Bản án số 33/2021/HS-ST ngày 15/07/2021 của TAND huyện Kiến Thụy, TP. Hải Phòng về tội sản xuất, buôn bán hàng cấm

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 33/2021/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 33/2021/HS-ST ngày 15/07/2021 của TAND huyện Kiến Thụy, TP. Hải Phòng về tội sản xuất, buôn bán hàng cấm
Tội danh: 190.Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Kiến Thụy (TAND TP. Hải Phòng)
Số hiệu: 33/2021/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/07/2021
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN K
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 33/2021/HS-ST
Ngày 15 - 7 -2021
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Dịu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Sĩ Mạnh – Phó Bí thư Huyện đoàn huyện K.
Khúc ThMinh Cán bộ hưu trí thị trấn Núi Đối (nguyên Hiệu trưởng
Trường Tiểu học xã Đ).
- Thư phiên tòa: Bùi Thị Hương - Thư Tòa án nhân dân huyện K,
thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng tham
gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, thành phố
Hải Phòng xét xử thẩm công khai vụ án hình sthụ số 24/2021/TLST-HS
ngày 03 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét x số:
29/2021/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2021 Quyết định hoãn phiên tòa
số: 03 ngày 01/7/2021 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thùy L, sinh ngày 30/6/2003 tại Hải Phòng. Nơi đăng hộ
khẩu thường trú: Tổ 10 phường H, quận D, thành phố Hải Phòng. Nơi ở: Tổ 4 V,
phường H, quận D, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tdo; trình độ
văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt
Nam; con ông Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1983 Đào Thị H1, sinh năm 1985;
chưa chồng, nhưng đang sống chung như vợ chồng với Nguyễn Ngọc B, sinh
ngày 24/11/2003 01 con chung, sinh ngày 22/01/2020; tiền án, tiền sự:
Không; bị Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/3/2021; có mặt.
2. Nguyễn Ngọc B, sinh ngày 24/11/2003 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Tổ 4 V,
phường H, quận D, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tdo; trình độ
văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; n giáo: Không; quốc tịch:
2
Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc D1, sinh năm 1973 và bà Phạm Thị L1, sinh năm
1973; chưa có vợ, nhưng đang sống chung như vợ chồng với Nguyễn Thùy L, sinh
ngày 30/6/2003 và 01 con chung, sinh ngày 22/01/2020; tiền án, tiền sự: Không; bị
Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/3/2021; có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Thùy L: Ông Nguyễn Hữu T1,
là bố đẻ của bị cáo L; có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Ngọc B: Ông Nguyễn Ngọc
D1, là bố đẻ của bị cáo B; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thùy L: Nguyễn Thị Bích Liên - Trợ
giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hải Phòng; ông
Nguyễn Sỹ Cải Luật sư Văn phòng luật sư T, Đoàn luật sư thành phố Hải Phòng;
đều có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc B: Ông Bùi Văn nh - Trợ giúp
viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp Nhà nước thành phố Hải Phòng; ông
Nguyễn Sỹ Cải Luật sư Văn phòng luật sư T, Đoàn luật sư thành phố Hải Phòng;
đều có mặt.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Ngọc D1,
sinh năm 1973. Nơi trú: Tổ 4 V, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng;
mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau: Hồi 20 giờ 30 phút ngày 18/01/2021, Công an T,
huyện K kiểm tra tại khu vực sau trường Trung học phổ thông T, huyện K phát hiện
thu gicủa Nguyễn Ngọc B và Nguyễn Thùy L gồm 01 thùng carton, chứa 61 cuộn
giấy hình trụ pháo, tổng trọng lượng 8,65kg (ký hiệu M1); 01 xe nhãn
hiệu Honda Dream B kiểm soát 16F4-6303; 01 điện thoại Nokia 105 màu xanh
đen; 01 điện thoại iPhone 6S Plus màu vàng.
Khám xét khẩn cấp nơi của Nguyễn Thùy L, Nguyễn Ngọc B, thu giữ 28
que gỗ bám dính tạp chất màu xám, một đầu que màu đỏ, khổ giấy màu trắng
xám hình chữ nhật được đựng trong 03 túi nilon (ký hiệu M2); 27 túi nilon, bên
trong mảnh giấy hình chữ nhật hai mặt màu trắng, xám, kích thước 17cm x
4cm; 28 mảnh giấy hình chữ nhật, kích thước 15cm x 4,5cm.
Kết luận giám định số 40/KLGĐ-KTPL ngày 28/01/2021 của Phòng Kỹ
thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: 61 vật hình trụ tròn, vỏ
ngoài bằng giấy, giữa lỗ rỗng, một đầu bịt kín, trong lỗ rỗng được nhồi chặt
các que gỗ tẩm chất màu xám của mẫu M1 gửi giám định tổng khối lượng
8,65kg, đều pháo nổ. Khi đốt pháo gây tiếng nổ; 28 que gỗ tẩm chất màu xám
3
của mẫu M2 gửi giám định tổng khối lượng 0,027kg, que hương phát sáng.
Khi đốt hoặc kích thích không gây tiếng nổ, que cháy phát ra ánh sáng màu.
Q trình điều tra, Nguyn Thùy L khai: L B chung sống với nhau như vợ
chồng tại gia đình ông Nguyễn Ngọc D1 thuộc Tổ 4 V, phường H, quận D. Ngày
08/01/2021, L thấy một số bài đăng bán pháo trên mạng hội Facebook nên nảy
sinh ý định rủ B cùng sản xuất pháo nổ để bán lấy tiền chi tiêu nhân, B đồng
ý cùng L học cách chế tạo pháo nổ thông qua YouTube. Sau đó L đặt mua ngòi
pháo qua mạng Internet là các que pháo bông (que hương phát sáng). Ngày
10/01/2021, các ngòi pháo được giao về nhà B. L, B sử dụng các que pháo bông
làm ngòi nổ rồi bọc quấn giấy xung quanh tạo thành pháo nổ thành phẩm. Sau đó L
sử dụng tài khoản Facebook L Tây Nail” của mình đăng tin bán pháo nổ đtìm
kiếm người mua pháo. Tối ngày 17/01/2021, tài khoản Facebook mang tên
“Nguyễn Dương” nhắn tin cho L hỏi mua 61 quả pháo với giá 3.000.000 đồng
hẹn khoảng 20 giờ ngày hôm sau giao hàng khu vực T, huyện K; L đồng ý.
Sáng ngày 18/01/2021, sau khi nhận được các que pháo bông đã đặt ng trên
mạng từ trước; L và B cùng nhau tự chế tạo 61 quả pháo nổ tại nhà. Khoảng 20 giờ
30 phút cùng ngày, L, B điều khiển xe B kiểm soát 16F4-6303 chtheo số
pháo trên đến chỗ hẹn. B dùng điện thoại Nokia 105 liên lạc với Nguyễn Dương”
để giao hàng nhưng chưa kịp giao thì bị cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện.
Nguyễn Ngọc B khai nhận phù hợp với Nguyễn Thùy L. Ngoài ra Nguyễn
Thùy L, Nguyễn Ngọc B khai nhận: Ngoài lần bán pháo nổ ngày 18/01/2021, L, B
còn 02 lần khác sản xuất và bán pháo nổ cho tài khoản Facebook “Nguyễn Dương”
vào các ngày 15,16/01/2021 tại T, huyện K, thu lợi bất chính 480.000 đồng. L,
B đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền này.
Ông Nguyễn Ngọc D1 khai: Ông bố đẻ của Nguyễn Ngọc B, vào thời
gian năm 2018 B Nguyễn Thùy L tình cảm, yêu thương nhau rồi tự nguyện
chung sống với nhau tại gia đình ông thuộc Tổ 4 V, phường H, quận D. Quá trình
chung sống B, L đã một con chung, sinh ngày 22/01/2000, gia đình ông đặt tên
cháu Nguyễn Ngọc Tuấn, nhưng chưa giấy khai sinh (do B, L chưa đủ tuổi
đăng kết hôn). Thời gian chung sống cùng gia đình ông; B học tại Trung tâm
giáo dục thường xuyên quận Hải An; L nuôi con nhỏ, nên cuộc sống, sinh hoạt
hàng ngày của L B chủ yếu do vợ chồng ông chu cấp. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày
18/01/2021, B hỏi mượn điện thoại Nokia 105 màu xanh đen của ông để liên lạc,
nhưng không nói liên lạc với ai, việc gì. Ông đồng ý cho mượn, sau đó B hỏi mượn
xe tô Dream B kiểm soát 16F4-6303 của ông, nhưng ông chưa giao xe cho B
B tý điều khiển xe đi, không nói đi đâu. Khi quan Công an đến làm việc,
ông mới biết B đã dùng chiếc điện thoại xe của ông để liên lạc làm
4
phương tiện chở pháo đi bán. Đối với việc sản xuất, mua bán pháo của B, L thì gia
đình ông không biết, không tham gia.
Về vật chứng: Đối với 01 hộp giấy dấu niêm phong số 40KTPL/PC09
chứa 7,95 kg pháo nổ - mẫu M1; 0,021 kg que phát sáng - mẫu M2 (hoàn lại sau
giám định); 30 túi nilon, bên trong mảnh giấy hình chữ nhật hai mặt màu trắng,
xám, kích thước 17cm x 4cm; 28 mảnh giấy nh chữ nhật, kích thước 15cm x
4,5cm; 01 điện thoại Nokia 105 màu xanh đen, bên trong 01 sim thu giữ của
Nguyễn Ngọc B; 01 điện thoại iPhone 6S Plus màu vàng, bên trong 01 sim thu
giữ của Nguyễn Thùy L số tiền 480.000 đồng do B tự nguyện nộp lại, đều
chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện K quản theo quy định của pháp
luật. Ngoài ra quan điều tra còn thu giữ chiếc xe B kiểm soát 16F4-6303
thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Ngọc D1 (bố đẻ Nguyễn Ngọc B), nhưng ông
D1 không biết B sử dụng làm phương tiện phạm tội nên quan điều tra đã trả lại
xe cho ông D1.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội người đại
diện hợp pháp của các bị cáo thống nhất như nội dung nêu trên đồng ý với kết
luận của Viện kiểm sát nhân dân huyện K đã truy tố các bị cáo về tội “Sản xuất,
buôn bán hàng cấm". Ngoài ra các bị cáo khai: Trước, trong khi thực hiện hành vi
phạm tội, các bị cáo không bàn bạc với ai cũng như không ai i giục các bị cáo.
Hành vi của các bị cáo do các b cáo thực hiện; không ai biết, không ai tham gia
giúp sức. hiểu biết pháp luật còn hạn chế, nên các bị cáo đã sản xuất, buôn bán
pháo nổ mục đích để hưởng lợi nhuận chi tiêu nhân. Bị cáo L đã sử dụng điện
thoại iPhone 6S Plus màu vàng vào việc phạm tội; bị cáo B đã sử dụng điện thoại
Nokia 105 màu xanh đen vào việc phạm tội, nhưng chiếc điện thoại này thuộc
quyền sở hữu của ông D1 (bố đẻ bị cáo), B đã tự ý sdụng điện thoại vào việc
phạm tội mà ông D1 không biết. Các bị cáo chưa nghề nghiệp, không tài sản
riêng, đang nuôi con nhỏ. Đối với số tiền 480.000 đồng bị cáo B đã tự nguyện
nộp lại tại quan điều tra tiền chung của cả hai bị cáo. Về khối lượng 0,021
kg que phát sáng, không phải pháo nổ (hoàn lại sau giám định); 30 túi nilon, bên
trong các mảnh giấy hình chữ nhật, không còn giá trị sử dụng, các bị cáo đề
nghị tiêu hủy, đồng thời đnghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được
hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Ngọc D1 khai phù hợp với
lời khai tại quan điều tra phù hợp với lời khai của các bị cáo, ngoài ra ông
khai: Đối với chiếc điện thoại Nokia 105 màu xanh đen và chiếc xe mô tô Dream B
kiểm soát 16F4-6303 thuộc quyền sở hữu của ông mà B đã sử dụng vào việc phạm
tội, nhưng ông không biết. Quá trình điều tra, quan điều tra đã trả lại xe
cho ông đầy đủ, ông không ý kiến gì. Nay còn lại chiếc điện thoại Nokia 105 màu
5
xanh đen (đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện K quản lý), ông đề nghị xin
lại để sử dụng.
Bản cáo trạng số 26/CT-VKSKT, ngày 02 tháng 6 năm 2021 của Viện kiểm
sát nhân dân huyện K đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thùy L, Nguyễn Ngọc B về tội
“Sản xuất, buôn bán hàng cấm theo điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình
sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giquyền công tố luận tội, giữ nguyên
quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên. Đề nghị Hội
đồng xét xử:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65;
Điều 15; Điều 17; Điều 57; Điều 58; Điều 91 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thùy L: Từ 15 tháng đến 18 tháng nhưng cho
hưởng án treo; thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc B: Từ 12 tháng đến 15 tháng nhưng cho
hưởng án treo; thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng.
Về xử vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ
luật tố tụng hình sự, trả lại ông Nguyễn Ngọc D1 chiếc điện thoại Nokia 105 màu
xanh đen; tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 480.000 đồng và chiếc điện thoại
iPhone 6S Plus màu vàng; tịch thu tiêu hủy toàn bộ số pháo còn lại sau giám định
cùng các vật chứng khác (đang do Chi cục thi hành án dân sự huyện K quản).
Quan điểm của trợ giúp viên pháp Nguyễn Thị Bích Liên bào chữa cho bị
cáo Nguyễn Thùy L không tranh luận về tội danh khung hình phạt ; đồng ý với
luận tội, đề nghị của Kiểm sát viên, ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp
dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo L “Người phạm
tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm” quy
định tại điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đồng thời đề nghị xem xét
đến điều kiện, hoàn cảnh phạm tội của bị cáo thực hiện hành vi khi đang độ tuổi
dưới 18, độ tuổi mà đáng ra đang học sinh của trường Trung học, nhận thức còn
hạn chế, nhưng bị cáo đã chung sống với bị cáo B và sinh được một con chung,
nay cháu mới được 16 tháng tuổi, kinh tế khó khăn, nên bị cáo đã nảy sinh ý
định sản xuất pháo nổ để bán lấy tiền chi tiêu; mặt khác bị cáo thực hiện hành vi tại
thời điểm cận kề Tết Nguyên đán 2021. Từ những do trên đề nghị Hội đồng xét
xử xem xét cho bị cáo L được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, áp dụng hình
phạt ở mức khởi điểm của khung hình phạt là 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo
đối với bị cáo.
Quan điểm của Trợ giúp viên pháp Bùi Văn Bình bào chữa cho bị cáo
Nguyễn Ngọc B không tranh luận về tội danh và khung hình phạt ; đồng ý với luận
tội, đề nghị của Kiểm sát viên thống nhất tương tự như quan điểm bào chữa của
6
Trợ giúp viên pháp Nguyễn Thị Bích Liên bào chữa cho bị cáo L, ngoài ra đề
nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
đối với bị cáo B là Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy
định tại điểm i khoản1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Quan điểm của Luật sư Nguyễn Sỹ Cải bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thùy L
bị cáo Nguyễn Ngọc B không tranh luận về tội danh khung hình phạt ; đồng
ý với luận tội, đề nghị của Kiểm sát viên, ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử xem
xét áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệmnh sự đối với bị cáo L bị cáo
có cụ ngoại là Liệt sĩ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Các bcáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đều rất ân hận về hành vi phạm tội
của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo hưởng hình phạt nhẹ
nhất, được cải tạo ngoài hội, giúp các bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành công
dân tốt. Các bị cáo xin hứa không phạm tội nào khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của quan điều tra Công an huyện K,
Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều
tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật
Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra tại phiên tòa, các bị cáo, người đại diện hợp
pháp của các bị cáo, những người bào chữa cho các bị cáo không người nào
ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản
vi phạm hành chính, biên bản khám xét, Kết luận giám định, vật chứng thu giữ
nội dung bản Cáo trạng cùng các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án, đủ sở xác
định: Ngày 18/01/2021 bcáo Nguyễn Ngọc B bị cáo Nguyễn Thùy L đã
hành vi thủ công làm ra 8,65 kg pháo nổ thành phẩm tại gia đình thuộc phường H,
quận D, thành phố Hải Phòng mang số pháo trên bán cho người tài khoản
Facebook mang tên “Nguyễn Dương” tại khu vực trường Trung học phổ thông T
thuộc T, huyện K, thành phố Hải Phòng để hưởng lợi nhuận nhưng chưa kịp
giao hàng thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt giữ cùng vật chứng. Trọng lượng
pháo các bị cáo đã sản xuất, buôn bán là 8,65 kg pháo nổ (trong khoảng từ 06
7
kilôgam đến dưới 40 kilôgam) quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật
Hình sự. Như vậy các bị cáo Nguyễn Ngọc B, Nguyễn Thùy L đã phạm tội Sản
xuất, buôn bán hàng cấm”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật
Hình sự, đúng như Viện kiểm sát đã truy tố và đề nghị.
[3] Đây là vụ án đồng phạm, tính chất vụ án nghiêm trọng. Hành vi phạm
tội của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản của
Nhà nước đối với các loại hàng hóa cấm sản xuất, kinh doanh. Cần phải áp dụng
hình phạt nghiêm đối với các bị cáo, nhưng cũng cần xem xét đến các tình tiết khác
để áp dụng hình phạt cho phù hợp.
[4] Xét vai trò của từng bcáo: Bị cáo L người đxuất trực tiếp cùng
bị cáo B sản xuất, buôn bán pháo nổ nên L vai trò đầu vụ; bị cáo B trực tiếp
cùng bị cáo L sản xuất, buôn bán pháo nổ, nên B có vai trò thấp hơn L.
[5] Nhân thân các bị cáo: Đều không có tiền án, tiền sự.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[7.1] Bị cáo Nguyễn Thùy L: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành
khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi sviệc bị phát hiện đã cùng bị cáo B tự
nguyện giao nộp lại số tiền thu lợi bất chính 480.000 đồng; bị cáo cụ ngoại
Liệt sĩ; gia đình bị cáo có đơn xin bảo lĩnh được chính quyền địa phương xác nhận,
ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách pháp luật thực
hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân nơi trú. Đây các tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật
Hình sự. Không chấp nhận quan điểm của Trợ giúp viên pháp Nguyễn Thị Bích
Liên đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ“Người phạm tội tích cực hợp tác với
cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm” quy định tại điểm t khoản 1
Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo; bị cáo khai ra nguồn pháo là tình tiết
thành khẩn khai báo đã được xác định tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s
khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[7.2] Bị cáo Nguyễn Ngọc B: Trong quá trình điều tra tại phiên tòa thành
khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi sự việc bị phát hiện đã cùng bị cáo L tự
nguyện giao nộp số tiền thu lợi bất chính 480.000 đồng; bị cáo có ông, bà nội được
tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhì; gia đình bị cáo có đơn xin bảo lĩnh
được chính quyền địa phương xác nhận, ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp
hành đúng chính sách pháp luật thực hiện đầy đủ các nghĩa v của công dân
nơi trú. Đây các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s
khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đối với quan điểm của Trợ giúp
viên pháp lý Bùi Văn Bình đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ“Phạm tội lần
đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của
Bộ luật Hình sự đối với bị cáo không được chấp nhận; do, bcáo phạm tội lần
này tuy lần đầu nhưng không thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bởi lẽ căn cứ
8
theo quy định tại Điều 8; điểm b khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự thì “Tội phạm
nghiêm trọng tội phạm tính chất mức độ nguy hiểm cho hội mức
cao nhất của khung hình phạt...từ trên 03 năm đến 07 năm ”, trên thực tế
người sản xuất pháo nổ và người sử dụng pháo nổ đã xảy ra tình trạng thiệt hại đến
tính mạng, sức khỏe của con người. Như vậy hành vi sản xuất pháo nổ hành vi
bán pháo nổ của bcáo cho người khác sử dụng được xác định nguy hiểm,
tính chất nghiêm trọng.
[8] Sau khi xem xét vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân các bị cáo; lời luận tội và đề nghị của
kiểm sát viên; quan điểm của những người bào chữa cho các bị cáo. Hội đồng xét
xử thấy rằng: Trong vụ án này có đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, các bị
cáo thực hiện hành vi phạm tội trong khi bị cáo L độ tuổi 17 năm 6 tháng 19
ngày tuổi (là người dưới 18 tuổi), bị cáo B độ tuổi 17 năm 01 tháng 25 ngày tuổi
(là người dưới 18 tuổi), nhận thức còn hạn chế, hoàn cảnh của các bị cáo đang nuôi
con nhỏ; bị cáo B đang học sinh, chưa việc làm, không thu nhập ổn định,
sống phụ thuộc gia đình; các bị cáo có nhân thân tốt, 01 tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình squy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nhiều
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ
luật Hình sự, không tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; nơi trú
ràng; mặt khác mục đích của các bị cáo bán pháo nổ để lấy tiền chi tiêu nhưng
chưa bán được đã bị lực lượng Công an phát hiện bắt giữ là ngoài ý muốn của các
bị cáo; căn cứ theo quy định tại Điều 15 của Bộ luật Hình sự thì hành vi của các bị
cáo thuộc trường hơp phạm tội chưa đạt. Do đó không cần thiết bắt các bị cáo chấp
hành hình phạt giam chỉ cần áp dụng hình phạt nhưng cho hưởng án treo
đối với các bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên và những người bào chữa cho các
bị cáo tại phiên tòa cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo phòng ngừa tội phạm.
Quan điểm của Trợ giúp viên pháp Nguyễn Thị Bích Liên đề nghị áp dụng
hình phạt đối với bị cáo L mức khởi điểm của khung hình phạt 12 tháng
nhưng cho hưởng án treo, không được Hội đồng xét xử chấp nhận, bị cáo L
người đề xuất, nên cần áp dụng mức nh phạt đối với bcáo như đề nghị của
Kiếm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.
[9] Về hình phạt bổ sung: Khi các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đều
người dưới 18 tuổi, không tài sản riêng; căn cứ theo quy định tại khoản 6 Điều
91 của Bộ luật Hình sự, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo phù
hợp.
[10] Về xử lý vật chứng: Chiếc xe mô tô B kiểm soát 16F4-6303 mà cơ quan
điều tra đã thu giữ thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Ngọc D1 (bố đẻ bị cáo B),
do ông D1 không biết c bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội, nên quan
9
điều tra đã trả lại cho ông D1 là đúng pháp luật. Đối với các vật chứng đang do Chi
cục Thi hành án dân sự huyện K quản lý, gồm: Chiếc điện thoại iPhone 6S Plus thu
giữ của bị cáo L, nhưng L đã sdụng chiếc điện thoại này vào việc phạm tội, nên
cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước; tuy bị cáo B đã sử dụng chiếc điện thoại
Nokia 105 màu xanh đen vào việc phạm tội, nhưng chiếc điện thoại này thuộc
quyền sở hữu của ông D1 (bố đẻ bị cáo), trước khi cho B mượn điện thoại, ông D1
không biết B sử dụng vào việc phạm tội, nên cần trả lại cho ông D1. Ngoài ra còn
01 hộp giấy dấu niêm phong số 40KTPL/PC09 chứa 7,95 kg pháo nổ - mẫu
M1; 0,021 kg que phát sáng - mẫu M2 (hoàn lại sau giám định); 30 túi nilon, bên
trong mảnh giấy hình chữ nhật hai mặt màu trắng, xám, kích thước 17cm x
4cm; 28 mảnh giấy hình chữ nhật, kích thước 15cm x 4,5cm; xét đây vật cấm
lưu hành và vật dụng của các bị cáo không còn giá trị sử dụng, các bị cáo đnghị
tiêu hủy, nên tịch thu tiêu hủy. Về stiền 480.000 đồng các bị cáo đã nộp; xét
số tiền này do các bị cáo thu lợi bất chính mà có, cần tịch thu nộp vào ngân sách
Nhà nước, theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật Hình sự Điều 106 của Bộ luật
Tố tụng hình sự.
[11] Trong vụ án này, người sử dụng tài khoản facebook “Nguyễn Dương”
có hành vi đặt mua pháo nổ của các bị cáo ngày 18/01/2021 02 lần các bị cáo
bán pháo cho người này vào các ngày 15, 16/01/2021, quan điều tra chưa làm
rõ được nên tách ra để xử lý sau là phù hợp.
[12] Đối với ông Nguyễn Ngọc D1 chủ sở hữu xe mô B kiểm soát
16F4-6303, nhưng ông D1 không giao xe cho bị cáo B điều khiển không biết
các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nên quan điều tra không xử đúng
pháp luật.
[13] Các bị cáo chung sống với nhau như vợ chồng con sinh ngày
22/01/2020. Do bị cáo B chưa đủ 18 tuổi, nên hành vi của B không cấu thành tội
“Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi
đến dưới 16 tuổi”, nên Cơ quan điều tra không xử lý là đúng pháp luật.
[14] Về án phí: Các bị cáo không thuộc trường hợp được miễn án phí nên
phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Do bị cáo B là người
dưới 18 tuổi, nên người đại diện hợp pháp của bị cáo B nộp thay.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
15; Điều 17; Điều 57; Điều 58; Điều 65; Điều 91 của Bộ luật Hình sự:
10
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thùy L: 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng
án treo về tội "Sản xuất, buôn bán hàng cấm", thời gian thử thách 30 (ba mươi)
tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bcáo Nguyễn Ngọc B: 12 (mười hai) tháng nhưng cho hưởng
án treo vtội "Sản xuất, buôn bán hàng cấm", thời gian thử thách 24 (hai mươi
bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thùy L, bị cáo Nguyễn Ngọc B cho Ủy ban nhân dân
phường H, quận D, thành phố Hải phòng giám sát giáo dục trong thời gian thử
thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện
theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ
02 lần trở lên thì Tòa án thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải
chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về xử vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ
luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 480.000đ (bốn
trăm tám mươi nghìn đồng) chiếc điện thoại iPhone 6S Plus, bên trong 01
sim. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số pháo nổ que pháo đã được niêm phong trong
hộp giấy dấu niêm phong số 40KTPL/PC09, bên trong chứa 7,95kg mẫu M1;
0,021kg mẫu M2 (hoàn lại sau giám định); 30 túi nilon, bên trong mảnh giấy
hình chữ nhật; 28 mảnh giấy hình chữ nhật. Trả lại ông Nguyễn Ngọc D1 chiếc
điện thoại Nokia 105, bên trong 01 sim ( toàn bộ chi tiết theo biên bản giao
nhận vật chứng biên lai thu tiền số 0002903 ngày 03 tháng 6 năm 2021 tại Chi
cục Thi hành án dân sự huyện K).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng
hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội, buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án
phí hình sự sơ thẩm, trong đó ông Nguyễn Ngọc D1 người đại diện hợp pháp
của bị cáo B nộp thay cho bị cáo B.
Về quyền kháng cáo: Các bcáo, người đại diện hợp pháp của các bị cáo,
những người bào chữa cho các bị cáo quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày,
kể từ ngày tuyên án thẩm; người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ
của họ trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
11
Nơi nhận:
- TANDTP Hải Phòng;
- VKSNDTP Hải Phòng;
- VKSND huyện K;
- Công an huyện K ;
- Chi cục THA dân sự + Sở tư pháp;
- PV 06; PC 10;
- Ủy ban nhân dân phường H;
- Các bị cáo; người bào chữa cho các bị cáo;
- Người đại diện hợp pháp của các bị cáo;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- Lưu hồ sơ vụ án.
- Lưu HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vũ Thị Dịu
Tải về
Bản án số 33/2021/HS-ST Bản án số 33/2021/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất