ-PT ngày 30/09/2024 của TAND cấp cao tại Hà Nội về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 33/2024/HNGĐ-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 33/2024/HNGĐ-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 33/2024/HNGĐ-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 33/2024/HNGĐ-PT ngày 30/09/2024 của TAND cấp cao tại Hà Nội về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND cấp cao tại Hà Nội |
| Số hiệu: | 33/2024/HNGĐ-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 30/09/2024 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | “Ly hôn” giữa bà T và ông W |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI
Bản án số: 34/2024/HNGĐ-PT
Ngày: 30/9/2024
“Ly hôn”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Bà Vũ Thị Thu Hà;
Ông Thái Duy Nhiệm;
Bà Lê Thị Mai.
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nhật Phong - Thư ký Toà án nhân dân cấp
cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên
tòa: Bà Lã Thị Tú Anh, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội
mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số
25/2024/TLPT-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn” do có kháng
cáo của bị đơn đối với Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 98/2024/HNGĐ-ST
ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố H.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10624/2024/QĐ-PT ngày 12
tháng 9 năm 2024 giữa:
* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hằng T, sinh năm 1982; HKTT: Số 104
Đ, phường V, quận B, thành phố H; Địa chỉ liên hệ: Nhà Điều hành, Khu đô thị
dự án T1, phường T2, thị xã P, tỉnh P (Có mặt).
* Bị đơn: Ông W, sinh năm 1965; Quốc tịch: Anh; Hộ chiếu: 134618363,
ngày cấp 29/8/2022.
Tạm trú: Số 1701 tòa nhà M số 68 N, phường C, quận N1, thành phố H
(Có mặt).
Người phiên dịch cho ông W: Anh Đỗ Thế A, sinh năm 1999; trú tại: xã
T3, huyện Đ1, thành phố H (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo Bản án sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, nguyên đơn
bà Nguyễn Thị Hằng T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông W đăng ký kết hôn ngày 17/11/2014 tại
Sở Tư pháp thành phố H trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn ông bà chung sống
hòa thuận với nhau được 07 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu
thuẫn là do ông W có hành vi ngoại tình nhiều lần với nhiều người, bà T đã tha
thứ cho ông W hai lần. Đến nay do mâu thuẫn trầm trọng, ông bà đã sống ly thân
từ lâu, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn nên bà
T làm đơn đề nghị Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông W.
Về con chung: Ông bà có 3 con chung là cháu W Nhật Vượng L, sinh năm
2015; Cháu W Nhật Hùng L1, sinh ngày 04/8/2016 và cháu W L3 Nhật Minh,
sinh ngày 19/02/2018. Hiện tại các cháu đang sống cùng bố mẹ. Ly hôn bà T có
nguyện vọng được nuôi dưỡng cả ba con chung với lý do bà có công việc và điều
kiện để chăm sóc các con tốt hơn so với ông W. Công việc của bà T là nhân viên
tại Công ty TNHH chứng khoán J, có mức lương 30.000.000 VNĐ/tháng. Có hợp
đồng thuê nhà đứng tên bà T. Đối với ông W là người nước ngoài, làm công việc
là giáo viên tiếng Anh nhưng không có thu nhập ổn định, không nói được tiếng
Việt nên khó khăn trong việc hỗ trợ con học hành và trao đổi với các giáo viên khi
các con đang học ở trường công lập tại Việt Nam. Ngoài ra ông W có lối sống
không lành mạnh, hay hút thuốc, uống rượu và thường xuyên gặp gỡ tán tỉnh
nhiều phụ nữ và gửi tiền cho họ. Như vậy, theo bà T thì ông W không đủ tư cách
đạo đức để giáo dục con cái.
Về cấp dưỡng nuôi con, bà yêu cầu ông W cấp dưỡng nuôi con
20.000.000 VNĐ/tháng.
Về tài sản, vay nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông W trình bày:
Về tình cảm: Ông W và bà T đăng ký kết hôn ngày 17/11/2014 tại Sở Tư
pháp thành phố H trên cơ sở tự nguyện. Quá trình chung sống thì thời gian cãi
cọ, mâu thuẫn nhiều hơn thời gian hạnh phúc. Nay bà T xin ly hôn, ông chỉ đồng
ý ly hôn khi giải quyết xong về vấn đề tài sản và nuôi con chung.
Về con chung: Ông bà có 3 con chung là cháu W Nhật Vượng L, sinh năm
2015; Cháu W Nhật Hùng L1, sinh ngày 04/8/2016 và cháu W L3 Nhật Minh,
sinh ngày 19/02/2018. Hiện tại cháu lớn đang ở cùng ông, hai cháu nhỏ đang ở
cùng bà T. Ly hôn ông có nguyện vọng nuôi dưỡng hai cháu là cháu W Nhật
Vượng L và cháu bé là W L3 Nhật Minh. Công việc của ông là giáo viên dạy
tiếng Anh có Hợp đồng lao động (Thời hạn 01 năm) với Công ty cổ phần giáo
dục D, có mức thu nhập bình quân khoảng 40-50.000.000 VNĐ/tháng. Về cấp
dưỡng nuôi con ông yêu cầu bà T phải cấp dưỡng nuôi con với mức 10.000.000
VNĐ/tháng.
3
Về tài sản chung: Ông xác định vợ chồng có tài sản chung là 01 xe máy
H1 SH150i, BKS 29B1-706.39 đời 2016 trị giá 45.000.000 VNĐ ông đang sử
dụng và chiếc xe ôtô K BKS 30G-466.72 đời 2020 bà T đang sử dụng trị giá
331.500.000 VNĐ. Về chiếc xe ô tô: ông có đóng góp đưa cho bà T 200.000.000
VNĐ để mua xe. Việc bà T xuất trình văn bản thoả thuận tài sản riêng, ông thừa
nhận có ký văn bản thỏa thuận ngày 06/8/2020 nhưng do ông không được biết
về nội dung. Người phiên dịch tại văn phòng công chứng không dịch hết nội
dung cho ông nên ông không biết và bị lừa dối nên mới ký vào văn bản. Tài sản
chung ông yêu cầu đươc chia đôi giá trị, bà T sử dụng xe ô tô thì phải thanh toán
cho ông 140.000.000 VNĐ.
Ngoài ra ông còn yêu cầu bà T phải trả cho ông 300.000.000 VNĐ là tiền
ông đưa cho bà T trong thời kỳ hôn nhân để chơi chứng khoán. Ông W không
xuất trình được tài liệu chứng cứ về việc đưa tiền cho bà T mua xe ô tô và đưa
bà T số tiền 300.000.000 VNĐ.
Bà T có ý kiến bổ sung: Bà không chấp nhận yêu cầu của ông W về việc
chia tài sản chung là chiếc xe ôtô K BKS 30G-466.72 đời 2020 bà T đang sử
dụng vì đây là tài sản riêng của bà, đã có văn bản thỏa thuận tại văn phòng công
chứng vào ngày 06/8/2020. Không có việc ông W ký văn bản thoả thuận xác
định tài sản riêng mà không biết nội dung. Hợp đồng công chứng xác định tài
sản riêng là chiếc xe ô tô của bà T là hoàn toàn hợp pháp. Nguồn tiền để mua
chiếc xe ô tô là tiền riêng của bà T và một phần lớn là của chị gái cho bà mua xe
để làm phương tiện đi lại, đưa đón các con đi học. Ngoài ra bà phủ nhận việc
ông W khai đưa cho bà 300.000.000 VNĐ để mua chứng khoán. Bà chỉ thừa
nhận vợ chồng có tài sản chung là chiếc xe máy H1 SH150i, BKS 29B1-706.39
đời 2016 trị giá 45.000.000 VNĐ hiện tại ông W đang sử dụng. Bà không yêu
cầu chia tài sản chung và tự nguyện để ông W được tiếp tục sử dụng và giao
quyền sở hữu cho ông W đối với chiếc xe máy này.
Tại Chứng thư thẩm định giá của Công ty cổ phần thẩm định giá TMC
ngày 06/3/2024 do các bên đương sự thống nhất mời xác định kết quả như sau:
Xe máy H1 SH150i, BKS 29B1-706.39 đời 2016 giá trị 45.000.000 VNĐ; Xe
ôtô con K BKS 30G-466.72 đời 2020 giá trị 331.500.000 VNĐ.
Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 98/2024/HNGĐ-ST ngày 15
tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố H đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273
Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 59, Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội và danh mục án phí, lệ phí. Xử:
Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Hằng T đối với ông W.
Bà T được ly hôn với ông W.
- Về con chung: Xác định ông bà có 3 con chung là cháu W Nhật Vượng
L, sinh năm 2015; Cháu W Nhật Hùng L1, sinh ngày 04/8/2016 và cháu W L3

4
Nhật Minh, sinh ngày 19/02/2018. Giao hai cháu W Nhật Hùng L1 và cháu W
L3 Nhật Minh cho bà T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng; Giao cháu W Nhật
Vượng L cho ông W trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Ông W phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con
chung là cháu W L3 Nhật Minh cho bà T là 5.000.000 VNĐ/tháng kể từ tháng
4/2024 đến khi cháu tròn 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
Ông W và bà T được quyền đi lại thăm hỏi chăm sóc con chung không ai
được cản trở.
- Về tài sản chung: Ông bà có tài sản chung là 01 xe máy H1 SH150i, BKS
29B1-706.39 đời 2016, trị giá 45.000.000 VNĐ. Ghi nhận sự tự nguyện của bà T
giao chiếc xe này cho ông W được quyền sở hữu.
- Về tài sản riêng: Xác nhận chiếc xe ô tô K màu đỏ BKS 30G-466.72 đời
2020 là tài sản riêng của bà Nguyễn Thị Hằng T.
- Không chấp nhận yêu cầu của ông W buộc bà T phải trả số tiền
300.000.000 VNĐ cho ông.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo
quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn là ông W có đơn kháng cáo toàn bộ bản án
sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Hằng T giữ
nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn; bị đơn ông W thay đổi nội dung kháng
cáo, chỉ đề nghị xem xét về phần tài sản.
Các đương sự không thống nhất được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội sau khi phân tích tài
liệu, chứng cứ có trong hồ sơ có ý kiến thể hiện: Tòa án cấp sơ thẩm đã xử chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ; bị đơn kháng cáo nhưng
không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới có thể làm thay đổi nội dung vụ án.
Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng
dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên quyết định của bản
án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công
khai tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét
đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát
nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm
nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hằng T khởi kiện yêu
cầu được ly hôn với ông W. Do ông W, quốc tịch Anh và hiện đang cư trú tại
thành phố H còn bà T có địa chỉ nơi cư trú tại thành phố H nên Tòa án nhân dân
thành phố H đã thụ lý là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 37 Bộ luật Tố
5
tụng dân sự, đồng thời xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là ly hôn là đúng
quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Bản án sơ thẩm đã xem xét về quan hệ hôn nhân, phân chia tài sản
chung và quyết định việc nuôi con chung, trách nhiệm của các bên trong việc
cấp dưỡng nuôi con. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn có kháng cáo với nội dung
kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Tại phiên tòa hôm nay bị đơn thay đổi kháng
cáo, đề nghị xem xét lại phần tài sản chung của vợ chồng.
Xét kháng cáo của bị đơn ông W, Hội đồng xét xử thấy:
Bà Nguyễn Thị Hằng T trình bày: tài sản chung của vợ chồng chỉ có chiếc
xe máy H1 SH150i, BKS 29B1-706.39 đời 2016 giá trị 45.000.000 VNĐ bà tự
nguyện để cho ông W được sở hữu sử dụng, ngoài ra không còn tài sản chung
nào khác.
Ông W xác định vợ chồng có tài sản chung là 01 xe máy H1 SH 150i ông
đang sử dụng và chiếc xe ôtô K bà T đang sử dụng. Theo Chứng thư thẩm định
giá ngày 06/3/2024 của Công ty cổ phần thẩm định giá TMC thì Xe máy H1
SH150i, BKS 29B1-706.39 đời 2016 giá trị 45.000.000; Xe ôtô con K BKS
30G-466.72 đời 2020 giá trị 331.500.000 VNĐ là tài sản chung vợ chồng.
Hội đồng xét xử xét thấy: Về nguồn gốc chiếc xe ôtô K BKS 30G-466.72
đời 2020 do bà T mua tại Công ty cổ phần ôtô T4. Hợp đồng mua bán xe ôtô số
622/T07/2020 giữa bên bán là Chi nhánh B1, H Công ty cổ phần ôtô T4 với bên
mua là bà Nguyễn Thị Hằng T. Tại văn bản thoả thuận tài sản riêng đã được
công chứng tại Văn phòng công chứng T5 số 188 H2, phường C1, B1, H xác
định nguồn tiền mua xe là của bà T, ông W không đóng góp một khoản tiền nào
để mua xe nên đây là thuộc quyền sở hữu riêng của bà T. Ông W không xuất
trình được tài liệu chứng cứ để chứng minh đây là tài sản chung vợ chồng để
chia.
Đối với số tiền 300.000.000 VNĐ ông W yêu cầu bà T hoàn trả, ông W
không có tài liệu chứng cứ chứng minh cho bà T vay hay có thoả thuận nào
khác. Hiện tại không có tài liệu chứng minh vợ chồng có khoản tiền này để xác
định làm tài sản chung. Do vậy Tòa án cấp sơ thẩm đã không chấp nhận yêu cầu
này của ông W. Xác định tài sản chung vợ chồng là H1 SH150i, BKS 29B1-
706.39 đời 2016 giá trị 45.000.000 VNĐ, giấy chứng nhận đăng ký xe Mô tô xe
máy ngày 12/9/2016 mang tên bà Nguyễn Thị Hằng T. Ghi nhận sự tự nguyện
của bà T giao quyền sở hữu và sử dụng xe máy H1 SH150i, BKS 29B1-706.39
đời 2016 cho ông W là có căn cứ.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu nên Toà án cấp sơ thẩm không
xét là đúng quy định.
Tổng hợp những phân tích đánh giá trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án
cấp sơ thẩm đã quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị
Hằng T là có căn cứ, đảm bảo được quyền, lợi ích của các bên đương sự. Tại cấp
phúc thẩm, bị đơn kháng cáo nhưng không xuất trình được tài liệu khác có thể
làm thay đổi nội dung vụ án nên không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng
6
cáo, Hội đồng xét xử đồng tình với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân
dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí: Kháng cáo không được chấp nhận nên ông W phải chịu án
phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm
2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Bác kháng cáo của bị đơn ông W; giữ nguyên quyết định của Bản án
hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 98/2024/HNGĐ-ST ngày 15 tháng 4 năm 2024
của Tòa án nhân dân thành phố H.
2. Về án phí: Ông W phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.
Ghi nhận ông W đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo
Biên lai thu số 0023282 ngày 06/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố
H.
Các quyết định khác của bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có
kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên án.
* Nơi nhận:
- VKSNDCC tại Hà Nội;
- TAND thành phố H;
- VKSND thành phố H;
- Cục THADS thành phố H;
- Các đương sự (qua địa chỉ);
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Vũ Thị Thu Hà
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 11/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Bản án số 34/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Bản án số 33/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 24/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 21/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 19/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm