Bản án số 33/2022/HS-ST ngày 30/09/2022 của TAND huyện Minh Long, tỉnh Quảng Ngãi về tội trộm cắp, lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 33/2022/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 33/2022/HS-ST ngày 30/09/2022 của TAND huyện Minh Long, tỉnh Quảng Ngãi về tội trộm cắp, lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Minh Long (TAND tỉnh Quảng Ngãi)
Số hiệu: 33/2022/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/09/2022
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Q
TỈNH QUẢNG NGÃI
Bản án số: 33/2022/HS-ST
Ngày 30-9-2022
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Chí Ngãi.
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Ngô Văn Lâm;
2. Ông Huỳnh Tấn Thương.
- Thư phiên toà: Ông Trần Ngọc Anh - Thư Tán nhân dân huyện Q,
tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, tỉnh Quảng Ngãi tham gia
phiên toà: Bà Cao Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2022, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh
Quảng Ngãi. Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Quảng Ngãi xét xử thẩm công khai
vụ án hình sự thụ số: 33/2022/TLST- HS, ngày 29 tháng 8 năm 2022 theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2022 đối
với bị cáo:
Họ tên: Văn T; tên gọi khác: Không có, Sinh ngày 12/01/1997, tại:
huyện Q, tỉnh Quảng Ngãi;
Nơi trú: Thôn E, R, huyện Q, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Không ;
trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch:
Việt Nam; con ông Văn B, sinh năm 1969 Bùi Thị Mỹ L, sinh năm 1977;
vợ, con: Chưa có.Tiền án, tiền sự: không có.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 02/6/2022 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
1. Ông Phạm Ngọc T1, sinh năm 1990. (Vắng mặt).
Trú tại: Tổ dân phố 6, thị trấn Y, huyện U, tỉnh Quảng Ngãi.
2. Bà Phạm Thị L1, sinh năm 1969. (Có mặt).
Trú tại: Thôn E, xã R, huyện Q, tỉnh Quảng Ngãi.
2
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Lương Thị Mỹ D, sinh năm 1993. (Có mặt).
Trú tại: Thôn E, xã R, huyện Q, tỉnh Quảng Ngãi.
2. Ông Võ Quốc C, sinh năm 1989. (Vắng mặt).
Trú tại: Tổ dân phố A, thị trấn S, huyện Q, tỉnh Quảng Ngãi.
3. Ông Lê Văn D, sinh năm 1987. (Vắng mặt).
Trú tại: Ấp H, xã P, huyện M, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 11/2017, bị cáo Văn T, tìm kiếm trên mạng hội
FACEBOOK thấy chủ trang tên “Đỗ Dũng” đăng tin bán chiếc xe máy Exciter
150 màu xanh, biển số 43…(không nhớ đầy đủ chữ, số xe) với giá tiền
28.000.000 đồng, cùng số điện thoại nên bị cáo liên lạc mua xe để đi làm tại thành
phố Đà Nẵng. Bị cáo hẹn gặp ông Dũng (Theo tả, khoảng hơn 40 tuổi, cao
khoảng 1m70, trạng người trung bình, tóc cắt ngắn) bến xe trung tâm Đà Nẵng để
xem kiểm tra tình trạng xe; sau đó, hai bên thống nhất mua bán xe mô tô. Ông Dũng
viết giấy bán xe cho bị cáo, bị cáo hỏi giấy txe thì ông Dũng nói xe mua trả góp
nên chưa giấy tờ đầy đủ; ông Dũng hỏi bị cáo đâu, bị cáo trả lời tỉnh Quảng
Ngãi đến thành phố Đà Nẵng làm việc; ông Dũng nói sẽ làm giấy tờ xe, biển số xe
cho bị cáo để thuận tiện việc đi lại, bị cáo đồng ý. Sau đó, bị cáo cung cấp thông tin
họ tên, năm sinh, địa chỉ, chứng minh nhân dân cho ông Dũng đlàm giấy tờ xe,
biển số xe, bị cáo đưa số tiền 28.000.000 đồng đi về. Khoảng 01 tuần sau, ông
Dũng gặp bị cáo đưa cho bị cáo giấy chứng nhận đăng xe mô đứng tên của
bị cáo; biển số xe 76F1-396.86 lúc này bị cáo biết giấy tờ xe biển số xe 76F1-
396.86 giả. Sau đó, bị cáo gắn biển số 76F1-396.86 vào xe để sử dụng, còn biển
số xe 43… bị cáo bỏ không sử dụng nữa. Riêng giấy tờ mua bán xe, bị cáo đã làm
thất lạc trong thời gian tại thành phố Đà Nẵng, còn giấy chứng nhận đăng xe
mô tô đứng tên Lê Văn T thì bị cáo đã làm mất vào tháng 8/2021.
cần tiền nên vào ngày 24/12/2021, bị cáo dùng Facebook của mình tên K
đăng tin trên trang “Hội mua bán xe máy Quảng Ngãi” thông tin bán xe, hình ảnh xe
mô tô gắn biển số 76F1-396.86, số điện thoại liên hệ, giá bán xe là 11.000.000 đồng.
Tối ngày 24/12/2021, anh Phạm Ngọc T1 dùng Facebook tên Nnhắn tin trao đổi
với bị cáo về việc mua bán xe mô trên. Quá trình trao đổi, anh T1 hỏi: Xe chính
chủ hay không?”; bị cáo trả lời: Xe chính chủ, do bị cáo đứng tên, xe mất giấy tờ.
Anh T1 tin tưởng nên đồng ý mua xe.
Khoảng 09 giờ ngày 29/12/2021, anh T1 gặp bị cáo tại quán phê Xanh
V, huyện Q. Tại đây, sau khi kiểm tra xe thì bị cáo viết giấy bán xe, đơn trình báo
mất giấy tờ xe rồi cùng nhau đi đến UBND xã R và Công an R, huyện Q để công
3
chứng, xác nhận các giấy tờ này. Sau khi làm xong các giấy tờ, anh T1 đưa cho bị
cáo số tiền 9.500.000 đồng tại UBND R. Đến chiều ngày 31/12/2021, anh T1
đem xe đến Đội Cảnh sát giao thông - trật tự công an huyện Q làm thtục sang tên,
quá trình kiểm tra phát hiện biển số xe 76F1-396.86 giả; xe không phải do bị cáo
Văn T đứng tên người đứng tên chủ sở hữu xe anh Văn D (sinh
năm 1987, trú tại thôn X, xã Q1, huyện M, tỉnh An Giang; hiện ông D đã chuyển hộ
khẩu đến p H, P, huyện M, tỉnh An Giang) biển số xe đăng 67G1-
396.89. Sau đó, anh T1 làm đơn tố giác gửi Cơ quan công an giải quyết.
Kết luận giám định số: 316/KL-KTHS, ngày 06/5/2022, Phòng kỹ thuật hình
sự Công an tỉnh Quảng Ngãi kết luận:
- Máy điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime, màu xám đen, số seri
R58J36TNNKM, số Imei1: 357625085632555, số Imei2: 357651085632551, bên
trong thân máy gắn 01 thẻ sim Vinaphone dãy số: 89840200010928665512,
dữ liệu trích xuất trong khoảng thời gian đến hết ngày 24/12/2021, 25/12/2021,
26/12/2021, 28/12/2021, xác định:
- Có: 48 tin nhắn đi, 62 tin nhắn đến, không tìm thấy dữ liệu cuộc gọi trong
ứng dụng Facebook, Messenger giữa chủ tài khoản có tên Kvới chủ tài khoản
tên “N”.
- Không xác định được số thuê bao của thẻ sim, thẻ sim đã bị khóa. (Bút lục
109-117)
Kết luận giám định số: 229/KL-KTHS, ngày 18/3/2022, Phòng kỹ thuật hình
sự Công an tỉnh Quảng Ngãi kết luận:
- Xe yêu cầu giám định nhãn hiệu YAMAHA, màu sơn vàng-đen, số
loại Exciter 150, mang biển kiểm soát 76F1- 396.86.
- Hàng chữ số đóng chìm trên khung xe: RLCUG0610HY422875 124810
không phát hiện sửa chữa, tẩy xóa. Đây là hàng chữ số nguyên thủy.
- Hàng chữ số đóng chìm trên thân máy: G3D4E-442788 không phát hiện sửa
chữa, tẩy xóa. Đây là hàng chữ số nguyên thủy.
- Biển kiểm soát xe mô tô gửi giám định là giả. (Bút lục: 121)
Ngoài ra, trong thời gian đang bị quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q
điều tra đối với vụ án “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày
11/5/2022; sau khi hớt tóc xong trên đường điều khiển xe đạp điện đi về nhà thôn
E, R, Q bcáo thấy xe biển kiểm soát 76F1- 09530, hiệu Honda, loại xe
Airblade, màu vàng đen đang dựng trên lề đường trước nhà ông Nguyễn Ba thôn
E, xã R, huyện Q, trên xe có chìa khóa nên bị cáo nảy sinh ý định lấy trộm đem cầm
cố lấy tiền trả nợ; bị cáo để xe đạp điện tại khu vực bãi đất trống cách khoảng 300m
rồi đi bộ đến vị trí chiếc xe tô, mkhóa khởi động điều khiển xe đi theo
hướng đến hiệu cầm đồ “HQ” tổ dân phố Phú Vinh Trung, thị trấn S (do ông
Quốc C làm chủ) để cầm xe tô lấy tiền. Trước khi vào hiệu cầm đồ bị cáo mở
cốp xe thấy có giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 76F1-09530, bảo hiểm xe,
thẻ bảo hiểm y tế đều đứng tên Lương Thị Mỹ D 02 tấm ảnh thẻ. Sau đó, bị cáo
4
cầm các giấy tờ vào gặp ông C nói cầm cố xe mô tô; ông C hỏi: chứng minh
nhân dân của chủ xe không?”, bị cáo nói: “Không , ông C hỏi: Còn giấy tờ nào
khác nữa không?”, bị cáo đưa thẻ bảo hiểm y tế đứng tên Lương Thị Mỹ D, sau khi
xem xong ông C đưa lại giấy tcho bị cáo hỏi: Xe này của ai?”, bị cáo trả lời:
Xe của chị bị cáo, cần tiền nên đi cầm; ông C nói bị cáo đưa chứng minh nhân dân
của bị cáo cho ông C xem thỏa thuận cầm cố chiếc xe số tiền 12.000.000
đồng (Mười hai triệu đồng), số tiền này bị cáo sử dụng vào việc trả nợ hết.
Ngày 03/6/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Q kết
luận: Tài sản (một xe mô biển số 76F1-09530, hiệu Honda, loại xe Airblade, màu
vàng đen, tình trạng đã qua sử dụng). Tổng giá trị tài sản tại thời điểm bị xâm phạm
là 14.000.000đ (Mười bốn triệu đồng). (BL 161).
Cáo trạng số 17/CT-VKS-NH, ngày 26/8/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân
huyện Q, tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo
khoản 1 Điều 174 và tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung Bản cáo trạng của Viện
kiểm sát nhân dân huyện Q đã truy tố, thừa nhận hành vi lừa đảo và trộm cắp tài sản
vì vụ lợi.
Đại diện Viện kiểm sát giquyền công tố tại phiên tòa trình bày luận tội; giữ
nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Cáo
trạng đã công bố; đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên xử bị cáo về tội Lừa đảo chiếm
đoạt tài sản” và “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 174, khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2
Điều 51; Điều 38; Điều 55 của Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt cáo t06 đến 09
tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và từ 09 đến 12 tháng tội Trộm cắp
tài sản”. Tổng hợp hình phạt từ 15 đến 21 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;
Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bcáo không tranh luận về tội danh khung hình phạt đối với luận tội của
Đại diện Viện kiển sát, nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm
nhẹ hình phạt cho bị cáo để sửa chữa lỗi lầm đã thành khẩn khai nhận toàn bộ
hành vi phạm tội của mình, bồi thường thiệt hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm
tra, xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều
tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra,
truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố
tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không
người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành
5
tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình
điều tra, phù hợp với vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định các tài liệu chứng
cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Bị cáo Lê Văn T là người đnăng lực trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo
nhận thức được việc xâm N sản của người khác vi phạm pháp luật nhưng do lười
biếng lao động muốn tiền để tiêu xài nhân nên đưa ra thông tin gian dối,
không đúng sự thật bán xe mô tô Exciter gắn biển số giả 76F1-396.86 để chiếm đoạt
của anh Phạm Ngọc T1 số tiền 9.500.000 đồng (Chín triệu năm trăm nghìn đồng)
vào ngày 29/12/2021.
Đến ngày 11/5/2022, bị cáo T lén lút chiếm đoạt chiếc xe mô tô biển kiểm soát
76F1-095.30 của Phạm Thị L1 (chiếc xe do chị Lương Thị Mỹ D cho L1)
giá trị 14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng).
Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người
khác, ảnh hưởng đến nh hình an ninh trật tự địa phương khách thể được pháp
luật hình sbảo vệ, nên đủ sở truy cứu trách nhiệm hình sự vtội Lừa đảo
chiếm đoạt tài sản” của anh Phạm Ngọc T1 với số tiền 9.500.000 đồng “Trộm
cắp tài sản” của của bà Phạm Thị L1 với số tiền là 14.000.000 đồng.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, truy tố bcáo về tội “Lừa đảo
chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 tội Trộm cắp tài sản” quy
định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sđúng người, đúng tội, đúng pháp
luật.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng:
Trong qtrình điều tra tại phiên tòa, bcáo đã thành khẩn khai báo; tự
nguyện bồi thường thiệt hại, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt đây là tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2
Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51, không tình
tiết tăng nặng; bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên buộc bị cáo phải chấp hành
hình phạt tại sở giam giữ trong một thời hạn nhất định với mức trung bình của
khung hình phạt được áp dụng đối với từng tội mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo
thành công dân tốt cho xã hội phù hợp quy định Điều 38, Điều 55 Bộ luật hình sự.
Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không điều kiện kinh tế nên không áp dụng
hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Trong quá trình điều tra cơ quan công an đã xác định:
6
- Đối với việc bị cáo mua xe biển số 43 (không c định được các chữ,
số tiếp theo), nhãn hiệu Yamaha, màu xanh, loại Exciter, số y G3D4E442788,
số khung RLCUG0610HY422875. Bị cáo khai mua xe trên của người đàn
ông tên “Dũng” (không xác định được họ tên, địa chỉ c thể) không nhngày
vào giữa tháng 11/2017 tại bến xe trung tâm thành phố Đà Nẵng với s tiền
28.000.000 đồng. Khi mua bán xe, ban đầu bcáo nghĩ xe y của ông Dũng bán
cho bị cáo là hợp pháp; nhưng khi nhận giấy chứng nhận đăng xe mang
họ n của bị cáo, biển sxe 76F1-396.86 đăng tại tỉnh Quảng Ngãi thì bị cáo
biết giấy tờ xe, biển số xe giả. Tuy nhiên, hiện chưa xác định được lai lịch của
người tên “Dũngnên chưa thể làm nguồn gốc xe đã bán cho bị cáo phải
do người khác phạm tội hay không. Do đó, chưa đủ căn c xử lý trách
nhiệm hình sđối với bị cáo về hành vi chứa chấp hoặc tiêu thtài sản do người
khác phạm tội có, quy định tại Điều 323 Bộ luật nh sự, khi nào đủ căn c
sẽ tiến hành xử lý sau.
- Đối với việc bị cáo sdụng giấy tờ xe (giấy chứng nhận đăng xe tô)
đứng tên Văn T biển sxe 76F1-396.86 giả. Quá trình điều tra, bị cáo khai
nhận: giấy chứng nhận đăng xe đứng n Văn T và biển số xe 76F1-
396.86 do người đàn ông tên “Dũng” làm đưa cho bcáo trong tháng 11/2017
bị cáo đã sử dụng giấy tờ, biển số xe trên mục đích để thuận tiện cho việc tham gia
giao thông từ giữa tháng 11/2017 đến ngày 29/12/2021 sau khi mua xe của ông
“Dũng” thì bcáo chưa sử dụng giấy đăng xe biển sxe 76F1-396.86
giả này thực hiện hành vi trái pháp luật. Ngoài ra, hiện chưa có tài liệu chứng minh
ông Dũng hay người khác trực tiếp m giả giấy chứng nhận đăng xe
đứng tên Văn T biển số xe 76F1-396.86. Bị cáo đãm mất giấy chứng nhận
đăng xe mô tô nên không thu giữ được biển số xe 76F1-396.86 không phải là
giấy tờ, tài liệu của quan tổ chức. Do đó, chưa đủn cứ xử lý trách nhiệm hình
sự đối với bị cáo về hành vi sdụng tài liệu giả của quan, tổ chức, quy định tại
Điều 341 Bộ luật Hình sự, khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
- Đối với nguồn gốc xe nhãn hiệu Yamaha, màu ng đen, loại Exciter,
số y G3D4E442788, số khung RLCUG0610HY422875 biển số xe 76F1-
396.86 giả. Trên cơ si liệu điều tra, kết qugiám định số khung, số máy, kết
quả tra cứu vật chứng, xác định: Ông Văn D (sinh năm 1987, ttại thôn X,
Q1, huyện M, tỉnh An Giang; hiện đã chuyển hộ khẩu đến Ấp H, xã P, huyện M,
tỉnh An Giang) chủ sở hữu xe tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu xanh,
số máy G3D4E442788, số khung RLCUG0610HY422875 và biển số xe đăng
67G1-396.89. Xe này ông D mua vào tháng 3/2017 và m thủ tục đăng giấy tờ
vào ngày 24/3/2017 tại ng an huyện M, tỉnh An Giang. Đến tháng 5/2017 trong
khi đi làm thuê tại Tiến Thành, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tbị
mất. Cơ quan CSĐT Công an huyện Q đã thông báo cho Công an thành phố Phan
Thiết, tỉnh Bình Thuận để giải quyết theo quy định.
- Đối với ông Quốc C (chủ hiệu cầm đồ “HQ”) quá trình cầm cố xe
biển kiểm soát 76F1-09530, nhãn hiệu HONDA, loại xe AIRBLADE, màu vàng -
7
đen của bị cáo thì bcáo i xe của chị bị cáo và đưa c giấy tờ liên quan của chủ
xe nên tin thật hoàn toàn không biết việc xe tô y do bcáo chiếm đoạt
của người khác đem đi cầm cố lấy tiền. Đồng thời, qtrình điều tra, nội dung bị
cáo khai nhận việc đem xe biển kiểm soát 76F1-09530 đến hiệu cầm đồ
“HQ” để cầm clấy tiền phù hợp nội dung ông Quốc C khai báo. Do đó,
quan CSĐT không xem t xtrách nhiệm hình sự đối với ông Quốc C về
hành vi “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội quy định
tại Điều 323 Bộ luật Hình sự là p hợp.
[5] Về dân sự: Bị hại Phạm Ngc T1 đã nhận tin bồi tờng, Phạm Thị L1
đã nhn lại tài sản bị trộm cắp, ngưi có quyền và nghĩa vụ liên quan ông Quốc C
đã nhn tin bồi tờng không yêu cầu bồi thường về dân s.
Không có ai có yêu cầu gì nên không xét.
[6] Về xử vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ
luật Tố tụng hình sự. quan CSĐT đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu theo quy định
nên không xét.
- 01 (một) xe nhãn hiệu Yamaha, màu vàng đen, loại Exciter, số máy
G3D4E442788, số khung RLCUG0610HY422875. Giao quan Điều tra xử
theo quy định.
- 01 (một) biển số xe 76F1-39686. Tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 Prime, màu xám đen, số
seri: R58J36TNNKM, sImei 1: 357625085632555, số Imei 2: 357651085632551,
bên trong thân máy gắn 01 thẻ sim Vinaphone dãy số:
89840200010928665512. Tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- 01 (một) áo thun cổ, ngắn tay màu hồng nhạt; 01 (một) quần Jean ống dài,
màu trắng xanh; 01 (một) đôi giầy kiểu thể thao loại dây, màu đen trắng. Hoàn
trả cho bị cáo.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31 tháng 8 năm 2022 giữa quan
Điều tra Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Q.
[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa về tội
danh, về mức nh phạt đối với tội “Trộm cắp tài sản”, về phần dân sự xử vật
chứng là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận. Mức hình phạt
đề nghị đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” thấp hơn so với nhận định của
Hội đồng xét xử.
[9] Bị cáo, bị hại người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền
kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật tại Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố
tụng hình sự;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
8
Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2
Điều 51; Điều 38; Điều 55 của Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê n T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội
“Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Văn T 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài
sản” và 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tổng hợp hình phạt buộc bị
cáo Văn T phải chấp hành hình phạt chung của hai tội 24 (Hai mươi bốn)
tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giam (ngày 02/6/2022).
Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về xử vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật
Tố tụng hình sự.
- Giao quan Điều tra xử theo quy định: 01 (một) xe nhãn hiệu
Yamaha, màu vàng đen, loại Exciter, số máy G3D4E442788, số khung
RLCUG0610HY422875.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (mt) biển số xe 76F1-39686.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu
Samsung J7 Prime, màu xám đen, số seri: R58J36TNNKM, số Imei 1:
357625085632555, số Imei 2: 357651085632551, bên trong thân máy có gắn 01 thẻ
sim Vinaphone có dãy số: 89840200010928665512.
- Hoàn trả cho bị cáo Văn T: 01 (một) áo thun cổ, ngắn tay màu hồng
nhạt; 01 (một) quần Jean ống dài, màu trắng xanh; 01 (một) đôi giầy kiểu thể thao
loại có dây, màu đen trắng.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31 tháng 8 năm 2022 giữa quan
Điều tra Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Q.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1
Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Lê Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự
sơ thẩm sung ngân sách nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình
sự;
Bị cáo, bhại, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mặt tại phiên tòa
quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, ktừ ngày tuyên án; đối với bị hại, người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo
trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết bản án tại trụ sở
Ủy ban nhân dân nơi cư trú.
9
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tnguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9
Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực
hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Quảng Ngãi;
- VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi;
- Nhà tạm giữ CA huyện Q;
- Cơ quan CSĐT Công an huyện Q;
- Cơ quan THAHS Công an huyện Q;
- VKSND huyện Q;
- Chi cục THADS huyện Q;
- UBND xã R, huyện Q;
- Bị cáo; người có liên quan đến vụ án;
- Lưu hồ sơ vụ án; lưu án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Võ Chí Ngãi
Tải về
Bản án số 33/2022/HS-ST Bản án số 33/2022/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất