Bản án số 33/2022/HS-ST ngày 19/05/2022 của TAND TP. Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự và đánh bạc

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 33/2022/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 33/2022/HS-ST ngày 19/05/2022 của TAND TP. Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự và đánh bạc
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Phúc Yên (TAND tỉnh Vĩnh Phúc)
Số hiệu: 33/2022/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/05/2022
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHÚC YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC
Bản án số: 33/2022/HS-ST
Ngày 19 - 5 - 2022
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
Độc lập- Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
Bà Lưu Thị Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đường Ngc Đại và ông Nguyễn Xuân Thịnh;
-Thư phiên tòa: Đỗ Th Hiền, cán bộ Tòa án nhân dân thành ph
Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P tham gia phiên tòa:
Đinh Th Thu Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 5 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh
Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 120 /2021/TLST -
HS ngày 12 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
119/2021/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2021 đối với các bị cáo:
1. Họ tên: Đỗ Anh T, sinh năm 1984, tại Vĩnh Phúc; giới tính: N; địa
chỉ: Tổ 8, phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; quc tịch: Việt N; dân tộc:
Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12;
con ông Đỗ Trọng T và con bà Trần Thị Đ; có v và 02 con, lớn sinh năm 2013,
nhỏ sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi trú”. Hiện
đang tại ngoại tại địa phương, có mặt.
2. Họ và tên: Trần Thành L, sinh năm 1983; giới tính: N; địa ch:
phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; quốc tịch: Việt N; dân tộc: Kinh; tôn
giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động t do; trình độ học vấn: 12/12; con ông
Trần Kim Đ con Nguyễn Thị V; v 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ
sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi trú”. Hiện
đang tại ngoại tại địa phương, có mặt.
*Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan:
-
Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1993;
Địa chỉ: Thị trấn G, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc;
2
Công tác tại: Trường Trung cấp kỹ thuật Quân Khí thị trấn G, huyện B, tỉnh
Vĩnh Phúc;
-Anh Đàm Văn H, sinh năm 1983
Địa chỉ: Tổ 1, phường Đ, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc;
- Anh Trần Thành L, sinh năm 1983
Địa chỉ: Tổ 8, phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc;
-Anh Đỗ Thành L, sinh năm 1994
Địa chỉ: Tổ 3, phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc;
- Anh Nguyễn Mạnh D, sinh năm 1993
Địa chỉ : Tổ 8, phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc;
- Anh Đỗ Thanh B, sinh năm 1986
Địa chỉ : Thôn B, xã K, huyện M, Hà Nội;
- Anh Đặng Văn H, sinh năm 1995
Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Anh Chu Văn L, sinh năm 1995
Địa chỉ: Thôn Lập Đ, xã N, thành ph P, tỉnh Vĩnh Phúc;
-Anh Trần Văn N, sinh năm 1983
Địa chỉ: Tổ 5, phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc;
- Anh Vũ Đình Q, sinh năm 1987
Địa chỉ: Tổ 2, phường Đ, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc;
- Đinh Quang S, sinh năm 1992
Địa chỉ : Thôn Y, xã C, thành phố P, Vĩnh Phúc;
- Anh Nguyễn Sĩ Đ, sinh năm 1977
Địa chỉ: Lữ đoàn 113 Bộ Quốc Phòng, thuộc phường Đ, thành phố P, tỉnh
Vĩnh Phúc;
- Anh Trần Hồng Viết H, sinh năm 2004
Địa chỉ: Tổ 1, phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc;
- Anh Dương Xuân T, sinh năm 1979
Địa chỉ: Tổ dân phố Y1, đường L, phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc;
- Anh Trần Ngọc T, sinh năm 1979
Địa chỉ: Thôn Thanh L, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; hiện trú tại: T 1,
phường X, thành ph P, Vĩnh Phúc;
- Nguyễn Tiến D, sinh năm 1987
Địa chỉ: Số nhà 39, tổ 3, phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc;
- Anh Lê Tuấn A, sinh năm 1996
Địa chỉ: Tổ 4, phường X, thành phố P, Vĩnh Phúc;
- Ngô Xuân H, sinh năm 1974;
Địa chỉ: Tổ 3, phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc;
-Anh Lâm Văn L, sinh năm 1997
Địa chỉ: Tổ 1, phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc;
3
- Nguyễn Thị H, sinh năm 1991
Địa chỉ : S nhà 699, tổ 7, phường Đ, tnh phố P, tỉnh Vĩnh Phúc;
Tất c đều vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu trong hồ sơ vụ án quá trình xét hỏi, tranh luận tại
phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 11 tháng 6 năm 2021 Công an phường Đ tiến hành kiểm tra hành
chính tại nhà chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1983 địa chỉ số nhà 617A
đường T thuộc tổ 7, phường Đ, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc phát hiện 07
người tụ tập không do, trong đó Trần Thành L, sinh năm 1983; trú tại
phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc. Công an phường Đ phát hiện trong điện
thoại di động nhãn hiệu OPPO F9, màu xanh đen của Trần Thành L lưu giữ
tin nhắn liên quan đến việc L mua số của Đỗ Anh T, sinh năm 1984; địa ch:
T 8, phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc.
*Quá trình điều tra xác định như sau:
Vào hồi 17 giờ 30 ngày 08 tháng 6 năm 2021 Trần Thành L đang ở n, L
sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9, màu xanh đen, cài đặt
tài khoản Zalo “Trần Thành Lđược đăng bằng số điện thoại 0966.353.439
để nhắn tin hỏi mua số đến tài khoản Zalo T Đam 2” của Đỗ Anh T được
đăng bằng số điện thoại 0914.685.667 và cài đặt trong điện thoại Iphone 8
Plus màu đỏ của T, với nội dung: “Lô 98 x 50đ”, tức L mua của T 50 điểm lô.
Đến 17 giờ 50 phút cùng ngày Đỗ Anh T đồng ý bán nên nhắn tin lại cho L qua
tài khoản Zalo nêu trên với nội dung “Ok”, hai bên thống nhất cách chơi một
điểm lô T bán với giá 22.500đ, trúng thưởng sẽ được dựa vào kết quả xổ số kiến
thiết miền Bắc ngày hôm đó để tính, nếu trúng thì 1 điểm lô được hưởng
80.000đ. Tổng số tiền L đánh lô là 1.125.000đ (Một triệu một trăm hai mươi lăm
nghìn đồng). Do trước đó T vay của L số tiền 1.750.000đ, nên trừ đi số tiền
bán số tT vẫn còn nL số tiền 625.000đ. Sau khi bán số cho L xong thì
T dùng số điện thoại 0914.685.667 nhắn tin văn bản đến số điện thoại
0398.618.985, được lưu trong danh bạ điện thoại là “A D nọ 222” với nội dung:
98x50đ”, tức là T chuyển số đã bán cho L đến D. Đến 18 gi 15 phút
cùng ngày, khi kết quả mthưởng Xổ số kiến thiết Miền Bắc, L so sánh kết
quả thì thấy số lô 98 trúng thưởng 2 lần tương đương với số tiền L thắng bạc của
T là 8.000.000đ (Tám triệu đồng);
Đến ngày 09/6/2021, T sử dụng tài khoản số 0591005737007 mở tại Ngân
hàng ABBank mang tên Đỗ Anh T, chuyển khoản đến số tài khoản số
19029705648025 mở tại Ngân hàng Techcombank của Trần Thanh L để trả tiền
trúng thưởng số cho L với số tiền 7.000.000đ, còn lại số tiền 1.625.000đ Đỗ
Anh T vẫn nợ L. Như vậy tổng số tiền bị cáo T L phạm tội Đánh bạc là:
4
1.125.000đ + 8.000.000đ = 9.125.000đ (Chín triệu một trăm hai mươi lăm nghìn
đồng).
*Đối với anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1982 trú tại tổ 8, phường T, thành
phố P, tỉnh Vĩnh Phúc người được T khai nhận đã chuyển bảng số 98x50
điểm cho D bằng tin nhắn văn bản từ số điện thoại 0914.685.667 của T đến số
điện thoại 0398.618.985. Quá trình xác minh tại Tập đoàn công nghiệp viễn
thông quân đội (Viettel), xác định số điện thoại 0398.618.985 được đăng
thông tin anh Nguyễn Đức T, sinh năm1983 trú tại phường P, huyện B, thành
phố Nội. Qua điều tra anh T trình bày từ trước đến nay không đăng sử
dụng số điện thoại 0398.618.985 cũng không cho ai mượn giấy tờ tùy thân để
đăng số điện thoại 0398.618.985. Bản thân anh Nguyễn Văn D trình bày từ
trước đến nay, không mua bán số lô, số đề với Đỗ Anh T và cũng không sử dụng
số điện thoại 0398.618.985. quan cảnh sát điều tra đã cho tiến hành đối chất
giữa T và D. Lúc này Đỗ Anh T thừa nhận chưa bao giờ gọi điện trực tiếp hoặc
gặp trực tiếp D để giao dịch mua bán lô đề, mà chỉ nhắn tin vào số 0398.618.985
ngày 08 tháng 6 năm 2021. Do vậy, không căn cứ chứng minh anh Nguyễn
Văn D hành vi Đánh bạc bằng hình thức bán số như T đã khai. Do đó
quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P không căn cứ xử đối với anh
D.
Quá trình điều làm làm rõ, ngoài hành vi Đánh bạc nêu trên thì ĐAnh T
còn có hành vi: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, cụ thể:
Năm 2019 T mở cửa hàng mua bán xe máy tên “Anh T”, địa điểm
kinh doanh tại Ngõ 4, đường N, phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc để hoạt
động kinh doanh mua bán xe máy. Tại đây T còn kinh doanh dịch vụ cầm đồ,
cho vay nặng lãi để thu lợi bất chính với cách thức như sau: Khi vay tiền người
vay phải trả toàn bộ tiền lãi gốc khi hết thời gian vay, thời gian vay chỉ
khoảng 1 tháng viết giấy vay tiền kiêm nhận nợ để lại giấy tờ đảm bảo.
Sau 1 tháng người vay sẽ phải trả số tiền gốc đã vay và số tiền lãi, nếu không trả
được gốc thì người vay sẽ phải tiếp tục trả trước tiền lãi trong thời hạn cho đến
khi nào trả được hết tiền gốc, tiền lãi thể đưa trực tiếp cho T hoặc chuyển
khoản vào tài khoản ngân hàng của T. Cụ thể T cho vay lãi nặng đối với những
người như sau:
1. Nguyễn Văn N, sinh năm 1993, địa ch: Th Trấn G, huyện B, tỉnh Vĩnh
Phúc.
-Ngày 18 tháng 11 năm 2019, Đỗ Anh T cho anh N vay số tiền
10.000.000đ, với mức lãi xuất 4.000đ/1.000.000đ/01 ngày, khi vay viết
Giấy vay tiền nhưng không để lại giấy tờ, tài sản gì.
Ngày 18 tháng 12 năm 2019, N trả lãi 30 ngày, tổng số tiền lãi đã trả
1.200.000đ; Lãi xuất so với lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 B luật n
s năm 2015 là (4.000đ x 365 x 100%)/1.000.000đ = 146%/năm; Số tiền lãi thu
5
tối đa theo quy định tại khoản 1 Điều 468 B luật dân s là (10.000.000x
20%)/365 ngày x 30 ngày =164.383đồng. Số tiền lãi thu vượt quy định tại khoản
1 Điều 468 Bộ luật dân s là 1.200.000đ - 164.383đ= 1.035.616đ.
-Ngày 22 tháng 6 năm 2020, Đỗ Anh T cho anh N vay số tiền 15.000.000đ,
với mức lãi xuất 4.000đ/1.000.000đ/01 ngày, khi vay có viết Giấy vay tiền
để lại 01 giấy chứng nhận Đăng ký xe mô tô 29Y3 - 25382.
Ngày 22 tháng 7 năm 2020, N trả lãi 30 ngày, tổng số tiền lãi đã trả
1.800.000đ; Lãi suất so với lãi xuất quy định tại khoản 1 Điều 468 B luật n
s năm 2015 là (4.000đ x 365 x 100%) /1.000.000đ = 146%/ năm. Số tiền lãi thu
tối đa theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân s (15.000.0000đ x
20%)/365 ngày x 30 ngày = 246.575đồng. Số tiền lãi thu vượt quy định tại
khoản 1 Điều 468Bộ luật dân s là 1.800.000đ - 246.575 = 1.553.425đ
-Ngày 04 tháng 10 năm 2020, T cho N vay số tiền 10.000.000đ, với mc lãi
xuất 4.000đ/1.000.000đ/01 ngày (tương đương 146%/năm), khi vay viết
Giấy vay tiền;
Ngày 04 tháng 11 năm 2020 N trả lãi 30 ngày, tổng số tiền lãi đã trả là
1.200.000đ; Lãi suất so với lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 B lut dân
sự (4.000đx365x100%)/1.000.000đ= 146%; Số tiền lãi thu tối đa theo quy
định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân s (10.000.0000đx20%)/365 ngày x30
ngày =164.383đ. Số tiền lãi thu vượt quy định tại khoản 1 Điều 468 B luậtn
s là 1.200.000đ- 164.383,562đ = 1.035.617đ
N đã trả gốc cho T tổng số tiền: 35.000.000đ, chưa lấy đăng xe về. Số
tiền T thu lợi bất chính đối với N: 3.624.658đ.
Vẫn cách thức tính như trên, T còn cho những người sau vay lãi nặng, cụ
thể:
2. Đàm Văn H, sinh năm 1983, trú tại tổ 1, phường Đ, thành phố P, tỉnh
Vĩnh Phúc.
Ngày 22 tháng 12 năm 2020, Đỗ Anh T cho H vay số tiền 15.000.000đ với
mức lãi xuất 4.000đ/1.000.000đ/01 ngày (Tương đương 146%/năm). Khi vay
có viết Giấy vay tiền và để lại 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Đàm Văn
H. Ngày 22 tháng 5 năm 2021 H trả lãi 150 ngày, tổng số tiền lãi đã trả là
9.000.000đ. Số tiền lãi thu tối đa theo quy định tại khoản 1 Điều 468 B luậtn
s là 1.232.887đ. Số tiền lãi thu vượt quy định tại khoản 1 Điều 468 B luậtn
s là 9.000.000đ - 1.232.887đ = 7.767.113đ.
H chưa trả T tiền gốc 15.000.000đ, chưa lấy 01 chứng minh thư nhân dân.
Số tiền T thu lợi bất chính đối với H là 7.767.113đồng.
3. Đỗ Thành L, sinh năm 1994, trú tại tổ 3, phường X, thành phố P, tỉnh
Vĩnh Phúc.
Ngày 25 tháng 12 năm 2020, Đ Anh T cho Đỗ Thành L vay số tiền
5.000.000đ với mức lãi xuất 3.000đ/1.000.000đ/01ngày (Tương đương
6
109,5%/năm). Khi vay viết Giấy vay tiền, nhưng không để lại giấy tờ và tài
sản gì.
Ngày 31 tháng 01 năm 2021 L trả lãi 35 ngày, tổng số tiền lãi đã trả
500.000đ; Số tiền lãi thu tối đa theo quy định tại khoản 1 Điều 468 B luật n
s (5.000.0000đ x 20%)/365 ngày x 35 ngày = 95.890đ. Số tiền lãi thu vượt
quy định tại khoản 1 Điều 468 B luật dân s 500.000đ - 95.890đ = 404.110đ.
Đỗ Thành L đã trả tiền gốc 5.000.000đ. Số tiền T thu lợi bất chính đối với
L 404.110đồng.
4. Trần Thành L, sinh năm 1983, trú tại: T 8, phường X, thành phố P,
tỉnh Vĩnh Phúc.
Ngày 11 tháng 10 năm 2020, Đỗ Anh T cho Trần Thành L vay số tiền
10.000.000đ với mức lãi xuất 5.000đ/1.000.000đ/01 ngày (Tương đương
182,5%/năm), khi vay viết Giấy vay tiền để lại 01 giấy chứng minh nhân
dân mang tên Trần Thành L.
Tính đến ngày 21 tháng năm 2021, L trả lãi 190 ngày, tổng số tiền lãi đã
trả 9.100.000đ; Số tiền lãi thu tối đa theo quy định tại khoản 1 Điều 468 B
luật dân s là 1.041.095đ. Số tiền lãi thu vượt quy định tại khoản 1 Điều 468 B
luật dân s là 9.100.000 - 1.041.095,89đ= 8.058.905đ.
L đã trả tiền gốc 10.000.000đ lấy giấy t về. Số tiền T thu lợi bất chính
đối với L là 8.058.905đ;
Ngoài ra, ngày 14 tháng 5 năm 2021, Đỗ Anh T cho Trần Thành L vay số
tiền 15.000.000đ với mức lãi xuất 5.000đ/1.000.000đ/01 ngày (Tương đương
182,5%/năm), khi vay viết Giấy vay tiền để lại 01 giấy chứng minh nhân
dân mang tên Trần Thành L. Hiện L chưa tr cho T s tiền gốc và lãi của s tiền
vay nàychưa lấy chứng minh thư nhân dân.
5. Nguyễn Mạnh D, sinh năm 1993; trú tại: T8, phường X, thành phố P,
tỉnh Vĩnh Phúc.
Ngày 10 tháng 02 năm 2021, Đỗ Anh T cho Nguyễn Mạnh D vay số tiền
5.000.000đ với mức lãi xuất 5.000đ/1.000.000đ/01 ngày (Tương đương
182,5%/năm), khi vay viết Giấy vay tiền để lại 01 giấy chứng nhận Đăng
ký xe mô tô BKS: 88H1 02751 mang tên Nguyễn Thị Thu P.
Tính đến ngày 17 tháng 4 năm 2021, D trả lãi cho T 60 ngày, tổng số tiền
lãi đã trả là 1.500.000đ. Số tiền lãi thu tối đa theo quy định tại khoản 1 Điều 468
B luật dân s 180.821đ; stiền lãi thu vượt quy định tại khoản 1 Điều 468
B luật dân s 1.500.000đ - 180.821đ= 1.319.179đ.
Ngày 17 tháng 4 năm 2021 D vay thêm số tiền 5.000.000đ, không viết giấy
vay tiền mới, để lại 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Mạnh D
01 giấy chứng nhận Đăng xe BKS: 29S6 34059 mang tên Nguyễn
Ngc B với tổng số tiền vay 10.000.000đ, với mức lãi xuất
5.000đ/1.000.000đ/01 ngày (Tương đương 182,5%/năm).
7
Tính đến ngày 11 tháng 6 năm 2021 D trả lãi 55 ngày, tổng số tiền lãi đã trả
3.000.000đ; Số tiền lãi thu tối đa theo quy định tại khoản 1 Điều 468 B luật
dân s 301.369đ. Số tiền lãi thu vượt quy định tại khoản 1 Điều 468 B luật
dân s là 3.000.000đ - 301.369đ= 2.698.631đ.
D đã trả tiền gốc 5.000.000đ và lấy 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên
Nguyễn Mạnh D và 01 giấy chứng nhận Đăng ký xe mô tô BKS: 88H1 02751.
Hiện D còn nợ T tiền gốc 5.000.000đ và chưa lấy 01 giấy chứng nhận Đăng
xe mô BKS: 29S6 - 34059. Tổng số tiền T thu lợi bất chính đối với D :
1.319.719 + 2.698.631 = 4.018.350đ.
6. Đỗ Thanh B, sinh năm 1986; trú tại: Thôn B, K, huyện M, thành phố
Hà Nội.
- Ngày 06 tháng 11 năm 2019, Đỗ Anh T cho Đỗ Thanh B vay số tiền
3.000.000đ (Ba triệu đồng) với mức lãi xuất là 4.000đ/1.000.000đ/01 ngày
(Tương đương 109,5%/năm). Khi vay viết Giấy vay tiền để lại 01 giấy
chứng minh nhân dân mang tên Đỗ Thanh B.
Tính đến ngày 06 tháng 12 năm 2019 B đã trả lãi 30 ngày, tổng số tiền lãi
đã trả 360.000đồng; Số tiền lãi thu tối đa theo quy định tại khoản 1 Điều 468
B luật dân s là 49.315đồng. Số tiền lãi thu vượt quy định tại khoản 1 Điều 468
B luật dân s là 360.000đ - 49.315= 310.685đ. B đã trả tiền gốc 3.000.000đ
lấy giấy chứng minh nhân dân
-Ngày 23 tháng 3 năm 2021, Đỗ Anh T cho Đỗ Thanh B vay số tiền
5.000.000đ với mức lãi xuất 4.000đ/1.000.000đ/01 ngày (Tương đương
146%/năm). Khi vay viết Giấy vay tiền để lại 01 giấy chứng minh nhân
dân mang tên Đỗ Thanh B.
Tính đến ngày 23 tháng 4 năm 2021 B trả lãi 30 ngày, tổng số tiền lãi đã
trả 600.000đồng; Số tiền lãi thu tối đa theo quy định tại khoản 1 Điều 468 B
luật dân s là 82.192đồng. Số tiền lãi thu vượt quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ
luật dân s là 600.000đ - 82.192= 517.808đ. B đã trả tiền gốc 3.000.000đ lấy
giấy chứng minh nhân dân.
Như vậy, B đã trả gốc cho T 8.000.000đ. Số tiền T thu lợi bất chính đối với
B: 310.685 + 517.808 = 828.493đồng;
7. Đặng Văn H, sinh năm 1995, trú tại: Tổ dân phố T, phường T, thành phố
P, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Ngày 16 tháng 01 năm 2021, Đỗ Anh T cho Đặng Văn H vay số tiền
2.000.000đồng (Hai triệu đồng) với mức lãi xuất 5.000đ/1.000.000đ/01 ngày
(Tương đương 182,5%/năm). Khi vay viết Giấy vay tiền để lại 01 giấy
Căn cước công dân mang tên Đặng Văn H. Tính đến ngày 16 tháng 5 năm 2021
H trả lãi 120 ngày, tổng số tiền lãi đã trả 1.200.000đ; Số tiền lãi thu tối đa
theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân s 131.508đồng. Số tiền lãi
8
thu vượt quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân s 1.200.000đ -
131.508đ= 1.068.492đồng.
H chưa trả T tiền gốc 2.000.000đ và chưa lấy thẻ căn cước công dân. Số
tiền T thu lợi bất chính đối với H 1.068.492đ.
8. Chu Văn L, sinh năm 1995, trú tại: Thôn L, xã N, thành phố P, tỉnh
Vĩnh Phúc
- Ngày 27 tháng 6 năm 2020, Đỗ Anh T cho anh Chu Văn L vay số tiền
7.000.000đồng (Bảy triệu đồng), với mức lãi xuất 3.000đ/1.000.000đ/01 ngày
(Tương đương 109,5%/năm). Khi vay viết Giấy vay tiền để lại 01 giấy
Căn cước công dân mang tên Chu Văn L.
Tính đến ngày 27 tháng 2 năm 2021 L trả lãi 240 ngày, tổng số tiền lãi đã
trả 5.040.000đ; Số tiền lãi thu tối đa theo quy định tại khoản 1 Điều 468 B
luật dân s 920.556đ. Số tiền lãi thu vượt quy định tại khoản 1 Điều 468 B
luật dân s là 5.040.000đ - 920.556đ= 4.119.444đ.
L đã trả tiền gốc 7.000.000đ, đã lấy giấy tờ về. Số tiền T thu lợi bất chính
đối với L: 4.119.444đ.
9. Trần Văn N, sinh năm 1993, trú tại: T5, phường X, thành phố P, tỉnh
Vĩnh Phúc.
- Vào khoảng tháng 01/2021, Đỗ Anh T cho Trần Văn N vay số tiền
10.000.000đ, với mức lãi xuất là 5.000đ/1.000.000đ/01 ngày (Tương đương
182,5%/năm), khi vay không viết giấy tờ vay, không để lại tài sản hay giấy tờ
cầm cố.
- Đến ngày 12 tháng 01 năm 2021, Đỗ Anh T cho Trần Văn N vay số tiền
5.000.000đ, với mức lãi xuất là 5.000đ/1.000.000đ/01 ngày (Tương đương
182,5%/năm), khi vay không viết giấy tờ vay, để lại Chứng minh thư nhân
dân mang tên Trần Văn N, sau đó N lại mượn lại T Chứng minh thư nhân dân.
Tính đến ngày 10 tháng 5 năm 2021, N trả lãi 120 ngày, tổng số tiền lãi đã
trả 8.480.000đ; Số tiền lãi thu tối đa theo quy định tại khoản 1 Điều 468 B
luật dân s 986.301đ. Số tiền lãi thu vượt quy định tại khoản 1 Điều 468 B
luật dân s là 8.480.000đ- 986.301đ= 7.493.699đ.
N chưa trả tiền gốc cho T 15.000.000đ, phải truy thu tịch thu sung ng
qu Nhà nước. Số tiền T thu lợi bất chính đối với N: 7.493.69
-Ngoài ra, ngày 17 tháng 01 năm 2021, Đỗ Anh T cho Trần Văn N vay số
tiền 10.000.000đ, do N nói với T số tiền này N sẽ trả luôn nên T không tính lãi
xuất, khi vay không viết giấy tờ vay, không để lại tài sản hay giấy tờ cầm cố.
Do N không trả được tiền gốc nên đến ngày 10/6/2021, N viết 01 giấy vay
tiền của 02 lần vay trên thành tổng số tiền vay là: 25.000.000đ với mức lãi xuất
5.000đ/1.000.000đ/01 ngày (Tương đương 182,5%/năm). Đối với số tiền vay
10.000.000đ ngày 17/01/2021 N chưa trả được tiền gốc và lãi tháng nào.
9
10. Đình Q, sinh năm 1987, trú tại: Tổ 2, phường Đ, thành phố P, tỉnh
Vĩnh Phúc.
Ngày 20 tháng 4 năm 2019 Đỗ Anh T cho Vũ Đình Q vay s tiền
5.000.000đ với mức lãi xuất là 3.000đ/1.000.000đ/01 ngày (Tương đương
109,5%/năm). Khi vay viết Giấy vay tiền để lại 01 giấy chứng nhận Đăng
ký xe mô tô BKS: 88H7 - 0777.
Tính đến ngày 20 tháng 3 năm 201 Q trả lãi 690 ngày, tổng số tiền lãi đã
trả 10.350.000đ; Số tiền lãi thu tối đa theo quy định tại khoản 1 Điều 468 B
luật dân s là 1.890.410đ. Số tiền lãi thu vượt quy định tại khoản 1 Điều 468 B
luật dân s là 10.350.000đ- 1.890.410đ= 8.459.590đ.
Q đã trả tiền gốc 5.000.000đ, chưa lấy giấy đăng ký xe. Số tiền T thu lời
bất chính đối với Q 8.459.590đ.
11. Ngô Xuân H, sinh năm 1974, trú tại: T 3, phường X, thành phố P, tỉnh
Vĩnh Phúc.
- Ngày 22 tháng 7 năm 2020, Đ Anh T cho Ngô Xuân H vay số tiền
5.000.000đ với mức lãi xuất là 4.000đ/1.000.000đ/01 ngày (Tương đương
146%/năm), viết giấy vay tiền đ lại Chứng minh thư nhân dân mang n
Ngô Xuân H. Tính đến ngày 22 tháng 9 năm 2020 H trả lãi 120 ngày, tổng số
tiền lãi đã trả là 1.200.000đ; Số tiền lãi thu tối đa theo quy định tại khoản 1 Điều
468 B luật dân s 164.383đ. Số tiền lãi thu vượt quy định tại khoản 1 Điều
468 B luật dân s 1.200.000đ - 164.383đ= 1.035.617đ. H đã trả tiền gốc
5.000.000đ và lấy giấy tờ. Số tiền T thu lời bất chính đối với H là 1.035.617đ
-Ngày 22 tháng 9 năm 2020, sau khi trả tiền xong, H tiếp tục vay của T số
tiền 1.000.000đ với mức lãi xuất 4.000đ/1.000.000đ/01 ngày (Tương đương
146%/năm) viết giấy vay tiền để lại chứng minh nhân dân mang tên H.
Tính đến ngày 22 tháng 10 năm 2020 H trả lãi 30 ngày, tổng số tiền lãi đã trả là
120.000đ; Số tiền lãi thu tối đa theo quy định tại khoản 1 Điều 468 B luật n
s là 16.438đ. Số tiền lãi thu vượt quy định tại khoản 1 Điều 468 B luật dân s
là 120.000đ- 16.438đ= 103.562đ. H đã trả tiền gốc 1.000.000đ và lấy giấy tờ. Số
tiền T thu lời bất chính đối với H là 103.562đ
-Ngày 13 tháng 3 năm 2021, T tiếp tục cho H vay stiền 5.000.000đ với
mức lãi xuất 3.500đ/1.000.000đ/01 ngày (Tương đương 127.5%/năm), viết
giấy vay tiền để lại chứng minh nhân dân mang tên H. Tính đến ngày 13
tháng 5 năm 2021 H trả lãi 60 ngày, tổng số tiền lãi đã trả là 1.050.000đ; Số tiền
lãi thu tối đa theo quy định tại khoản 1 Điều 468 B luật dân s 164.383đ. Số
tiền lãi thu vượt quy định tại khoản 1 Điều 468 B luật dân s 1.050.000đ -
164.383đ= 885.617đ. H chưa trả tiền gốc 5.000.000đồng chưa lấy chứng
minh thư nhân dân về. Số tiền T thu lợi bất chính đối với H là 885.617đ
10
Như vậy, H đã trả tiền gốc cho T 6.000.000đ; chưa trả tiền gốc
5.000.000đ. Tổng số tiền T thu lợi bất chính 03 lần đối với H là:
1.035.617+103.562+885.617=2.024.796đ
12. Đinh Quang S , sinh năm 1992, trú tại: Thôn Y, xã C, thành phố P, tỉnh
Vĩnh Phúc.
- Ngày 01/8/2019, Đỗ Anh T cho Đinh Quang S vay số tiền 5.000.00 (
Năm triệu đồng) với mức lãi xuất 5.000đ/1.000.000đ/01 ngày (Tương đương
182,5%/năm). Khi vay viết giấy vay tiền để 01 Giấy chứng nhận đăng
xe mô tô BKS: 88H1- 09004. Đến cuối tháng 8/2019, S trả cho T tiền lãi của 18
ngày với số tiền 450.000đ; Số tiền lãi thu tối đa theo quy định tại khoản 1
Điều 468 Bộ luật dân s 49.315đ; Số tiền lãi thu vượt quy định tại khoản 1
Điều 468 Bộ luật dân s là 450.000đ- 49.315đ = 400.68.
S đã trả tiền gốc 5.000.000đ và lấy đăng ký xe mô v. Số tiền T thu lợi
bất chính đối với S là 400.685đ
-Vào khoảng tháng 06/2020, Đỗ Anh T cho Đinh Quang S vay số tiền
5.000.000đ (Năm triệu đồng) với mức lãi xuất 5.000đ/1.000.000đ/01 ngày
(Tương đương 182,5%/năm). Đến tháng 07/2020, S đã trả cho T tiền lãi 30 ngày
với số tiền là 750.000đ; Số tiền lãi thu tối đa theo quy định tại khoản 1 Điều 468
B luật dân s là 82.192đ; Số tiền lãi thu vượt quy định tại khoản 1 Điều 468 B
luật dân s 750.00- 82.192đ = 667.808đ. S đã trả tiền gốc 5.000.000đ. Số
tiền T thu lợi bất chính đối với S là 667.808đ
-Ngày 21 tháng 01 năm 2021, T tiếp tục cho S vay số tiền 3.000.000đ (Ba
triệu đồng) với mức lãi xuất 5.000đ/1.000.000đ/01 ngày (Tương đương
182,5%/năm). Đến ngày 10 tháng 3 năm 2021, S đã trả cho T số tiền lãi của 18
ngày 270.000đ; Số tiền lãi thu tối đa theo quy định tại khoản 1 Điều 468 B
luật dân s 29.589đ; Số tiền lãi thu vượt quy định tại khoản 1 Điều 468 của
B luật dân s là 270.000đ- 29.589đ =240.411đ. S đã trả tiền gốc 3.000.000đ.
Số tiền T thu lợi bất chính đối với S là 240.411đ
-Ngày 14/4/2021, T tiếp tục cho S vay số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng)
với mức lãi xuất 5.000đ/1.000.000đ/01 ngày (Tương đương 182,5%/năm),
viết giấy vay tiền S để lại Căn cước công dân mang tên S. Đến ngày
10/5/2021, S đã trả cho T số tiền lãi của 27 ngày là 400.000đ; Số tiền lãi thu tối
đa theo quy định tại khoản 1 Điều 468 B luật dân s 44.383đ; Số tiền lãi thu
vượt quy định tại khoản 1 Điều 468 B luật dân s 400.000đ - 44.383đ =
355.617đ. S đã trả tiền gốc 3.000.000đ, chưa lấy Căn cước công dân về. Số tiền
T thu lợi bất chính đối với S là 355.617đ
Như vậy, tổng số tiền gốc S đã trả: 16.000.000đ. T phải trả lại cho S số tiền
thu lợi bất chính là: 400.685 + 667.808 + 240.411 + 355.617 = 1.664.521đ.
13. Nguyễn Đ, sinh năm 1977 hiện đang công tác tại Lữ đoàn 113 - Bộ
Quốc Phòng thuộc phường Đ, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc.
11
-Ngày 21/5/2020, Đỗ Anh T cho Nguyễn Đ vay số tiền 10.000.000đ
(Mười triệu đồng) với mức lãi xuất là 5.000đ/1.000.000đ/01 ngày (Tương đương
182,5%/năm), khi vay có viết giấy vay tiền và để 01 Giấy chứng nhận tốt nghiệp
khóa đào tạo ngắn hạn vận tải ôtô. Anh Đ đã trả cho T số tiền lãi của 360 ngày
với số tiền 18.000.000đ; stiền lãi thu tối đa theo quy định tại khoản 1 Điều
468 B luật dân s 1.972.620đ; stiền lãi thu vượt quy định tại khoản 1 Điều
468 B luật dân s là 18.000.000đ - 1.972.620đ = 16.027.380đ;
Sau khi v án đưc chuyển sang Tòa án, anh Đ đã tr cho T s tiền 10.
000.000đ tiền gốc. T phải trả lại 01 Giấy chứng nhận tốt nghiệp khóa đào tạo
ngắn hạn vận tải ô cho anh Đ số tiền thu lợi bất chính đối với Đ
16.027.380đ.
14. Lâm Văn L , sinh năm 1997; trú tại: T1, phường X, thành phố P, tỉnh
Vĩnh Phúc.
- Ngày 05/9/2020, Đỗ Anh T cho Lâm Văn L vay số tiền 5.000.000đ (Năm
triệu đồng) với mức lãi xuất 4.000đ/1.000.000đ/01 ngày (Tương đương
146%/năm), khi vay viết giấy vay tiền để 01 giấy phép lái xe hạng A1
mang tên Lâm Văn L. Đến tháng 04/2021, L đã trả cho T tiền lãi của 210 ngày
4.200.000đ; Số tiền lãi thu tối đa theo quy định tại khoản 1 Điều 468 B luật
dân s 575.347đ; Số tiền lãi thu vượt quy định tại khoản 1 Điều 468 B luật
dân s là 4.200.000đ - 575.347đ = 3.624.653đ. Anh L đã trả tiền gốc 5.000.000đ
lấy giấy tờ về. T phải trả lại L số tiền thu lời bất chính là 3.624.653đ.
15. Trần Hồng Viết H, sinh năm 2004, trú tại: T1, phường X, thành phố
P, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Ngày 05/4/2021, Đỗ Anh T cho Trần Hồng Viết H vay số tiền 5.000.000đ
( Năm triệu đồng) với mức lãi xuất là 5.000đ/1.000.000đ/01 ngày (Tương đương
182,5%/năm), khi vay viết giấy vay tiền để 01 thẻ căn cước công dân
mang tên Trần Hồng Viết H. H đã trả cho T tiền lãi của 60 ngày với số tiền
1.500.000đ; Số tiền lãi thu tối đa theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luậtn
s 164.385đ; Số tiền lãi thu vượt quy định tại khoản 1 Điều 468 B luật n
s là 1.500.000đ- 164.385đ =1.335.615đ
Anh H đã trả tiền gốc 5.000.000đ lấy giấy tờ về. T phải trả cho H số tiền
thu lợi bất chính là 1.335.615đ.
16. Anh Dương Xuân T, sinh năm 1979, trú tại: Phường X, thành phố P,
tỉnh Vĩnh Phúc.
- Vào khoảng tháng 3/2021, Đỗ Anh T cho anh T vay số tiền 10.000.000đ
(Mười triệu đồng), số tiền vay này T không quy định lãi xuất không viết giấy
vay tiền. Được 2 tuần sau, T trả cho T 10 triệu đồng tiền gốc 500.000đ tiền
lãi (Tương đương 120,45%); Số tiền lãi thu tối đa theo quy định tại khoản 1
Điều 468 Bộ luật dân s 82.191đ; Số tiền lãi thu vượt quy định tại khoản 1
Điều 468 Bộ luật dân s là 500.000đ- 82.191đ = 417.80.
12
-Ngày 21/4/2021, Đỗ Anh T cho Dương Xuân T vay số tiền 20.000.000đ
(Hai mươi triệu đồng) với mức lãi xuất 4.000đ/1.000.000đ/01 ngày (Tương
đương 146%/năm), khi vay có viết giấy vay tiền và để 01 giấy chứng minh nhân
dân mang tên Dương Xuân T. T đã trả cho T tiền lãi của 30 ngày với số tiền
2.400.000đ; Số tiền lãi thu tối đa theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luậtn
s 328.770đ; Số tiền lãi thu vượt quy định tại khoản 1 Điều 468 B luật n
s 2.400.000đ - 328.770đ = 2.071.230đ. Anh T chưa trả tiền gốc cho T
20.000.000đ, anh T đã lấy Chứng minh thư nhân dân về. Số tiền T thu lời bất
chính đối với T 2.071.230đ
Như vậy, T đã trả gốc 10.000.000đ, chưa trả gốc 20.000.000đ. Tổng số tiền
T thu lời bất chính của Thành là 417.809 +2.071.230= 2.489.039đ.
17. Trần Ngọc T, sinh năm 1979, địa ch: Xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên,
hiện ở tại: T 1, phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Vào khoảng tháng 2/2021, Đỗ Anh T cho T vay số tiền 5.000.000đ (Năm
triệu đồng) với mức lãi xuất 4.000đ/1.000.000đ/01 ngày (Tương đương
146%/năm), khi vay viết giấy vay tiền và để 01 giấy chứng minh nhân dân
mang tên Trần Ngọc T 01 Giấy chứng nhận đăng xe mô BKS: 88H1 -
20677. T đã trả cho T tiền lãi của 60 ngày với số tiền 1.590.000đ; Số tiền lãi
thu tối đa theo quy định tại khoản 1 Điều 468 B luật dân s 164.385đ; Số
tiền lãi thu vượt quy định tại khoản 1 Điều 468 B luật dân s 1.590.000đ-
164.385đ = 1.425.615đ. T chưa trả tiền gốc 5.000.000đ, chưa lấy giấy tờ về. Số
tiền T thu lợi bất chính đối với T là 1.425.615đ
- Ngày 04/4/2021, anh T tiếp tục vay T số tiền 5.000.000đ (Năm triệu
đồng) vẫn với mức lãi xuất 4.000đ/1.000.000đ/01 ngày (Tương đương
146%/năm), T đã viết 01 giấy vay tiền với tổng số tiền 2 lần vay là 10.000.000đ.
Lần vay 5000.000đồng này, anh T chưa tr lãi cho T. T vẫn chưa trả tiền gốc
tổng 10.000.000đ cho T;
18. Nguyễn Tiến D, sinh năm 1987, trú tại: Tổ 3, phường X, thành phố P,
tỉnh Vĩnh Phúc.
- Ngày 21/5/2021, Đỗ Anh T cho Nguyễn Tiến D vay số tiền 10.000.000đ
(Mười triệu đồng) với mức lãi xuất là 5.000đ/1.000.000đ/01 ngày (Tương đương
182,5%/năm), khi vay viết giấy vay tiền để 01 giấy chứng minh nhân dân
mang tên Nguyễn Tiến D. D đã trả lãi của 15 ngày với số tiền 750.000đ. Số tiền
lãi thu tối đa theo quy định tại khoản 1 Điều 468 B luật dân s 82.192đ; Số
tiền lãi thu vượt quy định tại khoản 1 Điều 468 B luật dân s 750.000đ -
82.192đ =667.808đ. Anh D chưa trả tiền gốc 10.000.000đ cho T chưa lấy
Chứng minh thư nhân dân. T phải trả lại cho anh D số tiền T thu lợi bất chính
667.808đ.
19. Lê Tuấn A, sinh năm 1996, trú tại: Tổ 4, phường X, thành phố P, tỉnh
Vĩnh Phúc.
13
- Ngày 29/4/2021, Đỗ Anh T cho Tuấn A vay số tiền 5.000.000đ (Năm
triệu đồng), với mức lãi xuất là 5.000đ/1.000.000đ/01 ngày (Tương đương
182,5%/năm), không viết giấy vay tiền, không để lại tài sản hay giấy tờ cầm cố.
Đến ngày 29/5/2021, Tuấn A đã trả 750.000đ của 30 ngày tiền lãi; Số tiền lãi
thu tối đa theo quy định tại khoản 1 Điều 468 B luật dân s 82.192đ; Số tiền
lãi thu vượt quy định tại khoản 1 Điều 468 B luật dân s là 750.000đ - 82.192đ
= 667.808đ. Tuấn A đã trả tiền gốc 5.000.000đ. Số tiền T thu lợi bất chính đối
với Tuấn A 667.808đ.
- Ngày 30/5/2021, Đỗ Anh T cho Tuấn A vay số tiền 5.000.000đ (Năm
triệu đồng) với mức lãi xuất 5.000đ/1.000.000đ/01 ngày (Tương đương
182,5%/năm), không viết giấy vay tiền, không đ lại tài sản hay giấy tờ cầm cố.
Tuấn A chưa trả được tiền gốc 5000.000đồng và tiền lãi của lần vay này.
Như vậy, tổng số tiền gốc bcáo Đỗ Anh T đã cho 19 người vay nặng lãi
là: 209.000.000đồng (Hai trăm linh chín triệu), trong đó số tiền gốc người vay
đã trả: 132.000.000đồng (Một trăm ba mươi hai triệu); số tiền gốc người vay
chưa trả: 77.000.000đồng (Bảy mươi bảy triệu). Tổng số tiền lãi người vay đã
trả cho T : 87.260.539đồng; trong đó số tiền lãi thu tối đa theo quy định tại
khoản 1 Điều 468 B luật dân s 11.490.450đồng; stiền lãi thu vượt quy
định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân s là 75.770.089đồng.
Ngoài ra Đỗ Anh T còn cho các đối tượng sau vay tiền viết giấy vay
tiền, thỏa lãi suất thấp hơn 05 lần mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468
của B luật dân s hoặc viết giấy vay tiền nH người vay chưa trả khoản lãi
hoặc không tính lãi suất, nên chưa thỏa mãn yếu tố cấu thành tội cho vay lãi
nặng trong giao dịch dân sự, không xác định đây hành vi cho vay lãi nặng
trong giao dịch dân sự gồm:
1. Trần Quang Khải, sinh năm 2002, trú tại: T2, phường X, thành phố P,
tỉnh Vĩnh Phúc.
Vào khoảng đầu tháng 3/2021, Đỗ Anh T cho Khải vay số tiền 6.500.000đ,
khi vay không viết giấy tờ vay, không để lại tài sản hay giấy tờ cầm cố, T không
quy định lãi xuất đối với số tiền vay này. Đến ngày 06/5/2021, Khải trả T tiền
gốc số tiền 6.500.000đ và 500.000đ tiền lãi ( tương đương 47,75%/ năm).
2. Phạm Thị Thái, sinh năm 1993, trú tại: Xã An Dục, huyện Quỳnh Phụ,
tỉnh Thái B.
Ngày 12/4/2021, T cho chị Thái vay số tiền 20.000.000đ, khi vay viết
giấy tờ vay, chị Thái cầm cố 01 thẻ bảo hiểm y tế 01 giấy chứng minh nhân
dân mang tên Phạm Thị Thái, khi vay T không quy định lãi xuất đối với số tiền
vay y. Đến ngày 14/5/2021, chị Thái trả T 20.000.000đ và tự trả thêm
500.000đ (tương đương 30,295%) để cảm ơn T và đã lấy giấy tờ về.
3. Đặng Thị H, sinh năm 1979, trú tại: T2, phường X, thành phố P, tỉnh
Vĩnh Phúc.
14
Ngày 18/1/2021, chị H có vay của T số tiền 10.000.000đ
Ngày 21/1/2021, chị H có vay của T số tiền 5.000.000đ
Ngày 25/1/2021, chị H có vay của T số tiền 8.000.000đ
Cả 3 lần vay tiền này T đều không tính lãi xuất, chị H không viết giấy tờ
vay và không đlại tài sản hay giấy tờ cầm cố. Chị H đã trả hết số tiền vay
23.000.000đ (Hai mươi ba triệu) cho T.
4. Nguyễn Bảo Trung, sinh năm 1992, trú tại: T2, phường X, thành phố
P, tỉnh Vĩnh Phúc.
Từ ngày 20/01/2021 đến ngày 21/5/2021, T cho anh Trung vay tiền
nhiều lần 5000.000đồng, 3000.000đồng, 300.000đồng, 20.000.000đồng. Các
lần vay tiền này do hàng xóm với nhau vay nóng, nên T đều không tính lãi
xuất, anh Trung không viết giấy tờ vay không để lại tài sản hay giấy tcầm
cố. Anh Trung đã trả hết số tiền vay cho T.
5. Nguyễn Hữu Dụng, sinh năm 1985, trú tại: Tổ 3, phường Đ, thành phố P,
tỉnh Vĩnh Phúc.
Từ cuối tháng 01/2021 đến ngày 27/5/2021, T cho anh Dụng vay tiền 05
lần cụ thể: 10.000.000đ; 20.000.000đ; 10.000.000đ; 5.000.000đ và 60.000.000đ.
Các lần vay tiền này T đều không tính lãi xuất, anh Dụng không viết giấy tờ vay
không để lại tài sản hay giấy tờ cầm cố. Anh Dụng đã trả hết số tiền vay cho
T.
6. Nguyễn Đình Thành, sinh năm 1992, trú tại: T1, phường Đ, thành phố
P, tỉnh Vĩnh Phúc.
Từ cuối ngày 02/01/2021 đến ngày 07/6/2021, T cho anh T vay nóng
tiền 02 lần, mỗi lần 20.000.000đồng. Các lần vay tiền này T đều không tính
lãi xuất, anh T không viết giấy tờ vay và không để lại tài sản hay giấy tờ cầm cố.
Anh T đã trả hết số tiền vay 40.000.000đồng cho T.
7. Nguyễn Viết ng, sinh năm 1976, trú tại: Thôn An Đồng, Ngọc
Thanh, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc.
Ngày 26/01/2021, T cho anh Hùng vay số tiền 10.000.000đ, anh Hùng viết
giấy vay tiền để lại 01 Căn cước công dân mang tên Nguyễn Viết Hùng. Số
tiền vay này T không tính lãi xuất, Đến khoảng đầu tháng 3/2021, anh Hùng đã
trả T số tiền vay 10.000.000đ và lấy giấy t v;
8. Nguyễn Anh T, sinh năm 1992, trú tại: T2, phường Đ, thành phố P,
tỉnh Vĩnh Phúc.
- Ngày 05/12/2020, Đỗ Anh T cho anh T vay số tiền 10.000.000đ với lãi
xuất 2.000đ/1 triệu/1 ngày ( tương đương 73%/ năm) khi vay Nguyễn Anh T
viết giấy vay tiền để lại 01 Căn cước ng dân mang tên Nguyễn Anh T.
Nguyễn Anh T trả lãi được 01 tháng với số tiền 600.000đ.
- Ngày 18/02/2021, Đỗ Anh T cho Nguyễn Anh T vay số tiền 10.000.000đ,
tổng cộng Nguyễn Anh T vay 20.000.000đ với lãi xuất 2.000đ/1 triệu/1 ngày (
15
tương đương 73%/ năm). Nguyễn Anh T đã trả lãi với tổng số tiền 8.400.000đ.
Nguyễn Anh T chưa trả tiền gốc cho Đỗ Anh T.
9. Dương Văn Hùng, sinh năm 1965, ttại: T4, phường X, thành phố P,
tỉnh Vĩnh Phúc.
Ngày 25/01/2021, anh Hùng có vay của T số tiền 20.000.000đ
Ngày 26/4/2021, anh Hùng có vay của T số tiền 20.000.000đ
Ngày 25/5/2021, anh Hùng có vay của T số tiền 30.000.000đ
Cả 3 lần vay tiền này T đều không tính lãi xuất, anh Hùng đều không viết
giấy tờ vay và không để lại tài sản hay giấy tcầm cố. Anh Hùng đã trả hết số
tiền vay cho T.
10. Đặng Văn Thanh, sinh năm 1991; trú tại: Thôn Đồng Đầm, Ngọc
Thanh, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc.
Ngày 09/3/2021, anh Thanh có vay T số tiền 10.000.000đ,
Ngày 03/4/2021, anh Thanh có vay T số tiền 10.000.000đ,
Ngày 13/4/2021, anh Thanh có vay T số tiền 10.000.000đ,
Cả 3 lần vay tiền này T đều không tính lãi xuất, anh Thanh đều không viết
giấy tờ vay không để lại tài sản hay giấy tờ cầm cố. Đến nay anh Thanh mới
trả cho T được 5.500.000đ và vẫn nợ số tiền 24.500.000đ.
11. H Văn L, sinh năm 1983, trú tại: Thôn Văn Lôi, Tam Đồng, huyện
Mê Linh, thành phố Hà Nội.
Từ ngày 06/01/2021 đến ngày 28/5/2021 anh L có sử dụng tài khoản
19022648154016 giao dịch với 02 tài khoản của T 101867729500
0591005737007 đvay tiền T nhiều lần, các lần vay tiền này T đều không tính
lãi xuất, anh L đều không viết giấy tờ vay không đlại tài sản hay giấy tờ
cầm cố. Hiện anh L đã tr cho T s tiền vay này;
12. Nguyễn Minh T, sinh năm 1983, trú tại: T1, phường Đ, thành phố P,
tỉnh Vĩnh Phúc.
Ngày 31/3/2020, anh Nguyễn Minh T có vay của Đỗ Anh T số tiền
80.000.000đ, khi vay anh Nguyễn Minh T viết 01 tờ giấy vay tiền viết tay. Số
tiền vay này Đỗ Anh T không tính lãi xuất cho vay, anh Nguyễn Minh T không
để lại tài sản hay giấy tờ cầm cố. Sau đó anh Nguyễn Anh T đã trả hết số tiền
vay cho Đỗ Anh T.
13. Nguyễn Quyết Tiến, sinh năm 1985; trú tại :Tổ 1, phường X, thành phố
P, tỉnh Vĩnh Phúc.
Vào khoảng đầu tháng 5/2021, anh Tiến vay của Đỗ Anh T số tiền
3.750.000đ, số tiền vay này Đỗ Anh T không tính lãi xuất cho vay, anh Tiến
không viết giấy vay không để lại tài sản hay giấy tờ cầm cố. Đến ngày
06/5/2021, anh Tiến đã tr số tiền vay 3.750.000đ cho T.
14. Duy Linh, sinh năm 1991; trú tại: Xã Tân Thành, huyện lai Vung,
tỉnh Đồng Tháp.
16
Ngày 29/4/2021, T cho anh Linh vay số tiền 20.000.000đ, khi vay viết
giấy tờ vay, anh Linh cầm cố 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Duy
Linh, khi vay T không tính lãi xuất đối với số tiền vay này. Khoảng 15 ngày sau
đó, anh Linh trả T 20.000.000đ và lấy giấy tờ về.
15. Nguyễn Th H, sinh năm 1991; trú tại: S nhà 699, t 7, phường Đ,
thành ph P, tỉnh Vĩnh Phúc;
Ngày 08/10/2019, Đỗ Anh T cho Nguyễn Th H vay số tiền 10.000.000đ và
ngày 10/11/2019 T lại cho ch H vay s tiền 10.000.000đồng lại với lãi xuất
1500đ/1 triệu/1 ngày ( tương đương 55%/ năm) khi vay H viết giấy vay tiền
để lại 01 chứng minh thư nhân n mang tên Nguyễn Th H. Ngày
10/11/2019 Đỗ Anh T lại tiếp tục cho ch H vay s tiền 10.000.000đồng (Mười
triệu đồng) lãi suất 1.500/1 triệu/1 tháng. Hiện Nguyễn Thị H chưa trả tiền gốc
30.000.000đồng cho Đỗ Anh T, T chưa trả lại giấy chứng minh nhân dân cho H.
Hiện tại ch H đã tr cho lãi cho T là 23 tháng với s tiền là 10.700.000đ.
*Đồ vật, tài liệu thu giữ khi kiểm tra, xử lý vật chứng:
- Tạm giữ của b cáo Trần Thành L số tiền 7.973.000đ. Trong đó stiền
7.000.000đ là tiền do T trả tiền trúng lô, đề nghị tịch thu sung công nhà nước. Số
tiền còn lại 973.000đ không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại bị cáo
L nH cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Tạm giữ của Đỗ Anh T tổng s tiền 13.400.000đ, không liên quan đến
hành vi phạm tội, cần tr lại cho b cáo; nH tạm gi để đảm bảo vic thi hành án.
Truy thu sung công qu Nhà nước của b cáo T s tiền b cáo đánh bạc
cùng với b cáo L là 2.125.000đồng;
- Đối với số tiền gốc T cho vay nặng lãi, 08 những người vay chưa trả
cho bị cáo Đỗ Anh T, tổng số tiền 77.000.000đồng cần phải truy thu để sung
công quỹ Nhà nước
- Đối với số tiền gốc 132.000.000đ (Một trăm ba mươi hai triệu đồng),
những người vay đã trả cho bị cáo và s tiền lãi thu tối đa được hưởng theo quy
định tại khoản 1 Điều 468 của B luật dân s 11.490.450đồng, cần phải truy
thu của bị cáo Đỗ Anh T để sung quỹ Nhà nước;
- Đối với số tiền 75.770.089đồng thu lợi bất chính vượt quá quy định mà bị
cáo T đã nhận được của 19 người vay, nay phải tr lại cho h.
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động OPPO F9, vỏ màu xanh đen, n
trong lắp sim số 0966.353.439 sim số 0916.315.836 thu giữ của Trần
Thành L và 01 chiếc điện thoại di động Iphone 8 Plus, vỏ màu đỏ bên trong
có lắp sim số 0914.685.667 thu giữ của Đỗ Anh T. Quá trình điều tra, xác định L
và T có sử dụng vào mục đích nhắn tin mua bán số lô đánh bạc. Do vậy, đề nghị
tịch thu bán sung công Nhà nước.
Đối với 01 Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 19H8008637 mang tên
Đỗ Anh T 01 Giấy chứng nhận đăng xe biển kiểm soát 88H1 -
17
23741, mang tên Nguyễn Ngọc Quân. Quá trình điều tra, xác định anh Nguyễn
Ngọc Quân đã bán lại chiếc xe 88H1 23741 kèm theo giấy tcho Đỗ
Anh T. Nay cần tr cho Đỗ Anh T nH tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Tạm gi của b cáo T 36 tờ Giấy vay tiền (Mua bán), (Cầm đồ), 01 tờ Giấy
bán xe 01 tờ Giấy thuê xe. Quá trình điều tra, xác định giấy tờ giao dịch
cho vay nặng lãi giữa Đỗ Anh T những người vay tiền được chuyển theo hồ
sơ vụ án.
Đối với 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô biển kiểm soát 88H7
0777; 01 Giấy chứng nhận đăng xe biển kiểm soát 88H1 20677, 01
Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 29S6 - 34059, 01 Giấy chứng
nhận đăng xe tô Biển kiểm soát 29Y3 25382, 01 Giấy chứng nhận tốt
nghiệp, mang tên Nguyễn Đá, 06 Giấy chứng minh nhân dân lần lượt mang
tên Trần Thành L, Ngô Xuân H, Nguyễn Thị H, Đàm Văn H, Nguyễn Tiến D,
Trần Ngc T 02 Căn cước công dân mang tên Đặng Văn H Đinh Quang S
. Tất c đưc chuyển sang Chi cc thi hành án dân s ch x lý.
Tại quan điều tra và ti phiên tòa Đỗ Anh T Trần Thành L đã khai
nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số: 90A /CT-VKSPY ngày 10 tháng 11 năm 2021, Viện
kiểm sát nhân dân thành phố P đã truy tố các bị cáo Đỗ Anh T phạm tội: Cho
vay nặng lãi trong giao dịch dân sự” và tội: “Đánh bạc; b cáo Trần Thành L
phạm tội: “Đánh bạc”.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên luận tội đối với các bị cáo: Giữ nguyên quyết
định truy tố như Cáo trạng đối với các bị cáo. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ
phạm tội của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự;
Đề ngh Hội đồng xét x: Áp dụng khoản 1 Điều 201 điểm s, t khoản 1,
khoản 2 Điều 51 của B luật hình s; X phạt b cáo Đỗ Anh T t
100.000.000đồng đến 110.000.000đồng v tội: “Cho vay nặng lãi trong giao
dịch dân s”;
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1,
2 và khoản 5 Điều 65 của B luật hình s; X phạt b cáo Đỗ Anh T t 11 tháng
đến 12 tháng cho hưởng án treo; thời gian thử thách gấp đôi v tội: “Đánh
bạc”;
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản
1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự; Xử phạt b cáo Trần Thành
L t 09 tháng đến 10 tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách gấp đôi v
tội: “Đánh bạc”;
Áp dụng khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự; Phạt bổ sung bị cáo Đ
Anh T Trần Thành L t 10.000.000đồng đến 15.000.000đ để sung công qu
Nhà nước v tội: “Đánh bạc”;
Các b cáo phải nộp án phí hình s sơ thẩm theo quy định của pháp luật;
18
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ
vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng
cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo, người làm chứng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi,
quyết định tố tụng của quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên,
Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy
tố đối với hành vi đánh bạc của các b cáo đã thực hiện đúng vthẩm quyền,
trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật ttụng hình sự. Quá trình điều tra tại
phiên tòa các bị cáo không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết
định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đối với hành
vi đánh bạc đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời nhận tội của các bị cáo là phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ
như lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai của người có quyền lợi,
nghĩa v liên quan, Biên bản làm vic, Kết luận giám định, Biên bản niêm
phong, biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu; Biên bản khám xét, Biên bản kiểm tra
điện thoại di động, Biên bản kết qu x s kiến thiết miền bắc ngày 08/6/2021
cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ vụ án.
Do đó, đủ sở để kết luận: Ngày 08 tháng 6 năm 2021 Đỗ Anh T đã
hành vi đánh bạc ăn tiền với Trần Thành L bằng hình thức mua, bán số với
tổng số tiền phạm tội là: 9.125.000đồng (Chín triệu một trăm hai mươi lăm
nghìn đồng);
Ngoài ra, trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 2019 đến tháng 06 năm
2021 Đỗ Anh T còn hành vi cho 19 người khác vay tiền, lãi suất thấp nhất
109,5%, cao nhất là 182,5%. Với tổng s tiền cho vay là 209.000.000đồng; tổng
tiền lãi là 87.260.539đồng; trong đó lãi hợp pháp 11.490.450đồng, s tiền lãi
thu lợi bất chính là 75.770.089đồng;
Hành vi sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức “đánh s lô, s đề ăn tiền
của bị cáo T b cáo L đã phạm vào tội: “Đánh bạc”, được quy định tại khoản
1 Điều 321 của Bộ luật hình sự khung hình phạt phạt tiền từ 20.000.000đồng
đến 100.000.000đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt từ
06 tháng đến 03 năm.
Đối với b cáo T ngoài hành vi đánh bạc b xét x, b cáo còn cho 19
người vay với lãi suất t 109,5% đến 182,5% diễn ra liên tục trong một thời
gian. Theo quy định tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì: “Lãi
19
suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất
theo thỏa thuận không vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay…”.
Do đó đủ sở khẳng định bcáo Đỗ Anh T phạm tội: “Cho vay lãi
nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật
hình sự năm 2015.
Khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trong giao dịch dân sự cho vay với lãi suất gấp 05 lần
trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lời bất
chính từ 30.000.000đ đến dưới 100.000.000đ thì bị phạt tiền từ 50.000.000đ
đến 200.000.000đ hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm”.
Ngoài ra b cáo Đ Anh T còn cho 15 người khác vay tiền, người
không lãi suất, người vay với mức lãi suất thấp hơn 05 lần mức lãi suất
quy định tại khoản 1 Điều 468 của B luật dân s. Nên chưa cấu thành tội cho
vay lãi nặng trong giao dịchn s.
[4] Xét nhân thân, tính chất, mức độ, vai trò của bị cáo cũng như các tình
tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:
Về nhân thân các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; tại cơ quan điều tra cũng
như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm
tội của mình. B cáo T có b tham gia kháng chiến đưc tặng Huy chương kháng
chiến s v vang; còn b cáo L thời gian tham gia b đội đưc tặng chiến sĩ
giỏi gia đình b cáo 03 liên tục tặng danh hiệu gia đình văn hóa. Nên 02 b
cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều
51 Bộ luật hình sự. B cáo Trần Thành L phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít
nghiêm trọng, b cáo Đỗ Anh T còn có hành vi tích cực giúp đỡ cơ quan điều tra
phát hiện hành vi phạm tội. Nên b cáo L đưc áp dụng tình tiết giảm nh trách
nhiệm hình s quy định tại điểm i, b cáo T đưc áp dụng tình tiết giảm nh
điểm t Điều 51 của B luật hình s. Hai b cáo không bị áp dụng tình tiết tăng
nặng trách nhiêm hình sự nào
Xét vai trò, vị trí và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Trong vụ án “Đánh bạc, b cáo Đỗ Anh T giữ vai trò là người ghi bán s
; bcáo Trần Thành L người tham gia đánh bạc mua số với bị cáo T. n
mức hình phạt áp dụng đối với b cáo T cao hơn với b cáo L là phù hợp.
Xét thấy, hai bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Nên Hội đồng xét xử thấy, cho các bị cáo
nhận đưc sự khoan H của pháp luật đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 Bộ
luật hình sự v tội: “Đánh bạc. Vì vậy, không cần thiết bắt hai bị cáo phải chấp
hành hình phạt tại trại giam, cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử
thách và giao cho chính quyền địa phương nơi thường trú giám sát, giáo dục với
mức án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đđể răn đe, phòng ngừa
20
chung cũng như tạo điều kiện giúp bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành công dân có
ích cho xã hội.
Đối với b cáo Đỗ Anh T trong tội: Cho vay nặng lãi trong giao dịchn
sự”, với các tình tiết giảm nh trách nhiệm hình s như đã nêu trên, căn c
xem xét cho b cáo mức hình phạt là phạt tiền như đề ngh của đại diện Viện
kiểm sát nhân dân thành ph P.
[5] Đối với tội: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” của b cáo Đ
Anh T. Theo quy định tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật n sự năm 2015 thì:
“Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp có thỏa thuận về lãi suất thì lãi
suất theo thỏa thuận không vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay…”
Giao dịch cho vay của bị cáo với 19 người vay với lãi suất gấp hơn 5 lần
mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự giao dịch trái
pháp luật. Nên toàn bộ số tiền gốc cho vay là phương tiện phạm tội và số tiền lãi
trong hạn quy định của pháp luật thu lời bất chính cần phải truy thu của b
cáo để sung quỹ Nhà Nước. Số tiền lãi vượt quá quy định buộc bị cáo phải trả lại
cho người vay. C th:
Truy thu sung công quỹ Nhà nước của bị cáo là 143. 490.450đồng, trong đó
s tiền gốc người vay đã tr 132.000.000đồng tiền lãi trong hạn bị cáo
phải truy thu sung công qu Nhà nước 11.490.450đồng;
Buộc Đỗ Anh T phải trả số tiền lãi vượt quá quy định cho 19 người
quyền lợi, nghĩa vliên quan tổng số tiền: 75.770.089đồng gồm: Trả cho anh
Nguyễn Văn N số tiền 3.624.658đ; anh Đàm Văn H số tiền 7.767.113đ; anh Đỗ
Thành L số tiền 404.110đ; Trần Thành L số tiền 8.058.905đ;Nguyễn Mạnh D số
tiền 4.018.350đ; Đỗ Thanh B số tiền 828.493đ; Đặng Văn H số tiền 1.068.492đ;
Chu Văn L số tiền 4.119.444; Trần Văn N số tiền 7.493.699đ; Vũ Đình Q số tiền
8.459.590đ; Ngô Xuân H số tiền 2.024.796đ; Đinh Quang S số tiền 1.664.521đ;
Nguyễn Đ số tiền 16.027.380đ; Lâm Văn L số tiền 3.624.653đ;Trần Hồng
Viết H số tiền 1.335.615đ; Dương Xuân T số tiền 2.489.039đ; Trần Ngọc T số
tiền 1.425.615đ; Nguyễn Tiến D số tiền 667.808đ và Tuấn A số tiền
667.808đ.
Truy thu của 08 người quyền lợi nghĩa vụ liên quan (người vay) sung
quỹ Nhà nước số tiền vay nặng lãi chưa trả cho bị cáo Đỗ Anh T; tổng
77.000.000đồng gồm: Đàm Văn H phải nộp 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng);
Nguyễn Mạnh D phải nộp 5.000.000đ (Năm triệu đồng); Đặng Văn H phải nộp
2.000.000đ (Hai triệu đồng); Trần Văn N phải nộp 15.000.000đ; Ngô Xuân H
phải nộp 5.000.000đ (Năm triệu đồng); Dương Xuân T phải nộp 20.000.000đ
(Hai mươi triệu đồng); Trần Ngọc T phải nộp 5.000.000đ (Năm triệu đồng)
Nguyễn Tiến D phải nộp 10.000.000đ (Mười triệu đồng).
[6] Đối với s tiền những người vay chưa tr cho b cáo T, nay b cáo T
không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét x không xem xét giải quyết.
21
[7] Về xử lý vật chứng:
- Tạm giữ của b cáo Trần Thành L số tiền 7.973.000đ. Trong đó làm s
tiền 7.000.000đ tiền do T trả tiền trúng lô, đề nghị tịch thu sung công nhà
nước. Stiền còn lại 973.000đ không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả
lại bị cáo L nH cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Truy thu xung công qu Nhà nước của b cáo T s tiền đánh bạc
2.125.000đồng;
- Tạm giữ của Đỗ Anh T tổng s tiền 13.400.000đồng, không liên
quan đến hành vi phạm ti tr cho b cáo; nhưng tạm giữ để đảm bảo vic thi
hành án.
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động OPPO F9, bên trong lắp sim số
0966.353.439 sim số 0916.315.836 thu giữ của bị cáo Trần Thành L 01
chiếc điện thoại di động Iphone 8 Plus, vỏ màu đỏ bên trong lắp sim số
0914.685.667 thu giữ của bị cáo Đỗ Anh T. Quá trình điều tra, xác định L T
sử dụng vào mục đích nhắn tin mua bán số đánh bạc. Do vậy, đnghị tịch
thu bán sung công Nhà nước.
Đối với 01 Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 19H8008637 mang tên
Đỗ Anh T 01 Giấy chứng nhận đăng xe biển kiểm soát 88H1 -
23741, mang tên Nguyễn Ngọc Quân. Quá trình điều tra, xác định anh Nguyễn
Ngọc Quân đã bán lại chiếc xe 88H1 23741 kèm theo giấy tcho Đỗ
Anh T. Nay cần tr cho Đỗ Anh T nhưng tiếp tục tạm giđể đảm bảo thi hành
án.
Tạm gi của b cáo T 36 tờ Giấy vay tiền (Mua bán), (Cầm đồ), 01 tờ Giấy
bán xe 01 tờ Giấy thuê xe. Quá trình điều tra, xác định giấy tờ giao dịch
cho vay nặng lãi giữa Đỗ Anh T những người vay tiền được chuyển theo hồ
sơ vụ án.
Đối với 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô biển kiểm soát 88H7
0777, mang tên Nguyễn Thị Khánh Linh. Quá trình điều tra, xác định giấy tờ
trên của anh Đình Q đã sử dụng để cầm cố khi vay tiền của Đỗ Anh T.
Nên trả lại cho anh Vũ Đình Q là có căn cứ.
Đối với 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 88H1
20677, mang tên Dương Thị Thanh Tâm và 01 Giấy chứng minh nhân dân mang
tên Trần Ngọc T. Quá trình điều tra, xác định giấy tờ trên của anh Trần Ngọc
T, đã sử dụng để cầm cố khi vay tiền của Đỗ Anh T. Nên tr cho anh Trần Ngọc
T là có căn cứ.
Đối với 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe biển kiểm soát 29S6 -
34059, mang tên Nguyễn Ngọc Ban. Quá trình điều tra, xác định giấy tờ trên
của anh Nguyễn Mạnh D, đã sử dụng để cầm cố khi vay tiền của Đỗ Anh T. n
trả lại cho anh Nguyễn Mạnh D là có căn cứ .
22
Đối với 01 Giấy chứng nhận đăng xe biển kiểm soát 29Y3 -
25382, mang tên Nguyễn Thị N. Quá trình điều tra, xác định giấy tờ trên của
anh Nguyễn Văn N đã sử dụng để cầm cố khi vay tiền của Đỗ Anh T. n trả lại
cho anh Nguyễn Văn N là có căn cứ.
Đối với 01 Giấy chứng nhận tốt nghiệp, mang tên Nguyễn Đ. Quá trình
điều tra, xác định giấy tờ trên của anh anh Nguyễn Đ, đã sử dụng để cầm
cố khi vay tiền của Đỗ Anh T. Nên cần trả lại cho anh Nguyễn Đ căn
cứ.
Đối với 05 Giấy chứng minh nhân dân lần lượt mang tên: Trần Thành L,
Ngô Xuân H, Nguyễn Thị H, Đàm Văn H Nguyễn Tiến D. Quá trình điều tra,
xác định, 05 Giấy chứng minh nhân dân nên trên đã sử dụng để cầm cố khi vay
tiền của Đỗ Anh T. Do vậy, cần trlại cho anh L, anh H, chị H, anh H và anh D
là có căn cứ.
Đối với 02 Căn cước công dân mang tên Đặng Văn H Đinh Quang S .
Quá tnh điều tra, xác định đều đã sử dụng để cầm cố khi vay tiền của Đỗ Anh
T, nên cần trả lại 02 Căn cước công dân cho anh H và anh S là có căn cứ.
[8] Về hình phạt bổ sung:
Đối với tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, Hội đồng xét xử
thấy bị cáo T lao động tự do không nghề nghiệp ổn định, không xác định
được mức thu nhập ổn định hàng tháng; nên không áp dụng hình phạt b sung là
phù hợp.
Đối với tội: “Đánh bạc”, các bị cáo đánh bạc sát phạt nhau ăn thua bằng
tiền, nên cần phải áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với hai b cáo t
10.000.000đ đến 15.000.000đ để sung công quỹ Nhà nước như đề ngh của Viện
kiểm sát là phù hợp.
[9] Về án phí thẩm: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự
sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố b cáo Đỗ Anh T phạm tội: “Cho vay nặng lãi trong giao dịch
dân sự” và tội: “Đánh bạc;
Tuyên bố b cáo Trần Thành L phạm tội: “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 của B
luật hình s; X phạt b cáo Đỗ Anh T 110.000.000đồng (Một trăm mười triệu
đồng) v tội: Cho vay nặng lãi trong giao dịch dân s”;
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản
1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự; X phạt b cáo Đỗ Anh T 01
23
(Một) năm v tội: “Đánh bạc, cho hưởng án treo, thời hạn th thách 02
(Hai) năm. Thời hạn th thách tính t ngày tuyên án sơ thẩm;
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản
1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự; Xphạt b cáo Trần Thành
L 10 (Mười) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian th thách là 01 (Một) năm 08
(Tám) tháng. Thời hạn th thách tính t ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đỗ Anh T Trần Thành L cho Uỷ ban nhân dân phường X,
thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được ởng án treo thay đổi nơi trú thì thực hiện
theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu các b cáo được hưởng án treo cố ý vi
phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa
án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù
của bản án đã cho hưởng án treo.
- Áp dụng khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự; Phạt bổ sung bcáo Đỗ
Anh T 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) để sung công qu Nhà nước;
p dụng khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự; Phạt bổ sung bị cáo Trần
Thành L 10.000.000đ (Mười triệu đồng) để sung công quỹ Nhà nước.
2. Về xvật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự và Điều 106
Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, sung công quỹ N nước số tiền đánh bạc của b cáo L
7000.000đồng (Bảy triệu đồng).
Truy thu, sung công qu Nhà nước của b cáo Đỗ Anh T s tiền đánh bạc
là 2.125.000đồng (Hai triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng);
Trả lại cho bị cáo Trần Thành L số tiền 973.000đồng (Chín trăm bảy
mươi ba nghìn đồng) và 01 Giấy chứng minh nhân dân mang tên Trần Thành L;
nH tạm gi để đảm bảo vic thi hành án;
Trả lại cho bị cáo Đỗ Anh T số tiền 13.400.000đồng (Mười ba bốn trăm
nghìn đồng), 01 Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 19H8008637 mang tên
Đỗ Anh T 01 Giấy chứng nhận đăng xe biển kiểm soát 88H1 -
23741, mang tên Nguyễn Ngọc Q; nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành
án.
- Tịch thu, bán sung công quỹ Nhà nước của b cáo Đỗ Anh T 01 chiếc
điện thoại di động Iphone 8 Plus, có vỏ màu đỏ bên trong có lắp sim số
0914.685.667 và b cáo Trần Thành L 01 chiếc điện thoại di động OPPO F9,
vỏ màu xanh đen bên trong lắp sim số 0966.353.439 sim số
0916.315.836.
24
Truy thu, sung công quỹ Nhà nước của bị cáo Đỗ Anh T số tiền 143.
490.450đồng ( Một trăm bốn mươi ba triệu bốn trăm chín mươi nghìn đồng bốn
trăm lăm mươi đồng);
Truy thu của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (người vay) nộp
sung công quỹ Nhà nước tổng số tiền 77.000.000đồng (Bảy mươi bảy triệu
đồng) gồm: Đàm n H phải nộp 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng); Nguyễn
Mạnh D phải nộp 5.000.000đ (Năm triệu đồng); Đặng Văn H phải nộp
2.000.000đ (Hai triệu đồng); Trần Văn N phải nộp 15.000.000đ (Mười lăm triệu
đồng); Ngô Xuân H phải nộp 5.000.000đ (Năm triệu đồng); Dương Xuân T phải
nộp 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng); Trần Ngọc T phải nộp 5.000.000đ
(Năm triệu đồng) và Nguyễn Tiến D phải nộp 10.000.000đ (Mười triệu đồng);
Buộc b cáo Đỗ Anh T phải trả số tiền lãi vượt quá quy định cho 19 người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (người vay) tổng số tiền: 75.770.089đ đồng
gồm: Trả cho anh Nguyễn Văn N số tiền 3.624.658đ, anh Đàm Văn H số tiền
7.767.113đ; anh Đỗ Thành L s tiền 404.110đ; Trần Thành L số tiền
8.058.905đ; anh Nguyễn Mạnh D số tiền 4.018.350đ; Đỗ Thanh B số tiền
828.493đ; Đặng Văn H số tiền 1.068.492đ; Chu Văn L số tiền 4.119.444đ; Trần
Văn N số tiền 7.493.699đ; Đình Q số tiền 8.459.590đ; Ngô Xuân H số tiền
2.024.796đ; Đinh Quang S số tiền 1.664.521đ; Nguyễn Đ số tiền
16.027.380đ; Lâm Văn L số tiền 3.624.653đ; Trần Hồng Viết H số tiền
1.335.615đ; Dương Xuân T số tiền 2.489.039đ; Trần Ngọc T số tiền 1.425.615đ;
Nguyễn Tiến D số tiền 667.808đ và Tuấn A số tiền 667.808đ.
-Trả lại cho anh Đình Q 01 Giấy chứng nhận đăng xe tô biển
kiểm soát 88H7 – 0777, mang tên Nguyễn Thị Khánh L.
-Trả lại cho anh Trần Ngọc T 01 Giấy chứng nhận đăng xe biển
kiểm soát 88H1 20677, mang tên Dương Thị Thanh T 01 Giấy chứng minh
nhân dân mang tên Trần Ngọc T.
- Trả lại anh Nguyễn Mạnh D 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển
kiểm soát 29S6 - 34059, mang tên Nguyễn Ngọc B.
- Trả lại anh Nguyễn Văn N 01 Giấy chứng nhận đăng xe tô biển
kiểm soát 29Y3 - 25382, mang tên Nguyễn Thị N.
- Trả lại anh Nguyễn Đ 01 Giấy chứng nhận tốt nghiệp, mang tên
Nguyễn Sĩ Đ. Quá trình điều tra, xác định giấy tờ trên của anh anh Nguyễn Sĩ
Đ;
- Trả lại Ngô Xuân H 01 Giấy chứng minh nhân dân mang tên Ngô Xuân
H;
- Trả lại Nguyễn Thị H 01 Giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn
Thị H;
25
- Trả lại Đàm Văn H 01 Giấy chứng minh nhân dân mang tên Đàm Văn
H;
- Trả lại Nguyễn Tiến D 01 Giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn
Tiến D;
- Trả lại anh Đặng n H 01 thẻ n cước công dân mang tên Đặng Văn
H;
- Trả lại anh Đinh Quang S 01 thẻ n cước công dân mang tên Đinh
Quang S;
(Tất cả vật chứng số tiền nêu trên đặc điểm như biên bản giao nhận
vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P lập ngày 25 tháng 3 năm
2022)
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự
khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12
năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản sử dụng án phí
lệ phí Tòa án: Bị cáo Đỗ Anh T và Trần Thành L mỗi b cáo phải chịu
200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có mặt có quyền kháng
cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
vắng mặt quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc;
- Vin kim sát nhân dân thành ph P;
- Cơ quan THA hình s Công an thành ph P;
- Thi hành án dân s thành ph P;
- S Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc ;
- UBND phường X;
-Những người tham gia t tng;
- u h sơ, Văn phòng.
T/M HI ĐNG XÉT X SƠ THẨM
THM PHÁN - CH TA PHIÊN TOÀ
Đã ký
LƯU THỊ THÚY
Tải về
Bản án số 33/2022/HS-ST Bản án số 33/2022/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất